SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH
Người thực hiện:
Trịnh Thị Huệ
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực: Công tác chủ nhiệm
THANH HOÁ NĂM 2018
0
MỤC LỤC
Mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
Biện pháp xây dựng quy chế tự quản
Biện pháp giáo dục học sinh cá biệt và học sinh chưa
ngoan
Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh
Kết luận, kiến nghị
Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của SKKN
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Kiến nghị, đề xuất
Tài liệu tham khảo
1
1
2
2
2
3
3
5
6
6
7
8
10
12
13
15
15
15
16
chung và ở tỉnh Thanh Hóa trong đó có huyện Lang Chánh nói riêng ngày càng
phát triển nhanh chóng về số lượng, quy mô trường lớp ngày càng mở rộng, nội
dung học tập ngày càng phong phú, sát với thực tiễn.
Nằm xu thế trên thì sự nghiệp giáo dục của huyện Lang Chánh trong đó có
Trường trung học phổ thông Lang Chánh càng phát triển rộng mở và đi vào
chiều sâu:
Cơ sở vật chất trường lớp khang trang hơn phục vụ tốt hoạt động dạy và
học.
2
Đội ngũ giáo viên ngày đông đảo, có tuổi nghề, có kinh nghiệm giáo dục.
Trình độ của giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đáp ứng được sự nghiệp giáo dục
trong tình hình mới.
Phụ huynh học sinh ngày càng quan tâm tới việc học tập của con em mình.
Bên cạnh chất lượng đội ngũ giáo viên thì chất lượng học sinh ngày càng
được cải thiện. Những năm qua nhà trường đã có nhiều học sinh giỏi cấp tỉnh.
Đất nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng thì những vấn đề, những mặt trái
của xã hội luôn đi kèm, trong đó có giáo dục. Giáo dục càng phát triển thì vấn đề
đạo đức học sinh cũng đáng báo động, đây đó có những em học sinh vô lễ, xúc
phạm danh dự thầy cô, coi thường thầy cô, nội quy trường lớp hoặc mắc các tệ
nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc,... Thực tế này đã gặp phải ở mái Trường THPT.
Vì những lí do trên mà trong năm học 2017 - 2018 tôi đã mạnh dạn nghiên
cứu vấn đề về tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh với tên gọi là: "Một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh tại trường THPT
Lang Chánh"
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp giáo viên chủ nhiệm lớp ở bậc học phổ thông nhận thấy rõ hơn vai
trò ý nghĩa của công tác chủ nhiệm lớp. Từ đó đề ra những chỉ tiêu phấn đấu cho
đánh giá của học sinh với các hoạt động phong trào trong quá trình học tập ở
trường phổ thông. Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số thao tác khác: nghiên
cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp…
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận:
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm: Giải pháp là gì? Giáo dục đạo
đức là gì?
Giải pháp: Là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó để đạt hiệu
quả tốt hơn.
Giáo dục đạo đức:
Khái niệm đạo đức: Theo nghĩa hẹp, đạo đức là luân lý, là những qui định
những chuẩn mực, ứng xử trong quan hệ con người với con người, với bản thân
với công việc, với thiên nhiên và môi trường sống. Theo nghĩa rộng, đạo đức
liên quan đến phạm trù chính trị, pháp luật và lối sống. Đạo đức là thành phần
cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân đã được xã hội
hóa, được thể hiện qua hành vi đạo đức.
Giáo dục đạo đức: là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho
thế hệ trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho họ những quy tắc hành vi
thể hiện trong giao tiếp với mọi người với công việc, với Tổ quốc. Giáo dục đạo
đức cần phải được coi trọng. Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là làm cho nhân
cách của họ phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở để họ ứng xử đúng đắn
trong các mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với người khác (gia đình, bạn
bè, thầy cô giáo…) với xã hội, với tổ quốc, với môi trường tự nhiên, với cộng
đồng quốc tế.
Để giáo dục tốt vấn đề đạo đức cho học sinh ta cần xác định rõ vai trò,
quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT
4
ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành điều lệ
sinh nói riêng được hình thành và phát triển trong các môi trường: gia đình, nhà
trường và xã hội. Lúc sơ sinh vai trò của gia đình là chủ đạo, tuổi học mầm non
gia đình và nhà trường góp phần quyết định, tuổi học phổ thông vai trò của nhà
trường, gia đình và xã hội càng cân đối. Để làm tốt việc giáo dục phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh THPT phải kết hợp chặt chẽ với gia
đình. Nhà trường, gia đình và xã hội có vai trò giáo dục khác nhau đối với sự
5
hình thành và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của học sinh.
Trong mối quan hệ đó thì nhà trường được xem là trung tâm, chủ động, định
hướng trong việc phối hợp với gia đình và xã hội. Nhà trường là môi trường
giáo dục toàn diện nhất, là cơ quan nhà nước thực hiện chức năng giáo dục
chuyên nghiệp nhất nên nhà trường là lực lượng giáo dục có hiệu quả nhất, hội
tụ đủ những yếu tố cần thiết để có thể huy động sức mạnh giáo dục từ phía gia
đình và xã hội. Có một thực trạng tồn tại là các tệ nạn xã hội như đề đóm, cờ
bạc, nghiện hút v.v … cũng xuất hiện, làm đảo lộn vẩn đục môi trường giáo dục
đạo đức, không ngừng ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách và lối sống của học
sinh. Nhà trường dù là một pháo đài vững chắc nhưng vẫn có thể bị "tập kích" từ
phía ngoài. Nhà trường không phải là một ốc đảo tách khỏi xã hội, tách xa thực
tiễn. Thực tiễn cuộc sống, nhất là cuộc sống xã hội đang có các nhân tố của kinh
tế thị trường tác động đến nhà trường, có lúc nhẹ nhàng, có khi sôi động dồn
dập. Xã hội ô nhiễm, luồng văn hoá ngoại lai, đồi trụy, bạo lực... len lỏi vào mọi
tầng lớp nhân dân nên rất dễ tác động đến thế hệ trẻ. Giáo viên chủ nhiệm biết
kết hợp và phát huy nhằm giáo dục về tình hình và nhiệm vụ của đất nước, tình
hình thời sự, chính trị trong nước và thế giới (có định hướng chính trị rõ ràng);
giáo dục về tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội - chính trị trong hệ
thống chính trị ở Việt Nam, về quyền tự do, dân chủ và trách nhiệm công dân;
bồi dưỡng một số kỹ năng sinh hoạt chính trị - xã hội cần thiết.
2.2. Thực trạng của vấn đề công tác giáo dục đạo đức học sinh ở
Một số học sinh thiếu thốn tình cảm(chỉ ở với mẹ hoặc bố do mồ côi) như:
Trưởng, Lực, Hạnh...
Từ những khó khăn trên sẽ ảnh hưởng tới việc học tập và giáo dục đạo đức
học sinh.
Trong nửa đầu học kì I thì đây là lớp học có tỉ lệ học sinh chưa chấp hành
tốt nội quy còn khá cao, chưa thực sự nỗ lực học tập.
Thực trạng trên là do một số nguyên nhân sau: Học sinh chưa nhận thức
được vai trò quan trọng của việc tu dưỡng đạo đức, chấp hành nội quy trường,
lớp,…Bên cạnh đó còn có sự tác động từ yếu tố bên ngoài như văn hóa ngoại lai,
các tệ nạn xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức của học sinh.
Từ những thực trạng trên để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, đòi hỏi giáo
viên chủ nhiệm cần có những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
cho học sinh lớp 10A6, trường THPT Lang Chánh, huyện Lang Chánh, năm học
2017 -2018 và năm tiếp theo.
2.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học
sinh:
2.3.1. Biện pháp nắm thông tin về học sinh:
a. Mục tiêu:
Qua phiếu điều tra này, tôi nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng
học sinh. Và quan trọng hơn cả là tôi đã hiểu một phần về từng học sinh của
mình, đặc biệt là về hoàn cảnh gia đình, biết được số điện thoại của gia đình để
liên hệ khi có việc cần trao đổi. Điều đó rất có lợi cho tôi trong công tác giảng
dạy và giáo dục học sinh.
b. Cách thức tiến hành biện pháp:
7
Do tôi chủ nhiệm lớp trong hai năm liên tiếp nên công việc này được tiến
hành vào đầu năm lớp 10.
Giáo viên phát phiếu cho học sinh và yêu cầu điền thông tin của mình.
cách, đạo đức chuẩn mực. Sự chuẩn mực của giáo viên nói chung và giáo viên
chủ nhiệm nói riêng sẽ là tấm gương phản chiếu để học sinh nhìn vào đó soi xét
lại bản thân, để học tập,…
b. Cách thức tiến hành biện pháp:
8
Giáo viên chủ nhiệm phải luôn ăn mặc gọn gàng, cử chỉ tác phong mô
phạm, mẫu mực.
Giáo viên chủ nhiệm phải biết thông cảm và chia sẻ những khó khăn của
các em. Trả lời, giải quyết những vướng mắc, câu hỏi của các em một cách thấu
đáo (nếu chưa có câu trả lời ngay, thì hứa sẽ có câu trả lời vào thời gian cụ thể).
Cho các em biết là các em có thể điện thoại cho thầy cô để nói chuyện hay hỏi
bài vở (cách làm bài, giải thích chữ khó, cách trả lời ...). Tâm sự, hỏi han các em
về những khó khăn trong đời sống, những khó khăn ở trường,... để giúp các em
giải quyết những khó khăn này. Trong lớp học hay ngoài lớp học, thầy cô còn
phải đóng vai người anh, người chị, người cha, người mẹ mà các em có thể tin
tưởng, nhờ cậy được. Qua đó, các em sẽ biết sống nhẫn nại, kiên trì và giàu lòng
nhân ái.
Trong công việc hay trong mọi hoạt động thì giáo viên chủ nhiệm có thể
làm mẫu; chẳng hạn trong các buổi lao động hay hoạt động làm báo tường,…
nếu giáo viên làm mẫu hoặc cùng làm sẽ làm cho học sinh làm việc rất tích cực.
c. Vai trò, tác dụng của biện pháp:
Trong lớp học, giáo viên chủ nhiệm là tấm gương để các em noi theo. Các
hành động, suy nghĩ, cư xử của giáo viên sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quan
niệm, suy nghĩ, ứng xử của học sinh. Bản thân tôi vừa là giáo viên chủ nhiệm
đồng thời vừa là giáo viên bộ môn Ngữ Văn. Vì vậy, khi đến trường, lên lớp, tôi
đều có những tác phong, việc làm làm gương cho học sinh.
d. Kết quả đạt được của biện pháp:
Biện pháp này là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong việc
15
25/37
12/37
10A6
37
22
15
36/37
1/37
2.3.3. Biện pháp lựa chọn cán sự lớp và xây dựng quy chế tự quản:
a. Mục tiêu:
Lựa chọn những học sinh ngoan, chấp hành tốt nội quy, có lực học nhỉnh
hơn các bạn khác để đưa vào danh sách bầu đội ngũ cán bộ lớp. Đội ngũ cán lớp
phải giúp giáo viên chủ nhiệm quản lí lớp tốt hơn.
9
b. Cách thức tiến hành biện pháp:
- Cơ sở lựa chọn:
+ Căn cứ vào hồ sơ học bạ của học sinh.
+ Căn cứ sự tín nhiệm của tập thể lớp qua việc bình bầu dân chủ vào đầu
tập, rèn luyện theo quy định của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Sở GD & ĐT và Nhà
trường.
Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh quy chế, quy
định, nội quy về học tập và sinh hoạt của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Sở GD & ĐT
và Nhà trường. Đôn đốc và thực hiện nề nếp tự quản trong lớp.
Tổ chức, động viên giúp đỡ những bạn gặp khó khăn trong học tập, rèn
luyện và đời sống.
Chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp của giáo viên chủ nhiệm lớp.
Chủ trì các cuộc họp lớp để đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, bình xét
hạnh kiểm.
10
+ Nhiệm vụ của lớp phó học tập:
Ðôn đốc các bạn hoc sinh đi học đầy đủ, đúng giờ, đảm bảo nề nếp học tập.
Ðiểm danh, ghi sổ đầu bài đầy đủ, kịp thời.
+ Nhiệm vụ của lớp phó lao động:
Tổ chức và giám sát các bạn học sinh thực hiện công việc lao động và các
hoạt động liên quan đến sinh hoạt đời sống vật chất và tinh thần của lớp.
+ Nhiệm vụ của các tổ trưởng:
Đôn đốc, giám sát mọi hoạt động học tập, tu dưỡng, rèn luyện của các bạn
trong tổ.
+ Nhiệm vụ của các tổ phó:
Giúp tổ trưởng đôn đốc, giám sát mọi hoạt động trong tổ. Được tổ trưởng
ủy quyền khi vắng mặt.
c. Vai trò, tác dụng của biện pháp:
Việc lựa chọn được đội ngũ cán bộ lớp tốt sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm
quản lí lớp chủ nhiệm của mình được tốt hơn. Đội ngũ cán bộ lớp sẽ giúp giáo
viên chủ nhiệm quản lí, thay quyền giáo viên chủ nhiệm khi giáo viên chủ nhiệm
vắng mặt.
Mất trật tự
(Trong giờ , giáo
viên nhắc trong
giờ học)
Không
đeo thẻ
học
sinh
Điểm
dưới 5
T. Nhật
bẩn
K0
đi
LĐ
K0
làm bt
Đánh
nhau
Kiểm tra
(điểm
5 đến 10)
Thực hiện biện pháp này sẽ giúp công tác tự quản của lớp rất tốt. Học sinh
sẽ tự nhắc nhở nhau để thực hiện tốt nội quy. Nếu trong một tổ mà nhiều cá nhân
vi phạm, mắc lỗi mà không bảo nhau sửa chữa thì lại càng phải trực nhật.
Biện pháp này giúp giáo viên chủ nhiệm vẫn nắm được tình hình lớp ngay
cả khi vắng mặt. Giáo viên chủ nhiệm chỉ cần nhìn vào sổ theo dõi từng tổ sẽ
biết cá nhân học sinh nào vi phạm lỗi gì.
d. Kết quả đạt được của biện pháp:
Khi thực hiện biện pháp này đem lại hiệu quả rõ rệt, đặc biệt là những học
sinh chưa ngoan, trong lớp học còn trầm.
Cụ thể: HS Lê Ngọc Trưởng , Hà Văn Tuấn, Phạm Văn Thiện,Lương Đức
Thịnh…hay nghỉ học không phép, hay nói chuyện riêng trong giờ học thì nay đã
giảm hẳn.
HS Vi Văn Thức, Vì Thị Lê, Phạm Văn Chí... trong lớp học trầm, ít giơ tay
phát biểu thì nay bước đầu đã giơ tay phát biểu xây dựng bài.
2.3.5. Biện pháp giáo dục học sinh cá biệt và học sinh chưa ngoan:
a. Mục tiêu:
Hầu như trường nào, lớp học nào cũng có học sinh cá biệt, mà những học
sinh này đa số gây không ít khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm, đôi khi họ rất
mệt mỏi vì nói hoài mà các em không nghe, càng phạt thì càng lỳ hơn hoặc các
em sẽ co lại hay phá phách hoặc chống đối ngầm. Điều này không những khó
khăn cho giáo viên mà còn làm ảnh hưởng đến thi đua của cả lớp.
Vì vậy mục tiêu của biện pháp này là nhằm giáo dục học sinh cá biệt trước
hết là chấp hành nội quy trường, lớp thật tốt. Giáo dục các em trở thành một học
sinh tiến bộ toàn diện, đặc biệt là về đạo đức. Giúp các em hòa nhập với các bạn
trong lớp để học sinh không còn cảm thấy mình có cảm giác như bị thành kiến,
ghét bỏ.
b. Cách thức tiến hành biện pháp:
Tìm hiểu nguyên nhân: Lâu nay, ta chỉ thường nghe cụm từ “học sinh cá
biệt” - ám chỉ những học sinh có vẻ khác thường, khó dạy, thậm chí hư hỏng.
và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa
thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt. Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, Thầy
phải qúy trò. Dân chủ nhưng phải tập trung.
Kết hợp cùng với các giáo viên bộ môn, tập thể lớp, nhà trường, gia đình,
các đoàn thể và chính quyền địa phương cùng phối hợp, thống nhất nội dung,
mục đích, biện pháp giáo dục học sinh cá biệt.
Đưa các em vào hoạt động tập thể thực tiễn, đó là hoạt động tập thể trong
và ngoài nhà trường: Lao động, văn nghệ, vui chơi, thăm quan du lịch,… qua đó
hiểu thêm học sinh, gắn bó học sinh với tập thể, xoá đi những thiếu sót từ học
sinh.
Giáo viên chủ nhiệm cần tuyên dương, khen chê đúng mục đích, đúng việc,
đúng lúc, tế nhị mà hiệu quả.
Xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá, thanh lịch, xây dựng tình thương
yêu đoàn kết.
c. Vai trò, tác dụng của biện pháp:
Trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt với những cách thức trên sẽ đem
lại hiệu quả rõ rệt. Học sinh sẽ dần sửa chữa và đi đến khắc phục được những
14
khuyết điểm của bản thân. Từ đó cũng làm gương cho các học sinh khác không
phạm vào những khuyết điểm.
d. Kết quả đạt được của biện pháp:
Trong học kì I có hai học sinh cá biệt trong lớp đó là Hà Văn Tuấn và Phạm
Văn Thiện hay nghỉ học vô lí do, nói chuyện trong giờ, không học bài, không
tham gia các hoạt động phong trào và đánh nhau... Nhưng đến học kì II các em
đã thay đổi tích cực, nhiệt tình tham gia các hoạt động, đi học đầy đủ và bước
đầu xung phong phát biểu trong các tiết học.
2.3.6. Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh:
a. Mục tiêu:
Tích cực rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường;
Tham gia đầy đủ các hoạt động giáo dục, các hoạt động do nhà trường tổ
chức; tích cực tham gia các hoạt động của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí
Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Có thái độ và hành vi đúng đắn trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống theo
nội dung môn Giáo dục công dân.
+ Loại khá:
Thực hiện được những quy định ở trên nhưng chưa đạt đến mức độ của loại
tốt; còn có thiếu sót nhưng kịp thời sửa chữa sau khi thầy giáo và các bạn góp ý.
+ Loại trung bình:
Có một số khuyết điểm trong việc thực hiện các quy định của loại tốt
nhưng mức độ chưa nghiêm trọng; sau khi được nhắc nhở, giáo dục đã tiếp thu,
sửa chữa nhưng tiến bộ còn chậm.
+ Loại yếu:
Chưa đạt tiêu chuẩn xếp loại trung bình hoặc có một trong các khuyết điểm sau
đây:
Có sai phạm với tính chất nghiêm trọng hoặc lặp lại nhiều lần trong việc thực
hiện quy định của loại tốt, được giáo dục nhưng chưa sửa chữa;
Vô lễ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể của thầy cô, nhân
viên nhà trường; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn hoặc của người khác;
Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi;
Đánh nhau, gây rối trật tự, trị an trong nhà trường hoặc ngoài xã hội; vi
phạm an toàn giao thông; gây thiệt hại tài sản công, tài sản của người khác.
c. Vai trò, tác dụng của biện pháp:
Việc xây dựng được tiêu chí đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh sẽ giúp
cho giáo viên cùng cả lớp đánh giá hạnh kiểm của từng học sinh một cách chính
xác. Từ đó sẽ tạo động lực cho ác em phấn đấu, không ngừng tu dưỡng đạo đức.
d. Kết quả đạt được của biện pháp:
16
Tổng số
học sinh
37
37
37
Tốt
28 HS
(71,79%)
32 HS
(86,48%)
32 HS
(86,48%)
Hạnh kiểm
Khá
Trung bình
7 HS
(17,95%)
5 HS
(13,52%)
5 HS
(13,52%)
Yếu
Xếp thứ 8\31
Xếp thứ10\31
100% học sinh tham gia các buổi lao động do nhà trường tổ chức; lao động
giúp đỡ các bạn học sinh ở bán trú ổn định cuộc sống.
17
100% học sinh tham gia các hoạt động do bên đội phát động như cuộc thi
viết thư quốc tế UPU.
100% học sinh tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ gia đình
chính sách, neo đơn.
Lớp đạt danh hiệu: Lớp tiên tiến.
Có 10 HS đạt danh hiệu học sinh tiên tiến.
Lớp đã thành lập được một đội văn nghệ tham gia thi cấp trường.
Cho đến nay tình hình học sinh của lớp rất ngoan, không còn học sinh cá
biệt, chưa ngoan.
3.3. Kiến nghị, đề xuất:
Đối với Ban giám hiệu: Đây là lần đầu tiên tôi viết sáng kiến kinh nghiệm
nên thật sự khó khăn, tài liệu tham khảo thiếu thốn nhưng lại là một điều hay bởi
qua đó tôi đã trưởng thành hơn trong nghề nghiệp. Bởi vậy, năm học sau, tôi xin
đề nghị Ban giám hiệu nhà trường nên chỉ đạo, khuyến khích mỗi giáo viên chủ
nhiệm viết sáng kiến kinh nghiệm (không nhất thiết 1SKKN/1GV). Có sự quan
tâm động viên hơn nữa tới các giáo viên chủ nhiệm.
Đối với giáo viên bộ môn: Để có một lớp chủ nhiệm tốt thì không chỉ có
vai trò của GVCN mà còn có cả vai trò của GVBM. Vì vậy đề nghị các GVBM
kết hợp tốt hơn nữa để cùng giáo dục học sinh.
Đối với phụ huynh học sinh: Đề nghị các bậc phụ huynh quan tâm hơn tới
việc học tập và tu dưỡng của con em mình. Kết hợp cùng GVCN giải quyết tốt
những trường hợp nảy sinh không mong muốn.
3. Giáo dục học đại cương II - Hà Nội 1996 - GS. Đặng Vũ Hoạt.
4. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục - Hà Nội 1996 - PTS. Phạm Viết
Vượng.
5. Pháp lệnh cán bộ công chức - Bộ GD & ĐT.
6. Luật GD 2005 - Bộ GD & ĐT.
7. Tâm lí học đại cương - Hà Nội 1995 - PGS. Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên).
8. Thực hành về giáo dục học - Hà Nội 1995 - PTS. Nguyễn Đình Chỉnh.
9. Thông tư số 58/TT – BGDĐT, ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ Giáo dục
& Đào tạo về Ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và
học sinh trung học phổ thông.
19
20