MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
2. NỘI DUNG.......................................................................................................3
2.1.
Cơ
sở
lí
luận....................................................................................................3
2.1.1. Hứng thú và vai trò của hứng thú trong học tập.........................................3
2.2.2. Phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực....................................4
2.2. Thực trạng vấn đề ..........................................................................................4
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề..............................................6
2.3.1. Xác định vai trò nâng cao hứng thú học tập của học sinh thông qua việc sử
dụng phương pháp/ Kĩ thuật dạy học tích cực khi dạy bài dạy bài “Truyện An
Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”.............................................................6
2.3.2. Xác định những nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng nâng cao hứng thú
học tập của học sinh thông qua việc sử dụng phương pháp/ Kĩ thuật dạy học tích
cực khi dạy bài dạy bài “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng
Thủy”.....................................................................................................................6
2.3.3. Vận dụng cụ thể vào bài “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng
Thủy” ....................................................................................................................7
2.3.3.1. Tạo tâm thế, gợi hứng thú học tập cho học sinh bằng kênh du lịch và âm
nhạc để giới thiệu bài mới.....................................................................................8
2.3.3.2. Nâng cao hứng thú học tập của học sinh thông qua việc sử dụng phương
pháp dạy học theo nhóm để làm rõ trọng tâm kiến thức.....................................10
2.3.4. Sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy và kĩ thuật phòng tranh để củng cố, khắc
của niềm yêu thích, sự say mê đã làm nên động lực thúc đẩy, nuôi dưỡng sự cố
gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi người nói chung và của các em học
sinh nói riêng. Với việc lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học, người
giáo viên phải luôn học hỏi trau dồi tri thức cũng như việc phải luôn linh hoạt,
sáng tạo trong vận dụng phương pháp/ kĩ thuật dạy học tích cực để tạo niềm
hứng thú, sự say mê học tập cho các em học sinh.
Môn Văn là một môn học có ưu thế lớn trong việc cung cấp cho học sinh
những tri thức về xã hội cuộc sống và con người, từ đó giúp các em phát triển
nhân cách một cách toàn diện. Thế nhưng trên thực tế học sinh bây giờ không
thích học văn, ngại học văn vì các em phần lớn đều cho rằng học môn này cần
phải có năng khiếu để cảm thụ văn chương, thêm vào đó những năm gần đây học
sinh đều chọn các môn học tự nhiên vừa có nhiều trường để lựa chọn, ra trường
dễ xin việc mức thu nhập lại cao, rất ít học sinh lựa chọn học các môn xã hội sau
ra trường không xin được việc làm. Nhiều giáo viên dạy văn nhận thấy trong giờ
Ngữ văn các em thường không tập trung, có tâm lí ngại học văn, hoặc học một
cách đối phó: để có điểm, để không phải thi lại, để thi tốt nghiệp... Còn những học
sinh thực sự say mê và yêu thích môn văn thì rất ít.
Xuất phát từ những lí do trên, trên cơ sở tiếp thu các lớp tập huấn về kiểm
tra đánh giá theo năng lực của học sinh do sở giáo dục tổ chức, cộng với bộ Giáo
Dục và Đào Tạo mở nhiều diễn đàn về việc dạy học các môn theo hướng phát
triển năng lực của học sinh trong đó có môn Ngữ Văn. Qua học tập, tìm hiểu tôi
đã bắt tay vào viết sáng kiến kinh nghiệm: Nâng cao hứng thú học tập của học
sinh thông qua việc sử dụng phương pháp/ Kĩ thuật dạy học tích cực khi
dạy bài “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”, Ngữ văn 10
tập 1. Với quan điểm “lấy người học làm trung tâm” và mong muốn sử dụng kĩ
thuật dạy học tích cực để góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy. Đặc biệt, điều
này còn có tác dụng trong việc giáo dục đạo đức và giáo dục truyền thống lịch
sử, khơi gợi lòng yêu nước, tự hào dân tộc...đối với học sinh ngày nay.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Khơi gợi hứng thú, góp phần nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh khi
- Đặc biệt là phương pháp thực nghiệm (theo dõi hoạt động học của học
sinh nhằm tìm hiểu kĩ về mức độ hứng thú học tập đối với bộ môn Ngữ văn, sự
tích cực, chủ động trong học tập với kiểm tra, đánh giá).
2
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Hứng thú và hứng thú trong học tập của học sinh
Trước khi đến với đề tài này tôi luôn trăn trở và suy nghĩ: làm thế nào để
kiến thức có thể neo đậu trong tâm trí của học sinh một cách tự nhiên mà không
phải là sự áp đặt. Điều đó chỉ có thể đạt được khi các em có hứng thú, vậy hứng
thú là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2002, định nghĩa
“hứng thú là sự ham thích”. [1]
Luật Giáo dục có nêu:“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. [2]
Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu và trải qua nhiều lần thực
nghiệm đã chứng minh rằng khi có được sự say mê hứng thú trong bất kì công
việc gì con người sẽ làm việc có hiệu quả hơn, thành công hơn. Hứng thú còn có
tác dụng chống lại sự mệt mỏi, giảm bớt sự căng thẳng và điều quan trọng hơn
hứng thú sẽ tạo nên sức lan tỏa sâu rộng. Chính vì vậy, khi có hứng thú các em
sẽ ham học, kiên trì làm bài tập, không nản chí trước câu hỏi khó, không những
thế trong các giờ học, các em tích cực, hăng hái phát biểu xây dựng bài thông
qua việc trả lời của bạn trong lớp chưa đúng hoặc còn thiếu, chủ động nêu câu
hỏi, đưa ra những thắc mắc để các bạn và thầy cô cùng trả lời, giải đáp. Và như
hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt
động thực hành của học sinh, dẫn tới việc lĩnh hội vững chắc nội dung bài học,
hình thành thế giới quan và phát triển năng lực nhận thức của học sinh. Theo
quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri
thức. Để làm được điều đó thì người giáo viên cần phải có những phương pháp
dạy học tích cực. Việc dạy học theo những phương pháp dạy học tích cực là vấn
đề thật cần thiết và đáng quan tâm hiện nay.
Phương pháp dạy học tích cực được hiểu là phương pháp dạy học phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Có nhiều phương pháp dạy
học tích cực nhưng phương pháp dạy học thường được các giáo viên sử dụng
nhiều là phương pháp hoạt động nhóm ” [3].
* Kỹ thuật dạy học:
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên
trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy
học. Hay nói cách khác đó là cách thức hoạt động dạy học, tổ chức hoạt động
giáo dục để bảo đảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy.
Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học.
Trong mỗi phương pháp dạy học có nhiều kĩ thuật dạy học khác nhau. Có những
kĩ thuật dạy học chung, có những kĩ thuật dạy học đặc thù của từng phương pháp
dạy học.
Kĩ thuật dạy học tích cực là những kĩ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt
trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy học như:
Kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật động não, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật sơ đồ tư
duy, kĩ thuật phòng tranh,.... sẽ cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập do
giáo viên thiết kế, tổ chức và hướng dẫn; sẽ huy động, khai thác tối đa vốn hiểu
biết và kinh nghiệm sống của các em; tạo cơ hội, động viên, khuyến khích các
em bày tỏ ý kiến cá nhân về tình yêu và thể hiện ý thức trách nhiệm đấu tranh
bảo vệ đất nước.
Đó chính là cơ sở tôi sử dụng phương pháp/ kĩ thuật dạy học tích cực để
khai thác nội dung tác phẩm “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng
7
15,9
19
43,2
18 40,9
10C7
40
8
20
13
32,5
19 47,5
Tổng
84
15 17,9
32
38,1
37 44
Như vậy, tổng số học sinh được điều tra là 84 em, kết quả điều tra cho thấy:
chỉ 17,9% tổng số học sinh được điều tra là rất có hứng thú với bài học, trong
khi đó có tới 44% tổng số học sinh được điều tra không thích học.
Về nguyên nhân chủ yếu làm học sinh chưa hứng thú với bài:
“Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”.
Nguyên nhân
Do tiết học
Do kiến thức
Do đó là
Ý kiến khác
Lớp
Sĩ
13
32,5
03
7,5
Tổng
84
36
42,9
18
21,4
25
29,8
05
5,9
Từ kết quả điều tra trên cho thấy, học sinh chưa có hứng thú học tập với bài
học do nhiều nguyên nhân. Song nguyên nhân chủ yếu nhất (chiếm tới 42,9%
tổng số học sinh được điều tra) là do chất lượng giảng dạy của giáo viên còn hạn
chế, chưa thực sự đầu tư cho chuyên môn dẫn đến tiết học đơn điệu, khô khan
buồn tẻ… do đó không đủ sức gây được sự chú ý, hấp dẫn từ phía người học.
Vậy làm thế nào để các em có thể lĩnh hội, vận dụng được những kiến thức
bài học một cách có hệ thống, mà không bị đơn điệu, khô khan, nhàm chán.
Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn kiến thức, phương pháp, hình
thức tổ chức phù hợp với bài học, với đối tượng học sinh, đặc biệt phải chú ý
đến nhu cầu tư duy, tâm lý muốn khám phá cái mới, cái độc đáo ở học sinh trung
học phổ thông. Chính vì vậy, ở năm học 2018 - 2019, tôi đã sử dụng phương
pháp/ kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh
5
trong tiết học môn văn và bước đầu đã thu được những tín hiệu đáng mừng từ
dụng phương pháp/ Kĩ thuật dạy học tích cực khi dạy bài “Truyện An
Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”
Để vận dụng thành công khi dạy bài “Truyện An Dương Vương và Mị
Châu, Trọng Thủy”, tôi thực hiện những bước sau:
Bước 1:
Giáo viên chuẩn bị các hình ảnh, video... có liên quan đến nội dung bài học.
Giáo viên lựa chọn phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp để khai thác
nội dung bài học.
Bước 2:
Để giới thiệu phần tiểu dẫn học sinh theo dõi hình ảnh (hoặc xem video)
hoặc nghe đoạn lời bài hát có liên quan đến nội dung bài học.
6
Thảo luận theo câu hỏi, hướng dẫn của giáo viên bằng các phương pháp
và kĩ thuật dạy học phù hợp như kĩ thuật động não, kĩ thuật đặt câu hỏi.
Bước 3:
Để khai thác làm rõ trọng tâm kiến thức học sinh thảo luận theo các câu hỏi,
hướng dẫn của giáo viên bằng các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp như kĩ
thuật dạy học các mảnh ghép, kĩ thuật động não, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật
phòng tranh ... hoặc hoàn thiện câu chuyện theo cách giải quyết của bản thân.
Giáo viên theo dõi, lắng nghe, phân tích và tổng hợp các ý kiến của học
sinh trả lời; đồng thời, nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận.
2.3.3. Vận dụng cụ thể vào bài “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng
Thủy”
2.3.3.1. Tạo tâm thế, gợi hứng thú học tập cho học sinh bằng kênh du lịch
và âm nhạc để giới thiệu bài mới
Trong dạy học, giáo viên không nên bắt đầu bằng những kiến thức xơ
cứng, công thức mà chúng ta hãy bắt đầu từ việc tạo tâm thế học tập cho học
An Dương Vương đang ngồi đọc kinh cầu
Nước Âu Lạc không thêm lần đỗ vỡ.
Tiếng thở dài âm vang lời Cao Lỗ
Lời can ngăn còn văng vẳng bên tai
Gió cảm thương cũng buông tiếng bi ai
Gạt nước mắt trở về nơi cố quận
Thần Kim Quy muôn đời còn uất hận
Chiếc nỏ thần với ngàn vạn người dân
Trang bi sử ai chép lại dương trần
Nắng buồn bã chiếu vào Cung Hoàng Hậu
Khói lãng đãng quyện bay Bàn Thờ Mẫu
Gốc da già làm gió quạt Mị Châu
Đứng trong am là Tượng Đá Cụt Đầu
Ai khéo vẽ tô lên nhiều đau xót
Bia đá với hai Hố Rồng ngồi khóc
Tháng năm dài mưa nắng vẫn cạn khô
Một hố kia nước mắt chứa đầy hồ
Cứ mê mải chép vào trang sử ký
Em đưa anh thăm Giếng Ngọc Trọng Thủy
In bóng hình kiều diễm của Mị Châu
8
Cuộc tang thương tình vẫn còn mãi đượm màu
Những viên ngọc sáng long lang đến lạ
Mời anh xem những Trống Đồng, Đồ Đá
Những quá trình khai quật ngàn năm qua
Những tên đồng hào quang tỏa chói lòa
Phút mặc niệm tri ân người dựng nước
Trước Cổng Thành ta trao lời hẹn ước
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp.
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm.
9
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ nhận
thức hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn
thành nhiệm vụ ở vòng 2 với mức độ cao hơn).
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân.
* Cách tiến hành
Kĩ thuật mảnh ghép được tiến hành qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1. “Nhóm chuyên gia”: Lớp học được chia thành các nhóm,
mỗi nhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu chuyên sâu 1 phần nội dung học tập
khác nhau nhưng có sự liên quan chặt chẽ với nhau. Sau 1 thời gian nhất định
thảo luận, mỗi thành viên trong nhóm đều nắm vững và trình bày được kết quả
của nhóm cho các bạn ở nhóm khác.
- Giai đoạn 2. “Nhóm mảnh ghép”: Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai
đoạn 1, mỗi học sinh ở các “nhóm chuyên gia” khác nhau tập hợp lại thành
nhóm mới là “nhóm mảnh ghép”. Và “nhóm mảnh ghép” nhận được một nhiệm
vụ mới, nhiệm vụ này mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã được
tìm hiểu từ các “nhóm chuyên gia” thành một “bức tranh” tổng thể.
* Vận dụng cụ thể:
Bước 1: Giao nhiệm vụ:
* Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên gia”:
- Giáo viên:
+ Chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm 14 học sinh, vị trí ngồi được đánh số
từ 1,2,3 để hình thành “nhóm mảnh ghép” ở giai đoạn 2.
+ Trong nhóm cử 01 nhóm trưởng điều hành chung, 01 thư kí để ghi chép,
01 người liên lạc với giáo viên khi cần.
thực hiện mưu đồ của cha giống Trọng Thủy không? Em đứng ở vị thế người
dân nước Triệu Đà thì việc làm của Trọng Thủy như vậy đúng hay sai? )
- Theo em vì sao Trọng Thủy lại nhảy xuống giếng tự tử? Bi kịch của
Trọng Thủy là gì?
- Từ nhân vật Trọng Thủy, em rút ra bài học gì cho bản thân trong cuộc
sống hôm nay? ( Nhất là đối với bạn nam)
- Học sinh:
+ Ổn định vị trí nhóm được phân công
+ Nhận nhiệm vụ và hoàn thành trong thời gian 5 - 7 phút.
* Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”:
- Giáo viên:
+ Yêu cầu học sinh mang số giống nhau ở các “nhóm chuyên gia” tập
hợp lại thành nhóm mới là “nhóm mảnh ghép”.
+ Nhiệm vụ của các nhóm: Bài học lịch sử từ truyền thuyết An Dương
Vương và Mị Châu, Trọng Thủy.
- Học sinh:
+ Ổn định vị trí theo nhóm mới.
+ Nhận nhiệm vụ và hoàn thành trong thời gian 3 - 5 phút.
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
- Học sinh làm việc theo nhóm được phân công; ghi nội dung thảo luận
vào giấy Ao
11
Học sinh làm việc theo “nhóm mảnh ghép”
Học sinh làm việc theo “nhóm chuyên gia”
- Giáo viên quan sát, hỗ trợ
Bước 3: Trình bày kết quả, bổ sung:
- Giáo viên yêu cầu đại diện nhóm lên trình bày trong 1- 2 phút.
xưa viết về quá trình An Dương Vương xây thành Cổ Loa và sự thất bại của nhà
nước Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà trong lịch sử dựng nước, giữ nước
thời xa xưa, nhưng lại gợi ra nhiều vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay như:
vấn đề chủ quyền, lãnh thổ, bài học cảnh giác, cách xử lí mối quan hệ riêng chung, tình cha con và trách nhiệm của cá nhân trước vận mệnh dân tộc, đất
nước...
+ Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân
tộc. Nhưng vụ Biển Đông năm 2014, Trung Quốc đã hạ đặt giàn khoan 981 vào
vùng biển của Việt Nam. Đây là vấn đề thời sự, liên quan đến vận mệnh dân tộc.
Giáo viên có thể liên hệ để rút ra bài học về tinh thần mất cảnh giác và bi kịch
nước mất nhà tan trong bài với thực tiễn đất nước hôm nay; đồng thời gợi mở
vấn đề về vai trò của người đứng đầu đất nước, trách nhiệm của cá nhân trước
vận mệnh quốc gia, dân tộc để học sinh trao đổi, chia sẻ, ứng đáp. Thông qua
đó, học sinh sẽ nhận thức rõ về vai trò, trách nhiệm, vận mệnh và những thách
thức, khó khăn của đất nước để có thể thay đổi suy nghĩ, nhận thức và có hành
vi ứng xử về những vấn đề tương tự trong cuộc sống.
+ Giáo viên giúp học sinh liên tưởng và nhận thức rõ: Kẻ thù không chỉ
xâm chiếm đất nước bằng lực lượng quân sự mà bằng trăm ngàn mưu kế thâm
độc như: đánh bằng chính tị, kinh tế, văn hóa,... Vì vậy để tránh nguy cơ mất
nước, ta phải luôn tỉnh táo, khôn ngoan nhận ra, ngăn chặn và sẵn sàng đối phó
với những âm mưu thâm độc của kẻ thù.
13
Từ nhân vật Mị Châu rút ra bài học cho thế hệ trẻ hôm nay: Trong
tình yêu phải luôn có suy nghĩ chín chắn, không nên yêu vội vàng đốt cháy giai
đoạn bỏ qua sự khuyên ngăn của bạn bè, bố mẹ, tin tưởng tuyệt đối và sống hết
mình vì người yêu,... dẫn đến những sai lầm đáng tiếc.
Nhận xét:
Qua áp dụng kĩ thuật mảnh ghép trong hoạt động này tôi nhận thấy kĩ thuật
này tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú. Học sinh được tham gia vào các nhiệm
trong quá trình tiếp nhận kiến thức. Tiết học kết thúc nhẹ nhàng, các em có cảm
giác chờ đợi những câu chuyện cùng những hình ảnh “biết nói” ở những tiết
học tiếp theo.
14
Ví dụ:
Bước 1: Giáo viên sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy củng cố nội dung bài học.
Bước 2: Sử dụng kĩ thuật phòng tranh
Từ sơ đồ tư duy của giáo viên, để ghi nhớ kiến thức, giáo viên yêu cầu
học sinh về nhà vẽ sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình. Sau đó mang treo
ở góc học tập của từng tổ để các bạn cùng nhau “thưởng lãm tranh”, cùng
nhận xét và một lần nữa ghi nhớ nội dung bài học.
.
15
16
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối với hoạt động giáo dục
Bản thân tôi đã áp dụng phương pháp dạy học tại các lớp 10C4, 10C7 tại
trường THPT Triệu Sơn 5 đều đạt được kết quả như mong đợi có sức lan tỏa ở
tất cả các giờ dạy. Cụ thể là:
Học sinh hứng thú say mê, tích cực, chủ động suy nghĩ trong việc tìm tòi
40
84
84
Rất thích
SL
7
23
8
22
15
45
%
15,9
52,2
20
55
17,9
53,6
Mức độ hứng thú
Bình thường
không thích
SL
19
16
13
15
32
tài, ở tiết học sau tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra 15 phút và kết quả thu
được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2: Thống kê kết quả kiểm tra 15 phút của học sinh sau khi học bài:
“Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”
17
Lớp
10C4
10C7
Tổng
Sĩ số
44
40
84
9.0 - 10.0
SL
%
02
4,5
03
7,5
05
6
7.0 – dưới 9.0 5.0 - dưới 7.0
SL
vững tin bước vào giờ dạy. Sự thành công của giờ học càng thôi thúc tôi tìm tòi
tư liệu, phương pháp/kĩ thuật dạy học mới. Đối với tôi,“mỗi ngày đến trường là
một ngày vui”.
Điều làm tôi vui mừng hơn nữa là những đồng nghiệp dạy môn Ngữ văn
và thậm chí các môn khoa học xã hội khác cũng đang nghiên cứu phương pháp
dạy học này để áp dụng vào bài dạy của mình.
Đặc biệt, tại đơn vị trường THPT Triệu Sơn 5, lãnh đạo nhà trường luôn
ủng hộ tôi trong cách cải tiến phương pháp, tăng cường sử dụng đồ dùng dạy
học có kết hợp với phương tiện, kĩ thuật dạy học tích cực, đã góp phần quan
trọng vào quá trình thay đổi thái độ của học sinh về môn Ngữ văn. Qua đó học
sinh cũng thấy văn học rất gần với đời sống, từ đó giúp cho các em ngày càng
yêu thích đam mê văn chương.
18
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Nâng cao hứng thú học tập của học sinh thông qua việc sử dụng phương
pháp/ Kĩ thuật dạy học tích cực khi dạy bài “Truyện An Dương Vương và Mị
Châu, Trọng Thủy”sẽ:
- Kích thích sự phát triển tư duy lô gic, rèn luyện nhiều kỹ năng sống cho học sinh.
- Khơi gợi hứng thú, kích thích, bồi dưỡng tình yêu đối với môn văn.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác dạy học.
Tuy nhiên đề tài vẫn có những hạn chế: Phạm vi đề tài chỉ thực hiện trong
bài dạy “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”. Vì vậy, hướng
phát triển tiếp tục của đề tài sẽ là: vận dụng các phương pháp/ Kĩ thuật dạy học
tích cực vào dạy học môn Ngữ văn THPT ở cả 3 khối lớp 10, 11, 12.
3.2. Kiến nghị
Qua tổ chức thực hiện cũng như qua kết quả nghiên cứu bước đầu từ thực
1. Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng, 2002.
2. Luật giáo dục năm 2005 ( điều 28 mục 2).
3. Modul THPT 18; Phương pháp dạy học tích cực.
4. Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học – Bộ giáo dục và
đào tạo theo Dự án Việt – Bỉ. NXB Đại học sư phạm.
5. Nguồn internet.
6. Trần Nho Thìn (Chủ biên) (2006), Phân tích tác phẩm Ngữ văn 10, Nxb Giáo
dục.
20