Tổ chức, hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 1976-2002 - Pdf 25

1

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN NGUYễN THị MAI
Tổ CHứC, HOạT ĐộNG CủA
HộI LIÊN HIệP PHụ Nữ VIệT NAM 1976 - 2002

LUậN VĂN THạC Sĩ LịCH Sử
LUậN VĂN THạC Sĩ LịCH Sử
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS. Tr-ơng Thị Tiến Hà Nội - 2013
3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
VIỆT NAM (1976 – 1987) 11
1.1. Khái quát tổ chức, hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
trước năm 1976 11
1.2. Tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong
những năm 1976 - 1982 18
1.2.1. Hoàn thiện và củng cố tổ chức 18
1.2.2. Hoạt động chính của Hội 27


5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam, phụ nữ luôn giữ một vai
trò quan trọng. Nhận thức được tầm quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp cách
mạng, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ “Nam nữ bình
quyền” và chủ trương thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp
phụ nữ tham gia cách mạng.
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức quần chúng, tập hợp rộng rãi các
tầng lớp phụ nữ Việt Nam, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm
lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, là thành viên của Mặt
trận tổ quốc Việt Nam.
Từ khi ra đời, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã khẳng định được vai trò, vị
thế của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nói chung và giải phóng
phụ nữ nói riêng, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong 2 cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng là một
mặt trận đoàn kết đông đảo phụ nữ trong cả nước và kêu gọi, tranh thủ sự ủng hộ
của phụ nữ quốc tế vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc.
Từ năm 1976, dưới sự chỉ đạo chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã phối hợp cùng các ngành các cấp thực hiện các mục
tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, Hội cũng đưa ra chương trình hành
động riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, chăm lo cho đời
sống của phụ nữ và trẻ em.
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI khẳng định quyết tâm đổi mới
toàn diện, mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với tư
cách là một thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã tổ chức, vận động chị em
phụ nữ bằng những hành động thiết thực góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất
nước. Hoạt động của các cấp Hội được tổ chức từ Trung ương đến cấp xã với đông

Cuốn Phong trào “Phụ nữ ba đảm đang” trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước do tác giả Lê Chân Phương biên soạn, Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành 2005.
Sách tập trung trình bày, phân tích một phong trào cụ thể của Hội Liên hiệp phụ nữ
7

Việt Nam là “Phụ nữ ba đảm đang” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các hoạt
động khác của Hội và tổ chức Hội chưa được đề cập.
Cuốn Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc đổi
mới đất nước do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa
thông tin phát hành năm 2007. Công trình đi vào đánh giá, phân tích vai trò, vị thế
của phụ nữ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công
cuộc đổi mới đất nước thông qua việc khái quát các hoạt động, phong trào chính do
Hội phát động, tổ chức. Tổ chức Hội và vai trò của Hội chưa được quan tâm đi sâu
phân tích.
Công trình khoa học “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị đáp ứng các yêu cầu xây
dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” năm 2002 do TS. Thang
Văn Phúc làm chủ nhiệm đề tài. Công trình tập trung làm rõ sự đổi mới về tổ chức
và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể trong điều kiện phát triển nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa, trong đó sự đổi mới về tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt
Nam mới chỉ được đề cập một cách chung chung, không chuyên sâu (phần viết
riêng về Hội chiếm dung lượng nhỏ so với toàn bộ nội dung công trình) và chủ yếu
đi vào khía cạnh dân chủ đại diện của tổ chức Hội.
Đặc biệt, sách viết về phong trào phụ nữ các tỉnh chiếm một tỉ lệ không nhỏ
trong các cuốn sách viết về phụ nữ Việt Nam: Lịch sử phong trào phụ nữ Thái Bình,
giai đoạn 1927 – 2000 do nhóm các tác giả Vũ Thị Thu Hạ, Lê Công Hưng, Trần
Mạnh Hưng… biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2003;
“Lịch sử phong trào phụ nữ Hà Nội 1954 – 1987” do Hội Liên hiệp phụ nữ Hà Nội
biên soạn, Nhà xuất bản Hà Nội phát hành năm 1989; “Lịch sử phong trào phụ nữ
tỉnh Bắc Ninh (1930-2000)” do nhóm tác giả Phạm Khắc Thiệu, Nguyễn Xuân Hoà,

đó để thấy rõ vai trò, vị trí của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước.
3.2. Nhiệm vụ
- Tập hợp, hệ thống tư liệu về tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ
Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2002.
9

- Trình bày những thay đổi về cơ cấu tổ chức của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam qua các nhiệm kỳ Đại hội phụ nữ (từ sau Hội nghị thống nhất Hội Liên hiệp
phụ nữ Việt Nam năm 1976 đến hết nhiệm kỳ Đại hội VIII năm 2002).
- Trình bày, phân tích hoạt động chính của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
theo giai đoạn, nhiệm kỳ Đại hội Phụ nữ.
- Đúc kết một số nhận xét về mô hình tổ chức và hoạt động của Hội từ năm
1976 đến năm 2002.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp
phụ nữ Việt Nam với tư cách là một tổ chức chính trị - xã hội, đại diện cho quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, thành viên của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4.2. Phạm vi
- Về nội dung: Tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là
một vấn đề khá rộng. Vì vậy, trong khuôn khổ một bản Luận văn Thạc sĩ, đề tài tập
trung đi sâu nghiên cứu tổ chức bộ máy Hội ở cấp Trung ương và các hoạt động
chính, chương trình trọng tâm của Hội theo từng nhiệm kỳ.
- Về thời gian, không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức và hoạt động
của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ sau Hội nghị thống nhất (1976) đến hết
nhiệm kỳ Đại hội phụ nữ lần thứ VIII (2002) trên phạm vi cả nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Là một công trình nghiên cứu lịch sử, nên phương pháp nghiên cứu chính

Chương 1:
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
VIỆT NAM (1976 – 1987)

1.1. Khái quát tổ chức, hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
trước năm 1976
Ra đời từ năm 1930, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã từng bước khẳng
định vai trò, vị trí của mình, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trải qua các thời kỳ với các tên gọi khác nhau: Phụ nữ giải phóng (1930 – 1935),
Phụ nữ dân chủ (1936 – 1939), Phụ nữ phản đế (1939 – 1941), Đoàn phụ nữ Cứu
quốc (1941 – 1945), phụ nữ Việt Nam đã có nhiều hoạt động tích cực, sôi nổi đóng
góp vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước.
Cách mạng Tháng Tám thành công, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam chính
thức được thành lập, nòng cốt là Đoàn phụ nữ Cứu quốc đại diện cho các tầng lớp
phụ nữ Việt Nam đứng trong hàng ngũ đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc.
Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất diễn ra từ ngày 14-19/4/1950 tại thôn
La Bằng, xã Cù Vân (nay là xã Phú Xuyên), huyện Đại Từ, Thái Nguyên đã ra
Quyết nghị hợp nhất Đoàn phụ nữ Cứu quốc Việt Nam vào Hội LHPNVN thành
một tổ chức chính trị duy nhất của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, lấy tên là Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương Hội gồm 32 uỷ viên, Ban thường
trực Trung ương Hội gồm 9 uỷ viên, bà Lê Thị Xuyến được bầu là Hội trưởng và 3
Phó Hội trưởng. Trong ban chấp hành Trung ương Hội LHPNVN khoá I có đầy đủ
các thành phần dân tộc, tôn giáo, nhân sĩ, trí thức, nội trợ Đặc biệt, có sự tham gia
của 04 nữ đại biểu quốc hội khoá I là bà Lê Thị Xuyến (uỷ viên thường trực quốc
hội); bà Nguyễn Thị Thục Viên (uỷ viên thường trực quốc hội); bà Tôn thị Quế và
bà Trương Thị Mỹ.
Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ I công nhận sự sáp nhập của Đoàn phụ nữ
cứu quốc và tiếp nhận bộ phận nữ công nhân viên chức của Tổng liên đoàn lao động
12

13

tiến bộ xã hội cũng như tuyên truyền cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân
dân Việt Nam.
Thời kỳ 1954 – 1975 là thời kỳ tổ chức Hội phụ nữ cơ bản được kiện toàn và
hoạt động sôi nổi hơn so với thời kỳ trước.
Qua ba lần đại hội (Đại hội II: 1956, Đại hội III: 1961, Đại hội IV: 1974), bộ
máy tổ chức Hội từ Trung ương đến cơ sở từng bước được củng cố và hoàn thiện.
Ở Trung ương, đến Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IV, Ban Thường trực
Trung ương Hội tồn tại từ khóa I đến khóa III được thay bằng Ban Thường vụ
Trung ương Hội. Các ban, đơn vị chuyên môn giúp việc có một số ban giữ nguyên,
một số ban, đơn vị được thành lập mới, một số ban thay đổi về tên gọi, nhiệm vụ,
nội dung hoạt động. Sau Đại hội II, bộ máy tổ chức Trung ương Hội gồm 9 ban,
đơn vị: Văn phòng thường trực, Ban Tổ chức, Ban Liên lạc quốc tế, Ban Tuyên
huấn, Ban Nghiên cứu phụ vận (khóa I là Ban Nghiên cứu kiểm tra), Báo phụ nữ
Việt Nam, Ban phúc lợi (tên gọi ban đầu là Ban Xã hội), Trường Cán bộ phụ nữ
Trung ương. Sau Đại hội III, số lượng các ban, đơn vị được giữ nguyên, một số ban,
đơn vị được đổi tên cho phù hợp với nhiệm vụ, yêu cầu. Văn phòng thường trực
thời kỳ này được đổi tên thành Ban Văn phòng Trung ương Hội, Ban Quốc tế thay
tên cũ là Ban Liên lạc quốc tế. Năm 1974, đứng trước tình hình mới của cách mạng
cả nước, miền Nam chuẩn bị giải phóng, nhiệm vụ thống nhất nước nhà sắp hoàn
thành, nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng chung của cả nước và phong trào, hoạt
động riêng của phụ nữ, một số ban, đơn vị mới được thành lập ở Trung ương Hội.
Do đó, sau Đại hội IV, bộ máy tổ chức ở Trung ương Hội tăng thêm 4 ban, đơn vị
mới, nâng tổng số ban, đơn vị sau Đại hội IV lên 13. Các ban, đơn vị mới thành lập
gồm: Ban Kinh tế Tài chính, Bộ phận theo dõi phát triển phụ nữ B2K5, Trường Lê
Thị Riêng và Ban miền Nam (Ngoài ra, năm 1974, có 2 ban mới được thành lập sau
Đại hội: Ban Nông nghiệp, Ban Công nghiệp. Năm 1975, thành lập thêm Ban Sử).
Cấp cơ sở, tổ chức Hội phụ nữ được tổ chức theo phân cấp tổ chức hành
chính, từ khu xuống tỉnh, thành; quận huyện đến xã. Ngoài ra, Hội còn có các tổ

gia quản lý tốt; Học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật tốt; Xây dựng gia đình nuôi dạy
con tốt. Phong trào ra đời phù hợp với nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn
15

mới, yêu cầu của các ngành, các cấp, đặc biệt nội dung 5 tốt phù hợp với yêu cầu
phấn đấu rèn luyện của người phụ nữ trong chế độ mới để có thể vừa đảm bảo được
nhiệm vụ lao động sản xuất vừa chăm lo được gia đình con cái có tác dụng động
viên phụ nữ đẩy mạnh sản xuất công tác, góp phần tích cực vào việc hoàn thành kế
hoạch Nhà nước. Phong trào đã khuyến khích chị em không ngừng học tập, nâng
cao trình độ về mọi mặt, đồng thời chăm lo hạnh phúc gia đình và quyền lợi phụ nữ,
trẻ em. Do đó, vai trò và vị trí của phụ nữ được nâng cao, tỷ lệ phụ nữ tham gia
công tác chính quyền tăng hơn trước. Tháng 4/1964, Đại hội phụ nữ 5 tốt toàn miền
Bắc đã công nhận 7 vạn cá nhân, 5000 gia đình, 3000 tổ đội đông nữ đạt danh hiệu
phụ nữ 5 tốt. Rất nhiều chị em phụ nữ được Bác Hồ tặng thưởng huy hiệu. Phong
trào phát triển sôi nổi, vượt ra khỏi phạm vi thi đua riêng của phụ nữ các cấp mà trở
thành phong trào chung trong quần chúng nhân dân. Nên đã xuất hiện “số nhà 5
tốt”, “khối phố 5 tốt” “tổ 5 tốt” “xã 5 tốt” như: khối 30 khu Đống Đa (Hà Nội), khu
phố 6 thuộc thị xã Nam Định, xã Đoàn Tùng (Hải Dương), thôn Bùi (Hà Nam)…
Phong trào “Ba đảm đang” được phát động ngày 22/3/1965 với ba nội dung:
1. Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu.
2. Đảm nhiệm gia đình, khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu.
3. Đảm nhiệm phục vụ chiến đấu khi cần thiết.
Năm 1968, phong trào Ba đảm đang được đẩy lên thành cao trào Ba đảm
đang với các nội dung: Đảm đang sản xuất, công tác; Đảm đang gia đình; Đảm đang
phục vụ chiến đấu và chiến đấu.
Phong trào phụ nữ “ba đảm đang” chiến đấu chống Mỹ cứu nước nhằm huy
động và khuyến khích cao nhất tinh thần cách mạng của quần chúng phụ nữ vào
nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc XHCN thành hậu phương vững chắc cho
miền Nam, qua đó khích lệ tinh thần đấu tranh của lực lượng vũ trang và tăng
cường chi viện cho miền Nam.

yêu nước của phụ nữ Việt Nam. Phong trào đã tôn vinh được 42 nữ anh hùng, 9 đơn
vị nữ anh hùng, 1.718 chị em được thưởng huy hiệu Bác Hồ, trên 5.000 chị em là
chiến sỹ thi đua toàn quốc, gần 4 triệu hội viên đạt danh hiệu phụ nữ “Ba đảm
đang”. [24, tr.36-66]
17

Đây được coi là mốc son chói lọi trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam
cũng như hoạt động của Hội LHPNVN. Qua việc tổ chức, chỉ đạo, triển khai thực
hiện phong trào, Hội LHPNVN xứng đáng là cơ quan tham mưu của Đảng về công
tác vận động phụ nữ, đồng thời Hội đã chứng tỏ năng lực chỉ đạo, thu hút, tập hợp
rộng rãi mọi tầng lớp phụ nữ, phát huy được khả năng cách mạng to lớn của chị em
vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước anh dũng của dân tộc.
Với việc tham gia tích cực trong phong trào Ba đảm đang, phụ nữ Việt Nam
đã thể hiện được vai trò, khả năng cách mạng to lớn, tinh thần yêu nước, lao động
sáng tạo, ý chí tự cường vươn lên, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng hy sinh
vì Tổ quốc, vì nhân dân của hàng chục triệu phụ nữ của thời đại Hồ Chí Minh .
Thắng lợi của phong trào “Ba đảm đang” đã khẳng định đường lối công tác
phụ vận của Đảng và Nhà nước XHCN là hoàn toàn đúng đắn. Hội LHPNVN đã chỉ
đạo cụ thể và đưa phong trào đạt nhiều thành tích, kết quả to lớn. Hội đã động viên
cổ vũ, hướng dẫn các tầng lớp phụ nữ phấn đấu thực hiện “ ba đảm đang”, nghiên
cứu đề xuất với Đảng và nhà nước các chế độ chính sách đối với phụ nữ để tạo điều
kiện cho chị em phấn đấu vươn lên. Thành công của phong trào “Ba đảm đang” là
tiền đề, kinh nghiệm quan trọng của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát
động, chỉ đạo, tổ chức, thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua sau này đối
với phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Cùng với phụ nữ miền Bắc, phụ nữ miền Nam tích cực tham gia các phong
trào, các hoạt động đấu tranh do Hội Phụ nữ Giải phóng tổ chức. Từ khi ra đời, song
song với phát triển tổ chức, Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng đã tích cực vận động,
tuyên truyền, tổ chức đông đảo đội ngũ cán bộ, hội viên tham gia đấu tranh chính
trị, đấu tranh vũ trang, công tác binh vận, địch vận, góp phần đánh bại các chiến

cán bộ, nhân viên giúp Tiểu ban. Bộ phận tổng kết nằm trong biên chế của Trung
ương Hội phụ nữ, nhưng làm việc trực tiếp với Ban bí thư Trung ương Đảng.
1.2. Tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong
những năm 1976 - 1982
1.2.1. Hoàn thiện và củng cố tổ chức
Hội nghị thống nhất Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 1976
Ngày 26/1/1976, Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam ra Nghị quyết số 03/NQ/TV về nhiệm vụ công tác phụ nữ năm 1976. Nghị
quyết nêu rõ nhiệm vụ của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam: phát huy truyền thống
“3 đảm đang”, nêu cao khẩu hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà, phấn đấu thực
hiện nam nữ bình đẳng”, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho phụ nữ, vận động
tham gia phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội,
tham gia phong trào xây dựng gia đình và nuôi dạy con cái, chăm lo đến quyền lợi
của phụ nữ và trẻ em. Đặc biệt, trong hoàn cảnh lịch sử mới – nước nhà vừa thống
nhất, nhiệm vụ cấp bách đặt ra là: ra sức củng cố và kiện toàn các cấp Hội, chuẩn bị
việc thống nhất tổ chức phụ nữ hai miền, rất chú trọng cấp cơ sở; Chuyển mạnh sự
19

hoạt động theo chức năng của Hội, cải tiến lề lối làm việc, quyết tâm đào tạo và bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, đáp ứng yêu cầu lớn của phong trào phụ nữ
trong tình hình mới; Chú trọng và tích cực đẩy mạnh hoạt động quốc tế của Hội.
Ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Quyết
định số 253-NQ/TW về việc thống nhất các đoàn thể nhân dân và thống nhất mặt
trận. Theo đó, việc thống nhất đoàn thể nhân dân làm theo 2 bước, bước 1 là thống
nhất các Ban chấp hành, bước 2 là tổ chức Đại hội toàn quốc của mỗi đoàn thể,
thông qua điều lệ mới và bầu cơ quan lãnh đạo mới của mỗi đoàn thể. Các Đại hội
này sẽ mở sau Đại hội Đảng lần thứ IV.
Trước yêu cầu cấp bách thống nhất tổ chức Hội, ngày 1/6/1976, tại thành phố
Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Thường
vụ Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam họp để chuẩn bị cho

chống Mỹ vào nhiệm vụ xây dựng đất nước với khẩu hiệu: Giỏi việc nước, đảm việc
nhà, phấn đấu thực hiện nam nữ bình đẳng, nâng cao giác ngộ XHCN cho phụ nữ,
phát động một phong trào cách mạng sôi nổi, động viên toàn thể phụ nữ đem hết trí
tuệ và sức lực hăng hái thi đua lao động sản xuất đạt năng suất cao và thực hành tiết
kiệm với tinh thần: tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng CNXH, tất cả vì Tổ quốc
giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân. Giáo dục, hướng dẫn phụ nữ xây dựng gia
đình, nuôi dạy con cái, tổ chức cuộc sống cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách
mạng và điều kiện thực tế của xã hội, góp phần xây dựng con người mới, xã hội mới,
thực hiện tốt hơn nữa sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Ra sức củng cố và kiện toàn các
cấp Hội, chú trọng cấp cơ sở, chuyển mạnh sự hoạt động theo chức năng của Hội, cải
tiến lề lối làm việc, quyết tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, đáp
ứng với yêu cầu lớn lao của phong trào phụ nữ trong tình hình mới”. [19, tr.2]
Như vậy, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã được thống nhất trong phạm vi
toàn quốc với mạng lưới rộng lớn từ Cao Lạng đến Minh Hải, khắp thành thị và
nông thôn, từ đồng bằng, đến miền núi, trong mọi tầng lớp, mọi dân tộc.
Hội nghị thống nhất Hội Liên hiệp phụ nữ là sự kiện chính trị quan trọng
đánh dấu bước trưởng thành mới của phụ nữ Việt Nam, “mở ra một trang sử mới
cho phong trào phụ nữ”, thống nhất phong trào phụ nữ toàn quốc, tập trung sức đẩy
21

mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa, và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó, đưa
sự nghiệp giải phóng phụ nữ tiến lên một bước mới. Hội nghị đáp ứng yêu cầu cách
mạng trong tình hình mới, là hình ảnh sinh động của khối đại đoàn kết nhất trí của
phụ nữ cả nước.
Tổ chức lại bộ máy Trung ương Hội
Tổ chức bộ máy cơ quan Trung ương Hội thời kỳ này có nhiều thay đổi cho
phù hợp với hoàn cảnh, tình hình mới. Một số ban, đơn vị, phòng được thành lập
riêng, một số ban bị giải thể, đổi tên.
Ban Thường vụ TW Hội (được bầu từ Đại hội phụ nữ lần thứ IV thay cho
Ban Thường trực TW Hội) chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành TW Hội lãnh đạo

tác vận động phụ nữ tham gia chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp sang Văn phòng
thường vụ Trung ương Hội; chuyển nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong lao
động nông nghiệp, cán bộ phụ nữ tham gia quản lý HTX nông nghiệp sang Ban
Nghiên cứu.
Ban Nghiên cứu được thành lập ngày 06/8/1979, theo Quyết nghị số
95/QN/TC của Ban Thường vụ TW Hội có nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu đề xuất chủ trương, phương châm, nội dung, tổ chức, phương
thức công tác vận động phụ nữ của Đảng và Nhà nước trong từng thời gian.
+ Nghiên cứu những vấn đề do Đảng đoàn và thường vụ phân công.
+ Quan hệ phối hợp chặt chẽ với các Ban, theo dõi quá trình thực hiện chủ trương.
Ban Nghiên cứu quyền lợi đời sống phụ nữ thành lập theo Quyết nghị số
152-QN/TW, ngày 20/10/1977 của Ban Thường vụ TW Hội thay cho Ban công
nghiệp, có các nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu, đề xuất với Đảng và Nhà nước xây dựng chính sách, chế độ
về quyền lợi, sức khoẻ đối với phụ nữ và trẻ em trong khu vực Nhà nước và thủ
công nghiệp.
+ Kết hợp với các ngành chức năng kiểm tra theo dõi việc thực hiện các chế
độ chính sách trên về: lao động sản xuất, nghề nghiệp, học tập, đời sống, sức khoẻ,
nhà trẻ, mẫu giáo, sinh đẻ có kế hoạch, Luật Hôn nhân gia đình, công tác hậu
phương quân đội.
23

+ Tham gia giải quyết các vấn đề tệ nạn xã hội do chiến tranh để lại cho phụ
nữ và trẻ em.
+ Chỉ đạo điểm, sơ kết, tổng kết các chuyên đề trên.
Nhiệm vụ theo dõi chỉ đạo công tác hậu phương quân đội sau được chuyển
sang Văn phòng thường vụ TW Hội theo Quyết Nghị số 26 QN/TV, ngày 6/5/1980
của Ban Thường vụ TW Hội.
Để thống nhất chỉ đạo phong trào phụ nữ miền Nam, ngày 5/6/1980, Ban
Thường vụ TW Hội ra Quyết nghị số 61/QN bỏ Ban Cải tạo Nông nghiệp, Ban cải

Củng cố bộ máy các cấp và tổ chức cơ sở hội
Sau Nghị quyết số 245-NQ/TW, ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị về việc bỏ
khu, hợp nhất tỉnh. Việc hợp nhất tỉnh được tiến hành đồng thời với việc bỏ khu.
Như vậy, quản lý hành chính cả nước được chia theo 4 cấp: Trung ương - Tỉnh,
thành - Huyện, Thị - xã. Tình hình này yêu cầu Trung ương Hội phải có kế hoạch,
biện pháp để bố trí nhân sự các tỉnh chỉ đạo hoạt động, phong trào phụ nữ ở các tỉnh
mới. Trung ương Hội đã phân công, bố trí cán bộ xuống các tỉnh theo dõi, giúp đỡ
các tỉnh. Đến tháng 11/1976, bộ máy ở các tỉnh hợp nhất đi vào ổn định, đáp ứng
yêu cầu công tác của cấp ủy địa phương và cấp hội cấp trên. Năm 1981, 2/3 số tỉnh,
thành đã hình thành được các ban chuyên môn giúp việc cho thường vụ chỉ đạo các
hoạt động công tác, gồm có: Văn phòng, Ban Tổ chức, Ban Tuyên huấn, Ban Đời
sống và gia đình. Trong đó, 12 tỉnh, thành xây dựng được các ban hoạt động có chất
lượng, góp phần đẩy mạnh các mặt công tác.
Trình độ văn hóa, chính trị của đội ngũ cán bộ nữ giai đoạn này được nâng
lên rõ rệt. Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương và Trường Lê Thị Riêng liên tục mở
các lớp đào tạo ngắn hạn và dài hạn cho đội ngũ cán bộ hội nhằm nâng cao về trình
độ văn hóa và công tác vận động phụ nữ. Theo số liệu thống kê ở 17 tỉnh, thành
miền Bắc, năm 1980 có 14/533 cán bộ tỉnh hội có trình độ văn hóa từ cấp III đến
đại học (so với năm 1976 chỉ đạt 34,5%); hơn 92% có trình độ từ cấp II trở lên; các
tỉnh, thành phía Nam, số cán bộ có trình độ từ cấp II trở lên chiếm 54%. [53, tr.4]
Mỗi cán bộ Hội phấn đấu rèn luyện, thực hiện 5 tiêu chuẩn cán bộ của Đảng và tiêu
chuẩn riêng của ngành: nhiệt tình công tác Hội, có trình độ chính trị, văn hóa và có
kiến thức một mức độ nhất định về quản lý kinh tế và khoa học kỹ thuật… Riêng
25

với cán bộ lãnh đạo Hội phải có tiêu chuẩn về trình độ chính trị văn hóa và độ tuổi:
phải qua lớp chính trị của Đảng quy định; về văn hóa, cán bộ lãnh đạo từ Trung
ương đến huyện (40 tuổi trở lên) phải phấn đấu đến 1980 có trình độ văn hóa cấp 3
trở lên. Riêng cấp huyện miền núi và Hội trưởng xã phải có trình độ văn hóa ít nhất
hết Cấp 2. Về tuổi: cán bộ tham gia các cấp lãnh đạo (chấp hành và Thường vụ) từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status