phân tích tác phẩm văn 11 - Pdf 57

VộI VàNG

Xuân Diệu
I. Những tri thức bổ trợ
1. Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm
Xuân Diệu đợc coi là nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới ( Hoài
Thanh ) do chỗ ông hiện diện nh một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất, mang đến một
quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ, giao cảm, tận
hiến và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ : lấy con ngời làm chuẩn mực cho cái
đẹp thay vì lấy thiên nhiên nh trong văn học trung đại.
Thi sĩ đợc giới trẻ tấn phong là ông hoàng của thơ tình yêu bởi đã đem vào
thơ tình một quan niệm đầy đủ, toàn diện, một cách thể hiện mới mẻ, phong phú
đặc biệt là sự diễn đạt chân thực và táo bạo về tình yêu.
Xuân Diệu còn là một cây bút có nhiều tìm tòi, cách tân trong nghệ thuật
ngôn từ : lối diễn đạt chính xác, những thông tin cụ thể, tỉ mỉ mang tính vi lợng,
thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo trong việc sự dụng những cách nói mới nhờ phát
huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan.
Xuân Diệu hấp dẫn bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểm
chính :
- Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trớc sự vận động của thời gian
- Một trái tim luôn hớng đến mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm
yêu đời, yêu sống cuồng nhiệt, sôi nổi.
- Một nghệ sĩ học tập nhiều ở cấu trúc câu thơ Tây phơng hoàn thiện thơ trữ tình
điệu nói để hiện đại hoá thơ Việt.
Bài thơ Vội vàng đợc sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ thơ, thi phẩm đầu
tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu nh một đại diện tiêu biểu nhất của phong
trào Thơ Mới.
2. Tri thức văn hoá
Vội vàng và nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu thờng gây ấn tợng với công
chúng bởi những lời kêu gọi kiểu : Nhanh với chứ với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi! hoặc Gấp lên em! Anh rất sợ ngày mai! Đời

1. Về nội dung
Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi, đây là một quan niệm
sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cá nhân
trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên đợc diễn giải qua một hệ thống cảm
xúc và suy nghĩ mang màu sắc biện luận rất riêng của tác giả.
a/ Từ phát hiện mới: cuộc đời nh một thiên đờng trên mặt đất.
Bớc vào bài thơ, độc giả ngạc nhiên trớc những lời tuyên bố lạ lùng của thi
sĩ:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hơng đừng bay đi!
Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị, ngông cuồng bề ngoài, thực chất bên
trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp : chặn đứng bớc đi của thời gian để có thể
vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời.
Nhng lý do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn
lại dòng chảy của thời gian?
Trong quan niệm của ngời xa, đời là chốn bụi trần, cuộc đời là bể khổ. Đấy là lý
do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng
nh văn chơng đều chủ trơng vẫy gọi con ngời trên hành trình đi tìm sự an lạc tâm
hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên, đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi niết bàn, cõi
Tây Phơng cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng nh văn học trung đại Việt Nam
đều đề cao tâm lý hoài cổ, phục cổ, khuyến khích xu hớng tìm về với những giá trị
trong quá khứ vàng son một đi không trở lại nh đi tìm một thiên đờng đã mất.
Xuân Diệu thuộc thế hệ những ngời trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi, họ không
coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngợc lại, họ không ngần ngại
lao vào đời. Và thật ngạc nhiên, nhờ tuổi trẻ, họ phát hiện ra cuộc đời thực chất
không phải là một cõi mông lung, mờ mờ nhân ảnh, cũng chẳng phải là cái bể khổ
đầy đoạ con ngời bằng sinh, lão, bệnh, tử những định mệnh đã hàng ngàn năm
ám ảnh con ngời mà trái lại, là cả một thế giới tinh khôi, quyến rũ. Tất cả đều hiện

đe doạ sẽ mang theo tất cả, thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật.
Thế là từ đây, thời gian không còn là một đại lợng vô ảnh, vô hình nữa, ngời ta
nhận ra nó trong hơng vị đau xót của chia phôi, ngời ta phát hiện nó tựa một vết
thơng rớm máu trong tâm hồn :
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.
Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt
với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con ngời. Nỗi
cay đắng trớc sự thật đó đợc triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp
theo tơng quan đối lập giữa : lòng ngời rộng mà lợng trời chật; Xuân của thiên
nhiên thì tuần hoàn mà tuổi trẻ của con ngời thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô
thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con ngời, sinh thể sống đầy xúc cảm
và khao khát lại hoá thành h vô. Điều bất công này thôi thúc cái tôi cá nhân đi
tìm sức mạnh hoá giải.
c. Và những giải pháp điều hoà mâu thuẫn, nghịch lý:
Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân, tác giả đề ra
một giải pháp táo bạo. Con ngời không thể chặn đứng đợc bớc đi của thời gian,
con ngời chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi
là vội vàng. Con ngời hiện đại không sống bằng số lợng thời gian mà phải sống
bằng chất lợng cuộc sống sống tận hởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhất
bằng một tốc độ thật lớn và một cờng độ thật lớn.
Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tợng đặc biệt trớc hết bởi nó tựa nh những lời giục
giã chính mình lại nh lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân đợc diễn đạt bằng một
nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, cuồng nhiệt yêu
đời và yêu sống.
Rõ ràng, lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con ngời. Nh đã
nói, đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lý sống gấp mà là ý thức sâu sắc
về cuộc sống của con ngời khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung, sung sức nhất.
Xuân Diệu từng tuyên ngôn : Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn
buồn le lói suốt trăm năm chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này. Vội
vàng, vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ, hiện

Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã
Ân Phú, huyện Hơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ học trờng làng, sau học trung
học ở Huế; đến 1939 ra Hà Nội học trờng Cao Đẳng canh nông, và năm 1943 tốt
nghiệp kỹ s canh nông. Tham gia phong trào Việt minh từ năm 1942, từ 1945 đến
sau này Huy Cận liên tục giữ các chức vụ quan trọng thuộc hàm Thứ trởng, hoặc
Bộ trởng, đặc trách văn hoá văn nghệ.
Huy Cận làm thơ từ năm 1934, đợc đăng báo từ năm 1936. Ngay trong thời
gian ở Huế đã cùng với Hoài Thanh viết những bài bình luận trên các báo Tràng
An, Sông Hơng. Năm 1936, gặp Xuân Diệu ở trờng Khải Định, và kết bạn từ đó.
Từ 1939, ông ra Hà Nội ở chung với Xuân Diệu trên căn gác số 40 phố Hàng
Than.
Tháng 11 năm 1940, tập Lửa thiêng đợc nhà xuất bản Đời Nay của Tự Lực
Văn Đoàn ấn hành, Xuân Diệu đề tựa, Tô Ngọc Vân trình bày bìa, gây một tiếng
vang lớn trên thi đàn.
Năm 1942, Huy Cận cho xuất bản tập văn xuôi Kinh cầu tự, hoàn thành tập
thơ thứ hai Vũ trụ ca, cha in thành sách. Sau 1945, Huy Cận tiếp tục cho ra đời các
tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963).
Những năm sáu mơi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trờng gần chiến trờng xa
(1973), Những ngời mẹ những ngời vợ (1974), Ngày hằng sống ngày hằng thơ
(1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978), v.v...
Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới.
Niềm ám ảnh thờng trực trong thơ Huy Cận là sự hữu hạn của kiếp ngời trớc cõi
vô biên của vũ trụ. Mỗi khi đối diện với một không gian rộng lớn, mênh mang nỗi
ám ảnh trên thờng thăng hoa thành niềm cô đơn, sầu muộn khó hoá giải.
Thơ Huy Cận thiên về suy tởng triết lý hơn là giãi bày, bộc lộ.
Về nghệ thuật, cùng thế hệ với Huy Cận, nhiều ngời hăng hái vận dụng cái mới
trong thơ Tây phơng nhằm cách tân về thi pháp, riêng tác giả thi phẩm Lửa thiêng
thì thờng lẳng lặng kết hợp và dung hoà giữa chủ nghĩa tợng trng trong thơ Pháp
với cái hàm súc, sâu lắng của thơ Đờng để tạo cho thơ mình một vẻ đẹp riêng : vẻ
đẹp cổ điển mà hiện đại.

1. Về nội dung
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của một cái
tôi cô đơn trớc vũ trụ đợc bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng
và hàm súc. Tâm trạng của một cái tôi lãng mạn đó lại đợc thể hiện bằng bút pháp
tả thực vừa phá vỡ qui tắc ớc lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình
mới.
2. Về nghệ thuật
Có thể coi nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Tràng giang là ở sự kết hợp
hài hoà hai phẩm chất : màu sắc cổ điển và chất hiện đại.
1. Mầu sắc cổ điển trong Tràng Giang:
Mầu sắc cổ điển đậm đà, in dấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bài Thơ
Mới.
a/ Cổ điển ở nhan đề:
Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán. Tràng ( một âm đọc khác của
trờng) gợi sự cổ kính. Giang là tên chung để chỉ các dòng sông. Hai chữ này
gợi một không gian cổ kính, trang trọng, bát ngát nh trong Đờng thi, gợi nhớ câu
thơ nổi tiếng của Lý Bạch: Duy kiến trờng giang thiên tế lu ( Hoàng Hạc Lâu
tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
b/ Cổ điển ở đề từ:
Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.
Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ. Sông dài tạo ấn tợng về cái vô
cùng của không gian. Trời rộng và sông dài mở ra không gian ba chiều gợi cảm
giác rợn ngợp của con ngời cô đơn, bé nhỏ trớc cái mênh mang, bất tận của trời
đất. Tâm trạng này từng đợc diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ cô
đọng, đầy ám ảnh của Trần Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca :
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thơng nhiên nhi thế hạ
( Ngời trớc không thấy ai

thơ , đìu hiu , chót vót , mênh mông , lặng lẽ , lớp lớp , dợn dợn .
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng sáng tạo thi liệu của Đờng Thi với rất nhiều hình ảnh
và chất liệu quen thuộc. Đặc biệt câu kết mợn thẳng ý thơ của Thôi Hiệu trong bài
Hoàng Hạc Lâu: Yên ba giang thợng sử nhân sầu ( Trên sông khói sóng cho
buồn lòng ai - Tản Đà dịch ). Điểm khác biệt ở hai tác giả là : Nỗi nhớ nhà của
Thôi Hiệu đợc gợi từ hình ảnh khói sóng còn nỗi nhớ của Huy Cận không cần
tác động của ngoại giới ( Không khói hoàng hôn) vì đã là một yếu tố nội tâm th-
ờng trực. Đây cũng là nét khác biệt cơ bản của hai cách phô diễn cảm xúc tạo nên
đặc điểm riêng của thi pháp thơ trung đại và thi pháp thơ hiện đại.
2. Mầu sắc hiện đại:
Dù bài thơ Tràng giang có in đậm màu sắc cổ điển trên một số phơng diện
nh đã phân tích thì hiện đại vẫn là nét chính của thi phẩm này. Bởi cảm hứng chủ
đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của cái tôi cô đơn trớc vũ trụ đợc
bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng và hàm súc. Tâm trạng
của một cái tôi lãng mạn đó lại đợc thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ qui
tắc ớc lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới.
Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nỗi buồn đó đợc thể hiện đa dạng với nhiều cung
bậc và hết sức tinh tế.
Ngay trong khổ thơ đầu, nỗi sầu muộn đã thấm vào cái nhìn cảnh vật. Tuy
thuyền và nớc song song nhng thuyền về ngợc hớng với nớc lại gợi liên t-
ởng về một sự ngổn ngang trăm mối trong lòng. Và hình ảnh gây ấn tợng chính là
hình ảnh củi trong câu Củi một cành khô lạc mấy dòng. Theo lời thổ lộ của
chính tác giả, trong bản thảo, ông đã băn khoăn nhiều, cân nhắc rất kỹ trớc khi
chọn hình ảnh này. Qủa nhiên, chi tiết giàu chất thực đó mang đến cho câu thơ
một màu sắc hiện đại. Hình ảnh củi không chỉ tạo một ấn tợng mới mẻ mà còn
gợi những liên tởng và suy ngẫm về kiếp ngời lam lũ, tủi cực, lênh đênh
Mạch cảm xúc trong khổ thơ tiếp theo diễn tả nỗi ám ảnh về cái hờ hững, mất liên
lạc giữa con ngời và tạo vật cùng cảm giác trống trải của tâm hồn con ngời trớc cái
thế giới hoang vắng với hình ảnh bóng cây lơ thơ trên những cù lao nhỏ trơ trọi
và ngọn gió hiu hắt buồn nh thổi về từ nghìn năm trớc. Cảm giác trống trải trớc

Trong khổ thơ còn có sự diễn đạt mang tính tăng cấp nhấn vào các ngôn từ mang
tính phủ định khiến ngời đọc nảy sinh những liên tởng và so sánh. Từ khách vắng
teo của Nguyễn Khuyến qua đã vắng ng ời sang những chuyến đò của Xuân
Diệu cho đến hàng loạt từ không đò , không cầu , lặng lẽ của Huy Cận là cả
một hành trình càng đi sâu càng thấy lạnh ( Hoài Thanh ) của con ngời khi bớc
vào thế giới hiện đại.
Khổ thơ cuối diễn tả một sự đối lập cao độ giữa con ngời với vũ trụ. Cái
mênh mông của không gian: lớp lớp mây cao đùn núi bạc tơng phản gay gắt với
hình ảnh chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. Rõ ràng, không còn là cánh
chim mang tính nghệ thuật thuần tuý duy mĩ nh trong Đờng Thi: Chiếc cò bay
với ráng pha/ Sông xanh cùng với trời xa một màu Vơng Bột hay cảnh
Bạch lộ song song phi hạ điền ( Đôi cò trắng song song bay xuống cánh đồng -
Thiên Trờng vãn vọng - Trần Nhân Tông) nữa. Cánh chim ở đây chứa đựng cái tôi
rợn ngợp trớc hoàng hôn, gợi ám ảnh về cái hữu hạn của kiếp ngời trớc cái vô hạn
của tạo hoá.
Nhu cầu tìm về một hình ảnh thân thơng, quen thuộc sởi ấm lòng ngời trong
bối cảnh nỗi cô đơn đang ngập tràn tâm trạng nh sắp dìm cái tôi trữ tình vào một
nỗi buồn vừa mang tính muôn thuở vừa cha từng trải qua bao giờ sẽ là một tất yếu.
Đấy là lý do vì sao bài thơ kết thúc bởi hai câu :
Lòng quê dợn dợn vời con nớc
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
vừa nh chịu ảnh hởng từ hai câu thơ của nổi tiếng của Thôi Hiệu: Nhật mộ hơng
quan hà xứ thị/ Yên ba giang thợng sử nhân sầu vừa nh muốn đối lập với ngời xa
bằng lối bộc lộ cảm xúc trực tiếp theo phong cách của con ngời thời hiện đại.
Chữ ngời tử tù
Nguyễn Tuân
I. Những kiến thức bổ trợ
1. Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm
Nguyễn Tuân là một nhà văn có cá tính độc đáo, có thể coi là một định
nghĩa về ngời nghệ sĩ.

2.Tri thức về văn hoá
Văn chơng lãng mạn thờng ít dựa vào nguyên mẫu. Trờng hợp sử dụng
nguyên mẫu trong Chữ ngời tử tù có thể coi là một cá biệt, hơn nữa đây là một
nguyên mẫu rất độc đáo, mở ra khuynh hớng yêu nớc trong sáng tác của Nguyễn
Tuân điều ít thấy các cây bút lãng mạn khác.
Nguyên mẫu của Huấn Cao là Cao Bá Quát, nhà nho kiệt xuất, nghệ sĩ tài
hoa và khí phách, nhà thơ tài năng với tâm hồn phóng khoáng nhạy cảm với cái

Trích đoạn Đặc sắc nghệ thuật:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status