Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hội liên hiệp phụ nữ từ năm 1996 đến năm 2016 tt - Pdf 57

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HỒNG MIÊN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI
NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2019


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS,TS. Nguyễn Danh Tiên
2. TS. Nguyễn Duy Hạnh

Phản biện 1: ...............................................................................
...............................................................................

Phản biện 2: ...............................................................................
...............................................................................

Phản biện 3: ...............................................................................
...............................................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp
tại Học việc Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Hội cấp cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác
Hội. Do đó, chưa tập hợp được động đảo phụ nữ và chưa phát huy được mọi
tiềm năng của phụ nữ trong xây dựng và phát triển đất nước thời kỳ đổi mới.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) đất nước, nhiều vấn đề trong nước và quốc tế đã và đang đặt ra cho
công tác vận động và tổ chức quần chúng của Đảng và tất cả các thành viên
của Mặt trận Tổ quốc, trong đó có Hội LHPN Việt Nam. Ðể đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Ðảng ta đặc biệt coi trọng phát huy
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên sự nỗ lực vượt bậc của toàn
dân, trong đó có phụ nữ. Đổi mới ND, PT hoạt động để hoàn thành tốt các
nhiệm vụ của Hội được xem là vấn đề có ý nghĩa sống còn nhằm phát huy
vai trò to lớn và mọi tiềm năng của phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Do đó, đòi hỏi Đảng và các cấp chính quyền phải tăng cường sự lãnh
đạo, chỉ đạo đối với công tác phụ nữ, đổi mới ND, PT hoạt động của Hội


2

LHPN Việt Nam để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn,
đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất
nước và thực hiện bình đẳng giới.
Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt của Hội Liên hiệp
Phụ nữ từ năm 1996 đến năm 2016” làm đề tài Luận án Tiến sỹ Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của
Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016. Trên cơ sở đó, đúc kết


Về thời gian: Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT
hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016. Năm 1996
là năm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, đề ra đường lối đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước. Năm 2016 là năm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, tổng kết 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới ND,
PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, của Đảng về phụ nữ
và công tác vận động phụ nữ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ
yếu. Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp khác như: Phương
pháp phân tích, tổng hợp, thống kê; so sánh; phỏng vấn các nhân chứng lịch
sử...và các phương pháp nghiên cứu liên ngành.
4.3. Nguồn tư liệu
Một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ; các
Văn kiện của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về công tác phụ nữ; các Văn kiện
Đại hội, các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Hội LHPN Việt Nam; Các công
trình khoa học liên quan đến đề tài luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, tổng quan những nội dung những công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài luận án, trên cơ sở đó, khái quát những kết quả đã đạt được,
chỉ rõ những hạn chế mà luận án tập trung giải quyết.
Hai là, làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng lãnh đạo đổi
mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và làm sáng tỏ quá trình
Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm
1996 đến năm 2016.
Ba là, luận án đưa ra một số nhận xét về những ưu điểm, hạn chế và

tham gia các hoạt động quản lý Nhà nước, xã hội của Hà Thị Khiết; Kỷ yếu
hội thảo khoa học, Những vấn đề lý luận về công tác phụ nữ ở Việt Nam
trong tình hình mới của Hội LHPN Việt Nam.
Các tác giả đã hệ thống hóa những tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan
điểm, chủ trương Đảng về công tác phụ nữ; vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với công tác phụ nữ và tổ chức Hội LHPN Việt Nam; khẳng định vai trò
quan trọng của phụ nữ Việt Nam và trách nhiệm của Hội LHPN Việt Nam
trong đời sống chính trị của đất nước thời kỳ đổi mới.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về phụ nữ và Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam
Tiêu biểu là các cuốn sách, Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước của Hội LHPN Việt Nam; Vai
trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế
của Hoàng Thị Ái Nhiên; Gia đình Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong
giai đoạn hiện nay của Dương Thị Minh; Bài viết, Nhiệm vụ trọng tâm, then
chốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam các cấp trong thời kỳ mới của
Nguyễn Thị Thanh Hòa; đề tài, Sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam trong đời sống chính trị - xã hội của Đinh Thị Hà.


5

Luận án, Vai trò của nữ cán bộ quản lý Nhà nước trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Võ Thị Mai;Vấn đề phát triển nguồn
nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Giáng
Hương, và nhiều bài viết của các tác giả trong và ngoài nước đã khẳng định
vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; nêu
lên vị thế, vai trò của phụ nữ và Hội LHPN Việt Nam trong đời sống chính
trị-xã hội; đánh giá thực trạng thành tựu và hạn chế của Hội LHPN Việt
Nam trong các hoạt động chính trị- xã hội; phân tích nguyên nhân của


PT của Hội LHPN, chỉ ra nguyên nhân thực trạng và đề xuất một số giải
pháp thực hiện tốt đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
trong giai đoạn tiếp theo.
1.2. KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG
TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN
ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1. Nội dung các công trình đã nghiên cứu, giải quyết
Các công trình nghiên cứu trên đã đánh giá vai trò lãnh đạo quan trọng
của Đảng đối với công tác phụ nữ trong thời kỳ đổi mới; xác định tầm quan
trọng của các cấp ủy đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới ND,
PT hoạt động của Hội LHPN; đánh giá những kết quả đạt được và những
hạn chế trong hoạt động của Hội LHPN Việt Nam. Phân tích những thuận
lợi và khó khăn của công tác Hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đề
xuất những định hướng, giải pháp đổi mới ND, PT hoạt động của Hội
LHPN. Các công trình nghiên cứu trên đã phần nào gợi mở tính cấp thiết
của việc nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của
Hội LHPN nhằm thực hiện tốt hơn công tác phụ nữ của Đảng trong thời kỳ
mới. Kết quả của những công trình nghiên cứu trên ở những mức độ khác
nhau có ý nghĩa soi chiếu và là cơ sở để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu
quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt
Nam từ năm 1996 đến năm 2016.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ thêm
Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến việc đổi mới ND, PT hoạt
động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016. Trong đó, nêu
rõ những thời cơ, thuận lợi và những khó khăn, thách thức đối với việc đổi
mới ND, PT của các cấp Hội.
Hai là, phân tích quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới ND,
PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và làm rõ quá trình Đảng chỉ đạo

Việt Nam; quán triệt, tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện
của các tổ chức Đảng, đảng viên, Hội LHPN Việt Nam, các tổ chức trong
hệ thống chính trị, tổ chức xã hội và nhân dân theo quy định vì sự tiến bộ,
phát triển của phụ nữ và mục tiêu bình đẳng giới.
*Khái niệm đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
Khái niệm “nội dung hoạt động” của Hội LHPN Việt Nam được
hiểu: Là toàn bộ những vấn đề, lĩnh vực mà Hội LHPN Việt Nam chỉ đạo,
tổ chức triển khai để thực hiện tôn chỉ, mục đích, chức năng nhiệm vụ của
Hội. Nói cách khác, nội dung hoạt động của Hội LHPN Việt Nam là những
công việc mà Hội thực hiện vì sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ và mục tiêu
bình đẳng giới.
Khái niệm “phương thức hoạt động” của Hội LHPN Việt Nam: Là
các cách thức, phương pháp Hội LHPN Việt Nam vận dụng để thực hiện nội
dung hoạt động của Hội.


8

Khái niệm “Đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam” là
duy trì và phát huy những ND, PT hoạt động phù hợp với thực tiễn, hiệu
quả; thay đổi, cải tiến những ND, PT hoạt động chưa hiệu quả, chưa phù
hợp thực tiễn công tác phụ nữ; khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ, đáp ứng
yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi ngày càng cao của công tác phụ nữ, góp
phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

2.1.1.2. Nhận thức và chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996
Tại Đại hội VI (1986), Đảng đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong
sự nghiệp cách mạng của đất nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội chỉ rõ: “Để
phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho

2.1.2.1. Tình hình đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trước năm 1996
Thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới ND, PT của hội LHPN
Việt Nam, năm 1989, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã phát động phụ
nữ cả nước hưởng ứng hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế
gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng
và bỏ học”. Năm 1992, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ VII đã
cụ thể hóa các nội dung hoạt động thành “5 chương trình trọng tâm” và đã
được phụ nữ trong cả nước tích cực hưởng ứng, được các cấp ủy đảng,
chính quyền đánh giá cao góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia
đình và xã hội. Đặc biệt, tiềm năng to lớn của phụ nữ được phát huy, quy
tụ trong các phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà", "Ngày tiết
kiệm vì phụ nữ nghèo". Phong trào phụ nữ có bước phát triển mới, đóng
góp xứng đáng vào những thành tựu kinh tế, xã hội của đất nước thời kỳ
đổi mới. Tuy nhiên, hoạt động đổi mới ND, PT của Hội LHPN còn những
hạn chế: Việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội chưa đáp ứng được nhu
cầu của các đối tượng phụ nữ. Một bộ phận cán bộ Hội các cấp còn hạn
chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Việc thu hút hội viên chưa cao.
* Nguyên nhân chủ quan và khách quan của những hạn chế
2.1.2.2. Yêu cầu khách quan của việc đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
- Đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nhằm đáp ứng
yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- Đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam gắn với đổi
mới, hoàn thiện hệ thống chính trị.
- Đổi mới ND, PT hoạt động của hội LHPN Việt Nam nhằm đáp ứng
yêu cầu về dân chủ hóa đời sống xã hội và hội nhập quốc tế.


10

Thứ hai, đổi mới, đa dạng hình thức tổ chức, phong phú nội dung
hoạt động của Hội LHPN bám sát mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, nhiệm
vụ chính trị trọng tâm của đất nước và của từng địa phương.


11

Thứ ba, về phương thức hoạt động, tăng cường công tác tham mưu,
đề xuất với các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác phụ nữ đảm bảo
nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; nâng cao nhận thức, trách
nhiệm của các cấp, các ngành về công tác phụ nữ.
2.2.2. Đảng chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

2.2.2.1. Chỉ đạo nâng cao vai trò Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
trong hệ thống chính trị, từng bước xây dựng, bổ sung chính sách, pháp
luật về công tác phụ nữ
Việc Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chính sách cụ thể về công tác
phụ nữ đã tạo điều kiện để Hội LHPN Việt Nam đẩy mạnh đổi mới ND, PT
hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ; nhận thức của các cấp ủy đảng, chính
quyền về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị từng
bước được nâng lên, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
2.2.2.2. Chỉ đạo đổi mới nội dung hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam
*Chỉ đạo đổi mới các hoạt động thực hiện vai trò đại diện bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, nâng cao quyền làm chủ
cho phụ nữ
- Tăng cường đổi mới việc tham gia xây dựng chính sách pháp luật.
- Công tác tư vấn pháp luật, giải quyết đơn thư, các cấp Hội chú trọng
việc tư vấn pháp luật về các lĩnh vực hôn nhân gia đình, tranh chấp đất đai,

đảng viên nữ; tham mưu các biện pháp, đề xuất các chỉ tiêu về tỉ lệ nữ trong
các vị trí lãnh đạo các cấp.
* Chỉ đạo mở rộng, đa dạng hóa hoạt động phối hợp với chính quyền
và các ban, ngành, đoàn thể để thực hiện nhiệm vụ chính trị của Hội
Nghị định số 19/2003/NĐ-CP, xác định: Cơ quan hành chính nhà nước
các cấp có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho Hội Phụ nữ
cùng cấp tham gia các hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến phụ nữ. Các
cấp Hội tích cực phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể trong tham gia thực
hiện các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, đất nước.

* Đổi mới công tác chỉ đạo trong hệ thống Hội
Hội LHPN Việt Nam tăng cường đổi mới phương thức, linh hoạt trong
tổ chức thực hiện các hoạt động của Hội. Với phương châm “nơi nào có phụ
nữ, nơi đó có tổ chức Hội”, các hoạt động của Hội đã mở rộng sang các mô
hình theo ngành nghề, sở thích, lứa tuổi nhằm tập hợp, thu hút được đông
đảo các tầng lớp phụ nữ tham gia tổ chức Hội.
Trong công tác chỉ đạo Hội, việc đổi mới công tác kiểm tra việc thực
hiện Điều lệ, Nghị quyết của Hội được các cấp Hội chú trọng, đẩy mạnh.


13

2.2.2.4. Chỉ đạo về đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ Hội
* Đổi mới về tổ chức bộ máy: Hệ thống tổ chức 4 cấp từ Trung ương tới
tỉnh, huyện và cơ sở không ngừng được kiện toàn, khắc phục dần tình trạng
chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, tạo sự thống nhất cao trong các cấp hội.
* Đổi mới về công tác cán bộ: Với những đổi mới trong công tác cán
bộ, đội ngũ cán bộ Hội các cấp đã được tăng cường về số lượng, nâng cao
về chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Tiểu kết chương 2

toàn dân là yếu tố quyết định sự thành công của Việt Nam trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước và Hội nhập quốc tế. Đổi mới ND, PT hoạt
động của Hội LHPN Việt Nam là yêu cầu tất yếu nhằm đoàn kết tất cả các
tầng lớp phụ nữ phát huy sức mạnh của phụ nữ trong xây dựng và phát triển
đất nước.

3.1.1.2. Những yêu cầu mới đặt ra cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Sau 20 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội LHPN
các cấp đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về đổi mới
ND, PT hoạt động. Hội LHPN Việt Nam luôn giữ vững vai trò nòng cốt
trong phong trào phụ nữ, bám sát chức năng của Hội, nhiệm vụ chính trị của
đất nước, thực hiện tốt vai trò đại diện quyền làm chủ của phụ nữ; chủ động
tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành một số chính sách, luật pháp có ý
nghĩa chiến lược về công tác phụ nữ, cán bộ nữ và bình đẳng giới.
Tuy nhiên, trong tình hình mới, phong trào phụ nữ và hoạt động của
Hội LHPN còn những hạn chế nhất định. Nổi lên là tỷ lệ nữ tham gia lãnh
đạo, quản lý, tham gia các cơ quan dân cử còn thấp; việc làm của lao động
nữ thiếu ổn định, điều kiện lao động, điều kiện sống không được đảm bảo;
các giá trị truyền thống và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người phụ
nữ có phần bị mai một; các hoạt động của Hội chưa đáp ứng kịp thời những
vấn đề đặt ra đối với một số đối tượng phụ nữ. Đó chính là những thách
thức lớn đòi hỏi Hội LHPN Việt Nam phải tăng cường đổi mới ND, PT, đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn.
3.1.2. Chủ trương của Đảng về đẩy mạnh đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006), Đảng xác định: “Tăng
cường đổi mới ND, PT hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân là yếu tố quan trọng góp phần đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân
dân trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”.
Ngày 9/02/2007, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 10/NQ-TW “Về

nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), quan điểm của Đảng về công
tác phụ nữ thể hiện ngắn gọn: "Thực hiện bình đẳng giới và hành động vì sự
tiến bộ của phụ nữ".
Ngày 18/01/2013 Ban Bí thư đã ra Thông báo Kết luận số 55- KL/TW
Về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị
Khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại


16

hóa đất nước”, khẳng định: “Công tác phụ nữ là vấn đề lớn, quan trọng và
là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”.
Đặc biệt, Đại hội XII (2016), Đảng tiếp tục khẳng định: “Phải thực
hiện tốt bình đẳng giới, tạo mọi điều kiện cho phụ nữ có cơ hội, điều kiện
phát triển tài năng cá nhân; không chỉ nâng cao đời sống vật chất mà phải
nâng cao cả đời sống tinh thần cho phụ nữ”.
Vấn đề phụ nữ được đề cập đến trong 3 kỳ Đại hội liên tiếp đã khẳng
định mối quan tâm sâu sắc của Đảng đối với công tác phụ nữ. Đảng đã đưa
ra những định hướng mang tính toàn diện từ việc nâng cao năng lực cho phụ
nữ, đảm bảo các cơ chế, chính sách về bình đẳng giới trong vấn đề tham
chính đến việc đưa ra các giải pháp để hỗ trợ phát triển tài năng, nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho phụ nữ. Đây được coi là tư duy đột phá
mang tính chất chiến lược của Đảng về công tác phụ nữ, vì sự tiến bộ của
phụ nữ, là một chủ trương đặc biệt quan trọng trong quá trình Đảng lãnh
đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 2006 đến
năm 2016.
3.2. ĐẢNG CHỈ ĐẠO ĐẨY MẠNH ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG
THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

3.2.1. Chỉ đạo nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt

ngành chức năng tăng cường việc nâng cao chất lượng công tác tư vấn pháp
luật, trợ giúp pháp lí cho phụ nữ và trẻ em.
3.2.2.3. Chỉ đạo đổi mới các hoạt động nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho phụ nữ và giải quyết những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ
Hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm được đổi mới
với nhiều sáng kiến. Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh
tế”,“Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ”, được duy trì; Các cấp Hội đã tổ chức
các cuộc vận động lớn “Mái ấm tình thương”,“Thực hành tiết kiệm theo
gương Bác” với nhiều hình thức sáng tạo “Hũ gạo tiết kiệm”, “Nuôi heo
đất”… được triển khai sâu rộng khắp cả nước. Tăng cường công tác đào tạo
nghề cho phụ nữ, tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo nghề và nâng cao chất
lượng, hiệu quả cạnh tranh của lao động nữ.
Đổi mới trong hoạt động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình “no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” và tham gia giải quyết các vấn đề xã hội là
chương trình trọng tâm được các cấp Hội chỉ đạo lồng ghép chặt chẽ trong
triển khai thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động
sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, gắn với 02 cuộc vận động “Xây
dựng gia đình 5 không 3 sạch”, “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: tự tin, tự
trọng, trung hậu, đảm đang” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,


18

phong cách Hồ Chí Minh. Công tác tư vấn, hỗ trợ hôn nhân, gia đình từng
bước được đẩy mạnh. Nhiều mô hình được duy trì và nhân rộng, thu hút các
nhóm phụ nữ tham gia.
Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế của Hội ngày càng được mở
rộng và phát triển với mục tiêu Mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế vì bình
đẳng, phát triển và hoà bình.
3.2.3. Chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới phương thức hoạt động của Hội

đổi mới với phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo,
xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và các phong trào, cuộc
vận động do các cấp, các ngành phát động.
3.2.4. Chỉ đạo đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ
* Đổi mới về tổ chức bộ máy: Theo Quyết định số 282-QĐ/TW của
Ban Bí thư, bộ máy Hội tiếp tục được củng cố, kiện toàn với hệ thống tổ
chức 4 cấp tạo sự thống nhất cao trong các cấp hội.
* Đổi mới về công tác cán bộ: Việc triển khai hiệu quả các đề án về
công tác cán bộ của Hội LHPN Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao
năng lực, trình độ và chuẩn hóa cán bộ Hội các cấp.

Tiểu kết chương 3
Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 2006 đến năm 2016, dưới sự
lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, Hội LHPN các cấp đã không
ngừng nỗ lực đổi mới ND, PT hoạt động, tăng cường thực hiện phương
châm hướng mạnh hoạt động về cơ sở, chú trọng công tác phát triển tổ chức
Hội, tích cực đổi mới phương thức, sáng tạo trong xây dựng các mô hình
tập hợp phụ nữ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây
dựng gia đình ấm no, hạnh phúc; chú trọng công tác chăm lo bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp, chính đáng cho phụ nữ. Kết quả đổi mới ND, PT hoạt
động của Hội LHPN Việt Nam đã khắc phục được những hạn chế về công
tác phụ nữ giai đoạn trước. Đồng thời, chứng tỏ sự nỗ lực của Hội LHPN
Việt Nam trong đổi mới ND, PT hoạt động hoàn toàn sát thực, phù hợp với
tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ, đưa phong trào phụ nữ ngày càng phát
triển vững mạnh, phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước.


20

đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của cả xã hội, đặc biệt là cán bộ, hội
viên, phụ nữ.


21

4.1.2. Hạn chế, nguyên nhân
4.1.2.1. Hạn chế
Một là, việc hoạch định chủ trương, biện pháp đối với công tác phụ
nữ, đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam của Đảng còn
chậm so với yêu cầu và đòi hỏi của tình hình thực tiễn.
Hai là, một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ vị trí,
vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong hệ thống chính trị và tầm quan trọng
của việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội.
Ba là, việc triển khai chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công
tác phụ nữ, đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN ở một số cấp ủy
đảng, chính quyền, ban ngành chưa thực sự hiệu quả.
Bốn là, một số cơ chế, chính sách về công tác phụ nữ còn nhiều
bất cập đã hạn chế hiệu quả đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN
Việt Nam.
Năm là, việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác tổ chức, cán bộ của
Hội LHPN các cấp vẫn còn bất cập; công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ
của phụ nữ vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ CNH,
HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.
4.1.2.2. Nguyên nhân của hạn chế
* Nguyên nhân chủ quan
* Nguyên nhân khách quan
4.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG VỀ LÃNH ĐẠO ĐỔI
MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016

của phụ nữ. Nhờ đó, công tác phụ nữ đã đạt được những thành tựu quan
trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước. Những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế và kinh
nghiệm quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN
Việt Nam tạo tiền đề để nâng cao chất lượng lãnh đạo hoạt động của Hội
LHPN của Đảng, góp phần xây dựng Hội LHPN Việt Nam trở thành tổ
chức chính trị - xã hội ngày càng vững mạnh trong hệ thống chính trị.


23

KẾT LUẬN
Hội LHPN Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, một thành tố trong
hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại diện
và tập hợp các tầng lớp phụ nữ, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển và
tiến bộ của phụ nữ; chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng
cho phụ nữ; tham gia quản lý Nhà nước; đồng thời, đoàn kết, vận động, tổ
chức phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà
nước. Sau 86 năm ra đời và phát triển, Hội LHPN Việt Nam đã không
ngừng đổi mới ND, PT hoạt động, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị tập hợp,
lãnh đạo, phát huy tiềm năng to lớn của phụ nữ trong phát triển kinh tế, xã
hội; từng bước khẳng định vai trò quan trọng của mình trong hệ thống
chính trị. Hội LHPN Việt Nam thực sự trở thành cầu nối giữa Đảng với
đông đảo quần chúng phụ nữ.
Trước năm 1996, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cấp ủy đảng, chính
quyền đã chỉ đạo Hội LHPN các cấp bước đầu đổi mới ND, PT hoạt động.
Tuy nhiên, việc đổi mới ND, PT hoạt động của Hội LHPN Việt Nam còn
nhiều hạn chế, Hội chưa thực sự khẳng định được vị trí quan trọng của mình
trong hệ thống chính trị. Từ năm 1996 đến năm 2016, việc đổi mới ND, PT
hoạt động của Hội LHPN Việt Nam được Đảng quan tâm đặc biệt. Với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status