Một số biện pháp hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở trường mầm non điền thượng huyện bá thước - Pdf 57

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các biện pháp hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ 5 – 6
tuổi ở trường mầm non Điền Thượng huyện Bá Thước.
2.3.1. Biện pháp 1: Giáo viên tự trau dồi kiến thức làm nền tảng cơ
bản để định hướng lựa chọn các nội dung dạy trẻ.
2.3.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch đưa vào chương trình trong
năm một cách phù hợp.
2.3.3. Biện pháp 3: Hình thành biểu tượng thông qua các hoạt động
hằng ngày gắn với sinh hoạt của trẻ.
2.3.3.1: Hình thành biểu tượng về ngày và các khoảng thời gian trong
ngày như: Sáng, trưa, chiều, tối, đêm, dạy trẻ nắm được số lượng và
trình tự diễn ra khoảng thời gian đó
2.3.3.2: Hình thành biểu tượng về tuần lễ và các ngày trong tuần, trẻ
nắm được số lượng và trình tự diễn ra các ngày trong tuần lễ. Hình
thành biểu tượng về hôm qua, ngày mai cho trẻ.
2.3.3.3: Hình thành biểu tượng về các mùa trong năm: Xuân, hạ, thu,
đông, dạy trẻ nắm số lượng, trình tự diễn ra các mùa trong năm.
2.3.4. Biện pháp 4: Hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ thông
qua công tác tuyên truyền, phối hợp giáo dục nhà trường và gia



1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài:
Trong chiến lược phát triển đất nước thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác
định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" [2], đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
sự phát triển. Do vậy muốn có được một ngành giáo dục phát triển thì chúng
ta phải giáo dục con người ngay từ ngành học mầm non. Vì đây là bậc học đầu
tiên, đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa
và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ vào trường phổ thông một cách vững
vàng.
Để giáo dục trẻ mầm non một cách hiệu quả, ngành học đã cụ thể hóa nội
dung giáo dục thành các môn học như: giáo dục âm nhạc, giáo dục thể chất, tạo
hình, tìm hiểu môi trường xung quanh, hình thành các biểu tượng toán sơ đẳng,
cho trẻ làm quen với văn học. Trong đó việc hình thành các biểu tượng toán học
là một nội dung quan trọng không thể thiếu được trong giáo dục mầm non. Vì
việc hình thành các biểu tượng toán sơ đẳng là nền móng cho việc học toán và
vận dụng toán sau này của con người.[1]
Nội dung hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ được áp dụng cho tất
cả các lứa tuổi, tùy thuộc vào độ tuổi mà có nội dung phù hợp từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp. Bao gồm 4 vấn đề lớn sau: Các biểu tượng về tập hợp, số
lượng ; Các biểu tượng về kích thước; Các biểu tượng về định hướng không
gian; Các biểu tượng về hình dạng.
Như vậy còn "Các biểu tượng về thời gian" ở các trường mầm non chưa
được chú trọng thỏa đáng. Giáo viên chỉ lướt qua nội dung này trong các hoạt
động như "Tìm hiểu môi trường xung quanh" và mới chỉ dừng lại ở mức độ trò
chuyện, rất trừu tượng. Do vậy khả năng nhận biết nhạy cảm về thời gian còn rất
kém, nó mờ nhạt và rất khó với trẻ. Đây là một hạn chế rất lớn của những người
xây dựng chương trình, là một vấn đề cần được giải quyết thực tế nhận thức của
trẻ với "Nội dung hình thành biểu tượng thời gian" trong chương trình hình

hướng thời gian.
Cuộc sống của con người luôn gắn với thời gian, chỉ riêng ở con người
mới có sự phân biệt quá khứ, hiện tại và tương lai. Để sống, con người cần
những đồ vật khác nhau, còn để tạo ra đồ vật con người cần có thời gian. Tức là
thời gian đối với con người như là một vật báu.
Thời gian mang tính chất đặc trưng: Thời gian luôn luôn chuyển động, sự
chuyển động của thời gian luôn diễn ra theo một hướng từ quá khứ → hiện tại
→ tương lai. Thời gian không bao giờ quay ngược trở lại, không bao giờ dừng
lại, không nhìn thấy và không sờ mó được [3].
Từ những tính chất đặc trưng trên của thời gian, vậy ta phải dạy trẻ tri
giác và định hướng thời gian như thế nào để thời gian được trẻ tri giác một cách
gián tiếp thông qua các đơn vị đo thời gian. Cụ thể là mối quan hệ của những
hiện tượng luôn lặp đi lặp lại trong cuộc sống và hoạt động. Các thước đo thời
gian (giây, phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm). Là một hệ thống chặt chẽ nhất
định, các thước đo thời gian cho trẻ. Việc cho trẻ làm quen với các đơn vị đo
thời gian cần được tiến hành theo một hệ thống chặt chẽ, làm sao cho những
kiến thức về khoảng thời gian mà ta cho trẻ tiến hành làm quen sẽ trở thành cơ
sở để trẻ làm quen với những đơn vị thời gian tiếp theo và qua đó cho trẻ thấy
được những tính chất cơ bản của thời gian như: Tính chuyển động, tính liên tục,
tính không quay ngược giờ, còn sớm. Vốn từ biểu thị thời gian phát triển nhanh.
Trong quá trình giao lưu và hoạt động của trẻ được bắt đầu quan tâm đến ý
nghĩa của các từ: Hôm qua, hôm nay, ngày mai, ngày kia. Vậy quá trình hình
thành biểu tượng thời gian và sự định hướng thời gian là một quá trình tâm lý
phức tạp. Sự định hướng thời gian ở trẻ được hình thành không giống nhau. Cho
nên đề tài này đi sâu nghiên cứu tìm hiểu thực trạng việc hình thành biểu tượng
thời gian cho trẻ, để nắm được đặc điểm của trẻ. Từ đó mà ta đưa ra được nội
dung, hệ thống các phương pháp và biện pháp dạy trẻ định hướng thời gian một
cách phù hợp.
Thực tế hiện nay cho thấy, trong chương trình dạy trẻ những biểu tượng
toán ở các trường mầm non, khi tổ chức tiết học có nội dung dạy trẻ định hướng

Cơ sở vật chất nhà trường diện tích chật hẹp, còn thiếu các phòng chức
năng như: Phòng âm nhạc, phòng nghệ thuật, thiết bị dạy học đầu tư không đồng
bộ, việc khai thác sử dụng đồ dùng, đồ chơi đạt hiệu quả chưa cao.
- Thực trạng về chương trình:
Cho đến hiện nay, việc hình thành biểu tượng định hướng thời gian cho
trẻ ở các trường mầm non chưa được quan tâm đúng mức như là mong muốn
của trẻ. Nội dung hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi được
quy định trong chương trình còn rất sơ sài, kiến thức trang bị cho trẻ đơn lẻ,
thiếu tính hệ thống và chỉ hướng vào việc dạy trẻ nhận biết một số thời điểm
nhất định trong ngày và hai mùa trong năm (mùa hè, mùa đông). Vì vậy trẻ
không nắm được tính chất đặc trưng của thời gian. Thời lượng các tiết học làm
quen với các biểu tượng ban đầu về toán mỗi tuần mới chỉ một hoạt động nhưng
cả năm học chỉ được có 33 đến 34 tuần, chưa kể có những tuần không dạy được
vì thời tiết, vì các hoạt động khác. Thời giờ để các cô giáo mầm non thực hiện
việc hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ là rất ít, chưa kể các tiết học thường
chỉ lồng ghép các nội dung (gọi là phương pháp tích hợp) nên khoảng thời gian
để cung cấp tri thức để hiểu biết về thời gian cho trẻ không được bao nhiêu. Vì
vậy, để việc hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ thì không chỉ các cô giáo
hướng dẫn thông qua nhiều hoạt động khác nhau trong quá trình dạy trẻ, mà cả

4


gia đình, người thân cũng luôn nhắc nhở trẻ về những vấn đề này mọi lúc, mọi
nơi.
- Thực trạng nhận thức của trẻ trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi về biểu tượng
thời gian cho trẻ.
Kết quả khảo sát 20 trẻ đầu năm học 2017 – 2018 thu được kết quả cụ thể
như sau:
*Bảng 1: Thực trạng nhận thức của trẻ về các ngày trong tuần:

SL %

SL %

9
45 6
30 7
35 7
35 6
30 10 50 9
45
Khi khảo sát trên trẻ chúng tôi yêu cầu trẻ nói tên các ngày trong tuần thì
một số trẻ nói được tên, số thứ tự thay cho tên ngày thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10.
Điều này chứng tỏ tính không phân định trong phân biệt các phạm trù thời gian
khác nhau ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn.
* Bảng 2: Thực trạng nhận thức của trẻ các biểu tượng về các buổi
trong ngày theo bộ tranh.
(Có bảng câu hỏi kèm theo phụ lục)
Tổng số
20

Buổi sáng

Buổi trưa

Buổi chiều

SL
7


các buổi trong ngày đúng. Tuy nhiên cháu còn thiếu vốn từ để diễn đạt, các cháu
thiết lập trật tự của các hoạt động để nói lên khoảng thời gian đó.
Đa số trẻ nắm được trình tự các buổi trong ngày, trẻ không kể được "ban
đêm" mà trẻ kể tiếp đến buổi "sáng, trưa, chiều, tối". Điều đó chứng tỏ rằng trẻ
không nắm được trình tự các buổi trong ngày mà chỉ nắm được tính luân
chuyển, tính chu kỳ của các buổi.
*Bảng 3: Thực trạng nhận thức của trẻ về biểu tượng các biểu tượng
tuần lễ các ngày trong tuần:
(Có bảng câu hỏi kèm theo phụ lục)
Tổng
số

Số lượng trẻ trả lời đúng
Câu 1

20

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

SL

%

SL


10

50

Bảng 4: Thực trạng nhận thức của trẻ về các mùa trong năm
(Có bảng câu hỏi kèm theo phụ lục)
Tổng
Số trẻ trả đúng các câu hỏi
Số
trẻ
kể
đúng
tên
các
mùa
trong
năm
số
đã đặt ra
5


20

Xuân

Hạ

SL %


SL %
3 15

Nhìn vào bảng trên đây chúng ta thấy rằng trẻ thường kể mùa đông (12 trẻ
chiếm 60%), mùa hạ (10 trẻ chiếm 50%) sau đó đến mùa thu (10 trẻ chiếm
50%), mùa xuân thì ít nhất (7 trẻ chiếm 26,9%) . Điều đó chứng tỏ sự lĩnh hội
tên gọi các mùa trong năm của trẻ diễn ra không đồng đều. Trẻ thường nhớ hai
mùa đó là mùa hè và mùa đông hơn vì hai mùa này có dấu hiệu tương phản rõ
rệt như nóng và lạnh, bầu trời nắng chói chang và u ám. Khi nói đến mùa đông
trẻ kể theo dấu hiệu: Mùa đông trời lạnh, ngủ phải đắp chăn, đi học phải mặc
quần áo ấm. Còn mùa hè thì nóng bức, đi học phải đội mũ, phải dùng quạt. Khi
hỏi tới mùa thu chỉ có một đến hai trẻ nói được là mùa thu có rằm trung thu
được đi rước đèn phá cỗ.
Nhìn vào bảng trên ta thấy số lượng trẻ nắm được số lượng các mùa trong
năm cũng như trình tự của nó là rất thấp. Về trình tự các mùa khi cô giáo nhắc từ
đầu "Mùa xuân" thì trẻ lại nói được các mùa hạ, thu, đông. Điều này chứng tỏ
"Trẻ chỉ đọc thuộc được theo người lớn xung quanh còn bản thân thì tự trẻ
không có khả năng nắm được. Nguyên nhân của kết quả trên do đặc điểm tâm
sinh lý của trẻ còn nhận thức cảm tính, tư duy của trẻ là tư duy trực quan hình
tượng. Vì vậy biểu tượng về các mùa trong năm trẻ nắm chưa chính xác. Giáo
viên chưa chú trọng đến việc hình thành biểu tượng các mùa trong năm cho trẻ,
một phần trẻ không nắm được số lượng các mùa, trình tự diễn ra các mùa vì
trong chương trình mẫu giáo hiện nay chưa đưa vào việc hình thành biểu tượng
thời gian nói chung và các mùa nói riêng vào nội dung "Hình thành những biểu
tượng toán học cho trẻ" cho nên kiến thức lĩnh hội được tản mạn không đồng
đều, thiếu chính xác. Để điều tra đặc điểm phát triển biểu tượng của trẻ về các
mùa trong năm chúng tôi sử dụng bộ tranh để tìm hiểu sự xác định của mùa
trong năm của trẻ theo các hoạt động đặc trưng và dấu hiệu thiên nhiên như thế
nào.

quả hơn phương pháp kể chuyện, xem phim hoặc tiếp xúc trực tiếp với các biểu
tượng dẫn chứng, minh họa.
Trí nhớ của trẻ hoàn toàn thụ động nhưng cần được phát triển, tôi luyện
thông qua các bài hát, bài thơ thuộc lòng.Vốn từ của trẻ còn hạn chế, ý nghĩa các
từ, các câu được hiểu đơn giản, chung chung theo nghĩa đen.
Vấn đề về tính cách:
- Tính thực tế: Trẻ thường có những ý kiến rõ ràng và hiểu nhanh các vấn
đề, tuy nhiên lại dễ bị nhiễm tính ham vật chất
- Tính vô tình:Trẻ thường không chú ý quá nhiều đến thế giới xung quanh
và chọn cho bản thân cách sống khép kín, hướng nội
- Tính hiếu hoạt: Trẻ hăng say hoạt động nhưng thường nông nổi và thiếu
kiên nhẫn
- Tính nhiệt tâm: Trẻ tự chủ và có khả năng tư duy tốt nhưng lại có tính tự
ái cao
Khi những biểu hiện tâm lý ở trẻ dần bộc lộ thì các cô hoặc các bậc phụ
huynh cần thật bình tĩnh, không nên quát mắng trẻ vì điểu đó chỉ khiến trẻ thêm
ức chế và càng có các biểu hiện chống đối, hãy nhẹ nhàng nhưng khiêm khắc chỉ
ra thái độ không tốt của trẻ, sự không hài lòng của bố mẹ, trẻ sẽ dần dần hiểu ra
và sẽ dần dần thay đổi tính cách
* Hình thành biểu tượng về ngày:
* Dạy trẻ nhận biết, phân biệt và nắm tên gọi các buổi trong ngày: buổi
sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối, đêm.
* Dạy trẻ nắm được trình tự các buổi diễn ra trong ngày và số buổi trong
một ngày
- Để hình thành các biểu tượng về các buổi trong ngày cho trẻ cần:
+ Thực hiện chính xác chế độ sinh hoạt trong ngày
+ Thông qua dấu hiệu thiên nhiên: đặc trưng cho những khoảng thời gian
nhất định
+ Sử dụng tranh, ảnh kết hợp đàm thoại, trò chuyện: khoảng thời gian gắn
với công việc trong ngày của trẻ (cho trẻ xem các tranh vẽ các buổi với thời gian

sống hàng ngày giáo viên nên giới thiệu tên ngày gắn với các hoạt động mà trẻ
sẽ tham gia; giúp trẻ nắm được tên gọi trình tự các ngày trong tuần lễ: Hôm nay
là thứ mấy? trước thứ ba là thứ mấy? ngày mai sẽ là thứ mấy?...
* Hình thành biểu tượng các mùa trong năm:
- Dạy trẻ nhận biết, phân biệt các mùa theo dấu hiệu từng mùa.
- Dạy trẻ biết số lượng và trình tự các mùa diễn ra trong 1 năm.
* Cho trẻ làm quen với lịch tự xem tháng, ngày
- Hình thành biểu tượng về tháng: dạy trẻ nhận biết, phân biệt các tháng
theo sự kiện diễn ra trong từng tháng; bằng cách trò chuyện với trẻ về gọi tên; về
các dấu hiệu đặc trưng, như: Thời tiết, các hiện tượng thiên nhiên, thông qua các
sự kiện lễ hội diễn ra trong tháng (tháng 3 có ngày 8-3; tháng 5 có ngày sinh
nhật Bác 19-5) cho trẻ đọc thơ, chơi các trò chơi .Để củng cố biểu tượng về
tháng cho trẻ.
* Hình thành biểu tượng về khoảng thời gian ngắn, giới thiệu đơn vị đo
thời gian: Phút, làm quen với đồng hồ
+ Cho trẻ quan sát đồng hồ cát, đồng hồ giây để trải nghiệm khoảng thời
gian ngắn 1 phút, cho trẻ quan sát bạn thực hiện một công việc nào đó trong 1
phút; có thể cho trẻ đếm trên đồng hồ cát số lần quay đồng hồ cho 1 việc làm
nào đó.
8


- Cô kết luận: tất cả mọi thứ chúng ta đều có một độ thời gian nhất định,
thời gian có thể dài (lâu) có thể ngắn ( nhanh),
- Cô có thể giới thiệu cho trẻ các loại đồng hồ khác nhau:Đồng hồ cát
đồng hồ nước, đồng hồ treo tường, đồng hồ bấm giây; đồng hồ đeo tay,hình
dạng, kiểu dáng đồng hồ có thể khác nhau, tính năng hoạt động đều giống nhau.
2.3.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch đưa vào chương trình trong
năm một cách phù hợp
Tập trung hướng dẫn trẻ có kế hoạch và thực hiện kế hoạch của nhà

Tháng

Tuần

Nội dung

1.

10

1

Hình thành biểu tượng về các ngày trong
tuần.

2.

11

4

Nhận biết sáng, trưa, chiều, tối

3.

2

3

Nhận biết hôm qua, hôm nay, ngày mai

- Khi ra ngoài nắng phải làm gì?
- Đây là hình ảnh về buổi nào? Vì sao con biết?
- Buổi trưa ở lớp con thường làm gì?
Tiếp theo buổi sáng là buổi trưa, khi ăn song các con sẽ đi ngủ
* Cánh cửa số 3: Buổi chiều (mẹ đón về)
- Đây là hình ảnh gì?
- Mẹ đón bé về vào buổi nào?
- Về nhà con còn làm gì?
- Đọc thơ: “Mẹ và cô”
Khi ông mặt trời lặn xuống các bạn sẽ được bố mẹ đón về nhà đó là buổi
chiều
* Cánh cửa số 4: Buổi tối (bé xem phim)
- Hát “Chúc bé ngủ ngon”
+ Chương trình “Chúc bé ngủ ngon” được chiếu vào buổi nào?
- Cho trẻ nhắc lại các thời điểm trong ngày
* Trò chơi: Cô nói thời điểm trẻ nói các hoạt động diễn ra trong ngày và
ngược lại
Dạy trẻ nắm được trình tự các buổi trong ngày
- Chúng mình biết một ngày gồm có mấy buổi?
- Sau buổi sáng gọi là buổi gì?
- Sau buổi trưa gọi là buổi gì?
- Sau buổi chiều là buổi gì?
- Vậy một ngày gồm có tất cả mấy buổi?
- Con thích nhất buổi nào trong ngày?Vì sao?
10


Trong 1 ngày có 4 buổi ngày nào cũng lặp lại các buổi sáng, trưa, chiều,
tối với nhiều việc mà chúng ta đã làm được .Các con thấy thời gian có đáng
quý không?

- Ngày mai là thứ mấy?
- Thứ sáu, các con thích nhất hoạt động gì?
- Một tuần, các con được nghỉ những ngày nào?
-Thứ bảy và chủ nhật các cháu được nghỉ học ở nhà cùng ba mẹ,các con ở
nhà thường làm gì?
- Một tuần có mấy ngày?. Vậy một tuần các con đi học bao nhiêu ngày?
Bắt đầu từ thứ mấy đến thứ mấy?
- Giáo dục trẻ: một tuần các con đi học đủ 5 ngày thì được coi là bé chăm
đi học. Vì vậy chúng mình nhớ đi học tất cả năm ngày, từ thứ hai đến thứ sáu
trong tuần nhé!
* Cho cả lớp hát và vận động bài “ Sáng thứ hai”
* Cô mở rộng và giới thiệu cho trẻ làm quen với lịch:
11


+ Để biết được các thứ trong tuần, các con cần gì để xem?
+ Đây là lịch bloc, phía trên có số là ngày, phía dưới là thứ, mỗi ngày qua
đi các con phải xé lịch để xem ngày tiếp theo.
+ Ngoài lịch bloc còn có lịch gì?
Trò chuyện về thời gian trong ngày:
- Trong một ngày các cháu ngủ dậy vào lúc nào? Cháu làm những việc gì?
- Đến trường khi nào cháu được ăn cơm? Và đi ngủ vào khi nào?
- Sau đó ngủ dậy các cháu làm gì?
- Ăn chiều khi nào
- Mỗi ngày bố mẹ đón các cháu về lúc nào?
- Về nhà các cháu làm gì?
- Như vậy trong một ngày có bao nhiêu buổi, đó là những buổi nào?
- Cô chốt lại thời gian trong ngày cho trẻ nhớ
Trò chơi:
* Trò chơi : Thi xếp thứ tự các ngày trong tuần

các thẻ từ dưới tranh ). Giảng giải cho trẻ biết: ở Việt nam thứ tự về các mùa
trong năm không rõ, vì chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới nên trời nóng nhiều
hơn, thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là nắng và mưa.
- Cho trẻ hát và vận động theo nhạc bài "Trời nắng, trời mưa " để di chuyển
đội hình
- Trò chơi " Giải câu đố về mùa" : cô đọc câu đố cho trẻ lên chọn thẻ từ gắn
lên bảng
(Mùa gì ấm áp - Mưa phùn nhẹ bay - Khắp chốn cỏ cây - Đâm chồi nảy lộc
Mùa gì nóng bức - Trời nắng chang chang - Đi học đi làm - Phải đội mũ nón
Mùa gì dịu nắng - Mây nhẹ nhàng bay - Bưởi vàng trên cây - Quả hồng chín
đỏ.
Mùa gì rét buốt - Gió bấc thổi tràn - Đi học đi làm - Phải lo mặc ấm ... )
- Tổ chức cho trẻ thi đua gắn các thẻ từ theo thứ tự các mùa trong năm theo
từng nhóm 4 trẻ ( có thể kết hợp với vận động thể dục tùy hoàn cảnh nhóm lớp)
* Hoạt động: Gây hứng thú – Ôn tập:
13


- Cô giới thiệu hội thi “Bé với khoa học”
+ 4 đội chơi
- Hội thi gồm 3 phần thi:
+ Phần 1: Khởi động
+ Phần 2: Tài năng
+ Phần 3: Chung sức
- Chúng mình đã sẵn sàng bước vào phần thi thứ nhất chưa?
* Phần 1: Khởi động: (Ôn các tháng trong năm)
- Cô cho trẻ làm đồng hồ treo tường, trong thời gian 1 phút đội nào hoàn
thiện chiếc đồng hồ, nhanh và chính xác sẽ là đội thắng cuộc.
- Cô nhận xét: Con đã tạo ra chiếc đồng hồ bằng cách nào?. Con sắp xếp
thứ tự các số thế nào? Con số từ 1 đến 12 còn giúp các bạn nghĩ đến điều gì?( 12

- Mùa xuân bắt đầu từ tháng mấy?
=> Cô chốt: Mùa xuân là mùa đầu tiên của năm mới, bắt đầu từ tháng 1
14


đến tháng 3, thời tiết ấm áp, cây cối xanh tươi, trăm hoa đua nở, muôn chim ca
hót líu lo và đặc biệt mùa xuân còn có tết Nguyên đán là ngày tết cổ truyền của
dân tộc. Mỗi độ xuân về mọi người còn náo nức rủ nhau đi hội.- Cho trẻ ngẫu
hứng theo nhạc: Mùa xuân ơi.
b. Mùa hè:
- Sau mùa xuân là mùa gì?
- Cô và chúng mình cùng đến với ngôi nhà tiếp theo xem có đúng là ngôi
nhà mùa hè không nhé
- Sau mùa xuân là mùa hè? Vậy mùa hè là mùa thứ mấy trong năm?
- Thời tiết mùa hè như thế nào?
- Khi trời vừa mưa xong mà có nắng thường có hiện tượng tự nhiên gì xảy
ra? Mưa mùa hè có còn là những cơn mưa phùn nữa không? Nếu gặp cơn mưa
rào chúng mình sẽ làm gì?
- Vậy trang phục của mùa hè như thế nào? (quần áo ngắn gọn, mát, đầu
đội mũ nón khi ra ngoài trời.)
- Mùa hè thường có hoa gì nở?
- Khi mùa hè đến các con được làm gì? (nghỉ hè, đi thăm quan, nghỉ mát,
tắm biển…)
- Mùa hè diễn ra từ tháng nào đến tháng nào?
=> Cô chốt: Mùa hè là mùa thứ hai trong năm, có thời tiết nóng nhất, diễn
ra từ tháng 4 đến tháng 6, mùa hè chúng mình được nghỉ hè, được bố mẹ cho đi
du lịch, đi tắm biển.Và mùa hè này chúng mình chia tay lớp mầm non để lên lớp
1 nữa đấy.
- Mùa hè mang lại cho chúng mình nhiều niềm vui như vậy, nhưng bên
cạnh đó mùa hè lại hay có mưa giông mưa rào nên cũng không tránh khỏi những

+ Cây cối mùa đông thế nào? (cây khô, trụi lá, hoa cỏ xơ xác.)
+ Mùa đông là mùa thứ mấy trong năm?
+ Mùa đông có ngày lễ gì mà chúng mình muốn được tặng quà?
=> Cô chốt: Mùa đông là mùa lạnh, diễn ra vào từ tháng 10 đến tháng 12,
khi mùa đông đến bầu trời ít nắng, trời lạnh cóng, có nơi còn có băng tuyết bao
phủ, chúng mình được bố mẹ mua cho nhiều quần áo ấm, được ông già noen
tặng quà nữa đấy, các con có thích không?
- Cho trẻ đội mũ ông già nô en vui đón giáng sinh
- Chúng mình vừa được tìm hiểu về 4 mùa trong năm, Vậy một năm có
mấy mùa? Là những mùa nào?
* Hoạt động: Luyện tập, củng cố:
- Cho trẻ xem video về 4 mùa: Các mùa diễn ra theo thứ tự thế nào?
=> Cô chốt: Ở miền Bắc nước ta, khí hậu chia làm 4 mùa rõ rệt: năm mới
bắt đầu là mùa xuân sau đó đến mùa hè nóng bức, sau mùa hè là đến mùa thu
mát mẻ, kết thúc 1 năm là đến mùa đông lạnh lẽo, rét buốt. Và các mùa được lặp
đi lặp lại ở các năm tiếp theo cứ như vậy 1 năm có 4 mùa và luôn bắt đầu từ mùa
xuân đấy.
- Nhận xét phần thi thứ 2
* Hoạt động: Trò chơi
- Phần thi: Chung sức:
- Cô giới thiệu vòng quay 4 mùa
- Cho trẻ chơi trò chơi với chiếc đồng hồ 4 mùa
Cách chơi: Cô quay vòng quay 4 mùa, khi kim dừng lại ở ô màu gì các
đội sẽ có 10 giây để cùng thảo luận, kết thúc 10 giây đội nào rung xắc xô trước
đội đó có quyền trả lời, trả lời đúng tên mùa và nêu được đặc điểm nổi bật của
mùa đó thì sẽ dành chiến thắng.
- Tổ chức cho trẻ chơi
- Nhận xét, kết thúc
2.3.4. Biện pháp 4: Hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ thông qua
công tác tuyên truyền, phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình.

học, từng tháng. Kế hoạch được xây dựng một cách linh hoạt, phù hợp với nhu
cầu và tình hình thực tế của nhà trường.
Trong gia đình mọi người thường xuyên quan tâm đến việc lập kế hoạch
cho công việc của tất cả các thành viên. Sau khi đã có kế hoạch, thực hành theo
kế hoạch, phải có kiểm tra, đúc kết, xem xét, đánh giá và rút ra bài học kinh
nghiệm, lại tiếp tục đưa ra kế hoạch mới. Giúp trẻ đưa ra kế hoạch và thực hiện
kế hoạch đó theo “giờ nào việc nấy”. Quan tâm đến sản phẩm của trẻ sau những
khoảng thời gian nhất định.
Phụ huynh học sinh là người hàng ngày trực tiếp đưa đón trẻ đến trường, là
người hàng ngày đang cùng trẻ thực hiện ý thức chăm sóc và định hướng, hướng
dẫn cho trẻ. Vì vậy khi triển khai thực hiện giáo viên tuyên truyền phối kết hợp
với phụ huynh học sinh bằng nhiều hình thức. Trao đổi với phụ huynh thông qua
các buổi họp đầu năm học. Chúng tôi đã thông tin cho phụ huynh biết được mục
tiêu nhiệm vụ của năm học, nội dung của các chuyên đề thực hiện trong năm học
để đề nghị phụ huynh học sinh cùng phối hợp với nhà trường trong việc chăm
sóc giáo dục trẻ. Trong lớp phải có góc tuyên truyền trao đổi với phụ huynh về
nội dung giáo dục có các nội dung thông tin, tranh ảnh phù hợp với nội dung
hình thành biểu tượng thời gian cho trẻ
Phối hợp với Phụ huynh trong việc hình thành biểu tượng thời gian thông
qua các hoạt động thời điểm sinh hoạt ở gia đình để trẻ luôn khắc sâu đó là cách
giúp trẻ ghi nhớ dễ ràng.
Thông qua công tác tuyên truyền, góc tuyên truyền, thông qua giờ đón trả
trẻ Phụ huynh sẽ hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức hình thành
các biểu tượng thời gian cho trẻ, không phải chỉ ở phía nhà trường mà còn ở gia
17


đình và toàn xã hội. Từ đó giúp phụ huynh hiểu thêm về công tác nâng cao ý
thức cho trẻ mầm non để phụ huynh về giáo dục thêm cho trẻ tạo môi trường
cho các cháu vui chơi, học tập, luôn tạo điều kiện cho trẻ phát triển về thể chất


20

Thứ 2

Thứ 3

SL %

SL %

9

Thứ 4
SL

45 6
30 7
Sau khi áp dụng:
Thứ 2

Thứ 3

SL %

SL %

Thứ 5

Thứ 6

Thứ 5

Thứ 6

SL %

SL %

CN

Thứ 7

50

Thứ 7
SL %

45
CN

SL %

18 90 16 80 15 75 15 75 15 75 18 90 18 90
Khi khảo sát trên trẻ chúng tôi yêu cầu trẻ nói tên các ngày trong tuần thì
trẻ đã có thay đổi nhận thức và rèn luyện trí nhớ rõ ràng, trẻ đã phân định trong
phân biệt các phạm trù thời gian khác nhau. Cụ thể là nhận thức về thứ sáu trước
khi áp dụng là 6 trẻ chiếm tỷ lệ 30% thì sau khi áp dụng là 15 em trả lời đúng
chiếm tỷ lệ 75%, thư tư và thứ 5 có bảy trẻ trả lời đúng thì sau khi áp dụng đã có
15 em trả lời đúng chiếm tỷ lệ 75%.
Nhận thức của trẻ các biểu tượng về các buổi trong ngày.

Buổi tối
SL
8

Ban đêm

%
40

SL
7

%
20

Sau khi áp dụng:

Tổng số
20

Buổi sáng

Buổi sáng

Buổi trưa

Buổi chiều

SL
17


Đa số trẻ nắm được trình tự các buổi trong ngày, trẻ không kể được "ban
đêm" mà trẻ kể tiếp đến buổi "sáng, trưa, chiều, tối". Điều đó chứng tỏ rằng trẻ
đã nắm được trình tự các buổi trong ngày. Tỷ lệ nhận thức về buổi tôi 18 cháu
chiếm tỷ lệ 90%, buổi trưa và buổi chiều 18 cháu chiếm tỷ lệ 90%.
Nhận thức của trẻ về biểu tượng các biểu tượng tuần lễ các ngày
trong tuần:
- Trước khi áp dụng :
Tổng
số

Số lượng trẻ trả lời đúng
Câu 1

20

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

SL

%

SL


10

50

- Sau khi áp dụng:
Tổng
số

Số lượng trẻ trả lời đúng
Câu 1

20

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

SL

%

SL

%

SL


Tỷ lệ nhận thức của trẻ thông qua hệ thống câu hỏi( có ở phần phụ lục)
chúng ta thấy ở câu 1 có 100% trẻ trả lời đúng, ở câu 4 và câu 5 tỷ lệ trả lời
đúng chiếm 95%, câu 2 và câu 3 có 18 trẻ trả lời đúng chiếm tỷ lệ 90%.
Nhận thức của trẻ về các mùa trong năm
- Trước khi áp dụng
Tổng
Số trẻ kể đúng tên các mùa trong năm
số
26

Xuân

Hạ

SL %
13 50

SL %
10 50

Thu
SL
10

%
50

Số trẻ trả đúng các câu hỏi
đã đặt ra

26

Xuân

Hạ

SL %
19 95

SL %
18 90

Thu

Đông

SL %
SL %
20 100 19 95

Số trẻ trả đúng các câu hỏi
đã đặt ra
Câu 1

Câu 2

Câu 3

SL %
17 85

trong những hình thức cơ bản, tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào
ý thức của chúng ta. Khoa học hiện đại đã khẳng định: "Thời gian không phải là
tính chất của tâm hồn mà tâm lý con người khi phản ánh thế giới khách quan,
phản ánh cả những đặc điểm thời gian của nó".
Việc tìm hiểu một số đặc điểm phát triển biểu tượng về thời gian ở trẻ
mẫu giáo lớn là rất cần thiết.Vì đó là cơ sở để dạy học và giáo dục đứa trẻ nhằm
phát huy tác dụng của việc dạy học và giáo dục góp phần đào tạo một lớp người
lớn có ích cho đất nước Việt Nam.
Nhận thức được vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự phát triển
của một số biểu tượng thời gian ở trẻ. Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển
của trẻ chúng tôi đã đi sâu vào ba vấn đề sau:
- Đặc điểm phát triển một số biểu tượng về ngày
- Đặc điểm phát triển một số biểu tượng về tuần lễ
20


- Đặc điểm phát triển một số biểu tượng về tháng, năm, các mùa trong
năm của trẻ.
Cùng với những đơn vị đo thời gian cơ bản về sự hiểu biết những tính
chất cơ bản về thời gian của trẻ.
Qua việc giáo dục hàng ngày chúng tôi cũng nhận thấy trẻ dường như dựa
vào các dấu hiệu cuộc sống của bản thân trẻ, của những người xung quanh và
các dấu hiệu về thiên nhiên để định hướng thời gian. Đó là những dấu hiệu cụ
thể, gần gũi trẻ, là kinh nghiệm của chính bản thân trẻ. Qua kết quả kiểm
nghiệm chúng tôi cũng thấy rõ sự không đồng đều trong việc trẻ lĩnh hội những
đơn vị cơ bản đo thời gian như: ngày, tuần lễ, tháng, năm mà nhiều trẻ vẫn còn
nhầm lẫn, lẫn lộn các phạm trù thời gian với nhau, các hoạt động dẫn đến phần
nào có ảnh hưởng tới sự lĩnh hội ở trẻ về tên gọi, số lượng các ngày trong tuần
lễ, các tháng trong năm.
Tuy nhiên chúng ta thấy rằng trẻ mẫu giáo định hướng các buổi trong

XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Điền Thượng, ngày 29 tháng 3 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Hà Thị Trang
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Thanh Âm (chủ biên) (2007), Giáo dục học mầm non (Tập I, tập II,
tập III). NXB Đại Học Sư phạm, Hà Nội.
2. Luật Giáo dục Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành, (2009), NXB
Chính trị Quốc gia
3. Phương pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn định hướng thời gian - Đỗ Thị Minh
Liên - NXB Sư phạm Hà Nội
4. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Điều lệ trường mầm non , NXB Giáo dục

22


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hà Thị Trang
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Mầm Non Điền Thượng

TT
1

Điền Thượng huyện Bá
Thước
Một số biện pháp giáo dục
thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
thông qua hoạt động tạo Ngành giáo
hình ở trường mầm non dục cấp tỉnh
Điền Thượng huyện Bá
Thước

Năm học
đánh giá
xếp loại

C

2015 - 2016

B

2016 - 2017

C

2016 - 2017

23


PHỤ LỤC
BẢNG 1: PHIẾU KHẢO SÁT TRẺ

Cao Thị Luyến
Bùi Mỹ Yến
Phạm Thị Thúy
Bùi Yến Đan
Phạm Đức Trung
Trương Thị Hoa
Cao Trúc Ly
Đỗ Xuân Thịnh
Hà Phúc Bảo
Hà Nhật Quốc
Phạm Nhật Trung
Trương Văn Dũng
Hà Phương Thảo
Bùi Phương Uyên

Câu hỏi về khả năng định
hướng các buổi trong ngày
(trước áp dụng)

+
+
+
+
+

+
+
+
+
+

+
+
+
+
+
+
+
+
+
+

+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+

+
+
+
+

+
+
+
+
+
+
+
+
+

24


17
18
19
20

Đặng Quốc Hùng
Phạm Văn Long
Phạm Tố Quỳnh

+

+

+

+


+

+

+

+

+

+

+

Tổng số trẻ trả lời
đúng

7/
20
35
%

9/
20
45
%

8/
20
40


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status