Tổ chức và hoạt động của hội liên hiệp phụ nữ tỉnh thái nguyên từ năm 1997 đến năm 2010 luận văn ths lịch sử 60 22 56 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ YẾN

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
NỮ TỈNH THÁI NGUYÊN
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

CHUYÊN NGÀNH :
MÃ SỐ

:

60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Vũ Quang Hiển

HÀ NỘI - 2011

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là lực lượng chiếm nửa dân số trong xã hội và trực tiếp tham gia vào
quá trình lao động, đặc biệt là vai trò tái sản xuất, giáo dục những con người

nữ và công tác phụ nữ còn đặt ra với nhiều thách thức mới” [24, tr.1]. Do vậy
nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những thành công, hạn chế trong quá trình lãnh
đạo xây dựng Hội sẽ làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng, qua đó rút ra
những bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách
của Đảng về lĩnh vực xây dựng tổ chức Hội - bộ phận của hệ thống chính trị trong
thời kỳ đổi mới.
Thái Nguyên là tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, có nhiều tộc người sinh
sống. Trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào, phụ nữ Thái Nguyên cũng có những
đóng góp quan trọng cho sự phát triển của tỉnh. Thực hiện chủ trương của
Đảng về đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các đoàn thể quần
chúng, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành quả
quan trọng trong quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động, xứng đáng là cơ
quan đại diện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ ở địa phương. Nhưng
ở Thái Nguyên “bạo lực gia đình có nhiều diễn biến phức tạp, nhận thức về
bình đẳng giới còn hạn chế do trình độ dân trí không đồng đều, đời sống nhân
dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số” [20, tr.1].Việc tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
trong quá trình xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ
nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm 2010, nhằm tổng kết thực tiễn, chỉ ra những ưu
điểm và hạn chế, đúc rút kinh nghiệm; khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của
tỉnh Hội phụ nữ với tư cách là một bộ phận trong hệ thống chính trị của tỉnh là
vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Với những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Hội
Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997đến năm 2010” làm luận
văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

3


2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài


Tất cả những công trình khoa học trên đã cung cấp nhiều nguồn tư liệu
và phương pháp tiếp cận vấn đề liên quan đến đề tài và đề cập ở mức độ khác
nhau đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về vai trò của phụ nữ cũng như vấn
đề giải phóng phụ nữ. Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình khoa học nào
đề cập có hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng
tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến năm
2010 dưới góc độ của khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong quá
trình xây dựng tổ chức và hoạt động của tỉnh Hội phụ nữ từ năm 1997 đến năm
2010, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên đối với quá trình xây dựng và hoạt động của Hội.
3.2. Nhiệm vụ
- Trình bày hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo xây
dựng tổ chức và hoạt động của Tỉnh Hội phụ nữ theo những khoảng thời gian
cụ thể, gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
- Đánh giá, nhận xét những ưu điểm và hạn chế của Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên trong quá trình lãnh đạo công tác Hội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.

Đối tượng nghiên cứu

- Chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo công
tác xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên
từ năm 1997 đến năm 2010.
- Quá trình xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp
Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên.

7. Cấu trúc đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chương:
Chương1. Xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp
phụ nữ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2. Tăng cường xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên từ năm 2006 đến năm 2010
Chương 3. Ưu điểm, hạn chế và một số kinh nghiệm
6


Chƣơng 1
XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH THÁI NGUYÊN
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.1.

Những điều kiện tác động đến tổ chức và hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và truyền thống cách mạng
của phụ nữ Thái Nguyên
Thái Nguyên xưa được coi là một trong những phên giậu của kinh thành
Thăng Long và đến nay vẫn được coi là trung tâm chính trị - kinh tế, văn hóa,
xã hội của vùng Đông Bắc Tổ quốc, nên Thái Nguyên có nhiều điều kiện để
phát triển kinh tế, xã hội.
Dưới các triều đại phong kiến, tỉnh Thái Nguyên có lúc được gọi là xứ,
lúc là phủ, lúc được gọi là trấn Thái Nguyên. Trải qua nhiều lần biến đổi địa
danh, địa giới khác, đến thời Minh Mạng (1831), Thái Nguyên có tên gọi là
tỉnh Thái Nguyên. Ngày 21/4/1965, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định

Vùng có địa hình thấp gồm các xã phía Nam Huyện Phú Lương, Tây
Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông
Công. Đây là vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù sa sông Cầu, sông
Công nên dân cư đông đúc, giao thông thuận lợi cả đường bộ lẫn đường thuỷ
nên có điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội.
Nhìn chung, địa hình tỉnh Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi. Diện tích đồi
núi cao trên 100m chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh. Vùng có độ cao dưới 100m
chiếm 1/3 diện tích. Đất nông nghiệp chiếm 21,6% tổng diện tích, đất đồi rừng
chiếm 47,1% tổng diện tích. Với điều kiện đó, tỉnh Thái Nguyên có tiềm năng
để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời, điều kiện tự nhiên đó cũng gây nhiều
khó khăn cho việc sinh hoạt của nhân dân, trong đó có phụ nữ và trẻ em.
Địa hình đó đã phân hoá khí hậu Thái Nguyên thành 3 vùng khá rõ nét:
Phía Tây nóng và mưa nhiều, phía Đông lạnh và lượng mưa hàng năm ít, phía
Nam khí hậu có tính chất trung gian, chuyển tiếp giữa phía Đông và phía Tây,
giữa các tỉnh vùng Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ. Khí hậu đó tương đối
8


thuận lợi cho phát triển các ngành nông nghiệp ở các huyện phía Nam, ngành
lâm nghiệp và chăn nuôi ở vùng phía Đông của tỉnh.
Dân số tỉnh Thái Nguyên năm 2009 là 1.127.430 người. Đây là nguồn
cung cấp lực lượng lao động dồi dào, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã
hội của tỉnh. Trên địa bàn tỉnh có 34 dân tộc anh em cùng chung sống, trong
đó có 8 dân tộc chiếm đa số mang nguồn gốc bản địa như người Kinh, Tày,
Sán Dìu, Dao. Có dân tộc nhập cư vào địa bàn tỉnh trong những thế kỷ gần đây
như: Nùng, Sán Chay, Mông, Hoa. Ở Thái Nguyên, tộc người Kinh chiếm số
lượng đông nhất, gồm nhiều bộ phận hợp thành: người dân bản địa và một bộ
phận di cư từ vùng đồng lên (nhiều nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp 1945 - 1954). Địa bàn cư trú của người Kinh rộng khắp, từ vùng núi
trung du phía Nam đến các vùng hẻo lánh phía Bắc, trong đó tập trung chủ yếu

hoạt động khai thác, chế biến có hiệu quả nguồn khoáng sản như khu công
nghiệp gang thép Thái Nguyên, nhà máy luyện cán thép Gia Sàng, nhà máy
giấy Hoàng Văn Thụ, khu công nghiệp Sông Công, cụm công nghiệp La Hiên,
nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn, Nhiệt điện An Khánh 1 tại huyện Đại Từ, xi
măng Quang Sơn, xi măng Quan Triều. Cũng với tiềm năng đó, Thái Nguyên
có nhiều dự án đang được triển khai như: dự án khai thác mỏ Đa Kim Núi
Pháo tại huyện Đại Từ, nhà máy nhiệt điện An Khánh 2 tại huyện Phổ Yên,
khu du lịch Hồ Núi Cốc được Chính phủ phê duyệt xây dựng thành khu du lịch
Quốc gia, khu công nghiệp và dịch vụ Yên Bình và hàng loạt các khu công
nghiệp và dịch vụ khác. Thái Nguyên có nhiều địa danh được khai thác để phát
triển ngành du lịch, dịch vụ như khu du lịch Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng,
suối Mỏ Gà, Thác Bảy tầng… Đặc biệt là khu di tích lịch sử cách mạng ATK
Định Hóa Chiến khu cách mạng Việt Bắc với trên 120 điểm di tích lịch sử
cách mạng cùng với hệ thống sông suối, núi non, hang động đẹp, hùng vĩ…
Đây là điều kiện thuận lợi trong vấn đề giải quyết việc làm tại chỗ cho lao
động trong tỉnh Thái Nguyên.
Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm đào tạo lớn của cả nước, chỉ sau Hà Nội
và Thành phố Hồ Chí Minh, với 8 trường đại học, 17 trường cao đẳng thuộc
Đại học Thái Nguyên, trực thuộc tỉnh và 34 cơ sở đào tạo nghề. Ngoài ra còn
10


có 7 chi nhánh các Ngân hàng Trung ương và địa phương, Nhà hát Ca múa
Dân gian Việt Bắc, Bảo tàng Văn hoá các Dân tộc Việt Nam, Khu Di tích lịch
sử cách mạng ATK Định Hoá - chiến khu cách mạng Việt Nam, Bệnh viện Đa
khoa Trung ương Thái Nguyên và 14 bệnh viện khu vực và các bệnh viện của
tỉnh. Đây là điều kiện thuận lợi cho Thái Nguyên trong đào tạo nguồn nhân
lực, nghiên cứu khoa học, hoạt động kinh doanh, hoạt động trong lĩnh vực văn
hoá nghệ thuật, ứng dụng các thành tựu, tiến bộ khoa học, công nghệ, hoạch
định chiến lược phát triển, phối hợp thực hiện các chương trình phát triển kinh

vào tỉnh Thái Nguyên, chiếm cứ vùng Định Hoá làm sào huyệt. “Từ năm 1870
đến 1885, chúng gây bao nỗi kinh hoàng trong nhân dân, cho quân đi cướp bóc
của cải, đốt nhà, phá làng, giết người, hãm hiếp phụ nữ ở khắp nơi trong
tỉnh…Phải thừa nhận rằng người Trung Quốc đã cướp nhiều phụ nữ Thổ (Tày)
tới mức còn phải lâu nữa sự sinh con đẻ cái mới tăng lên được” [47,tr. 9].
Không chỉ có phụ nữ Tày bị cướp mà phụ nữ Dao cũng bị săn đuổi, bắt cóc. “Từ
khi nạn cướp đoạt phụ nữ đem bán thì thực hiếm thấy một người Mán (Dao) có
vợ. Phải chăng đối với họ, phụ nữ chỉ là thứ xa hoa” [47, tr.9].
Khi thực dân Pháp đặt ách nô dịch lên Việt Nam (1884) đã đẩy người
Việt Nam - trong đó có phụ nữ vào vòng nô lệ tăm tối. Đánh chiếm Thái
Nguyên vào năm 1884, ba năm sau, thực dân Pháp bắt đầu bóc lột nhân dân
các dân tộc trong tỉnh Thái Nguyên. Hậu quả của những chính sách đó làm cho
đời sống của nhân dân, đặc biệt là người phụ nữ vô cùng cực khổ khi mà ruộng
đất bị thực dân Pháp cướp để lập đồn điền. “Từ năm 1887 đến ngày 28/1/1937,
thực dân Pháp đã cướp của nông dân Thái Nguyên 44.725 ha ruộng. Hàng vạn
nông dân mất ruộng đất bị phá sản, rơi vào tình cảnh khốn cùng hoặc phải làm
tá điền cho chúng, hoặc rời bỏ quê hương đi làm cu li trong các hầm mỏ…Chỉ
tính 8 đồn điền lớn ở 5 huyện (Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Đại Từ, Định
Hoá) năm 1911 có 1852 hộ nông dân, gồm 3310 lao động, trong đó có 1.590 là
phụ nữ là tá điền. Đến năm 1924, chỉ riêng hai huyện Phú Bình và Phổ Yên số
tá điền đã lên gần 30.000 trong đó hơn 50% là phụ nữ”[47, tr.11]. Dưới chế độ
thực dân phong kiến “không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành
động bạo ngược. Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay thôn quê, đâu đâu họ
12


cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn cai trị, sĩ quan, cảnh binh,
nhân viên nhà đoan, nhà ga”[23, tr.43].
Không còn con đường nào khác, nhân dân, trong đó có đông đảo phụ nữ
đã đứng lên đấu tranh. Phong trào yêu nước, chống Pháp diễn ra sôi nổi, liên

nữ mới có điều kiện phát huy hết tài năng và đức hạnh của mình, góp phần
quan trọng vào sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ cả nước nói chung và phụ nữ tỉnh
Thái Nguyên nói riêng đã phát huy cao độ truyền thống cách mạng vẻ vang của
mình. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 -1954),
phụ nữ Thái Nguyên đã nỗ lực phấn đấu cùng Đảng bộ, nhân dân và các lực
lượng vũ trang trong tỉnh ra sức xây dựng, củng cố và bảo vệ chính quyền, sẵn
sàng chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Đặc biệt là khi Hội Liên hiệp phụ nữ
Việt Nam tỉnh Thái Nguyên được thành lập (tháng 9 - 1947), phong trào phụ nữ
của tỉnh đã đạt được nhiều thành tích quan trọng. Mặc dù trong thời kỳ đầu, số
lượng hội viên còn rất ít, chỉ khoảng 130 người (trong đó một nử là tiểu tư sản,
tư sản trí thức, một phần là tiểu thương còn lại là nông dân) nhưng nhờ sự hoạt
động sôi nổi, nhiệt tình của các Uỷ viên Ban chấp hành Hội trong công tác
tuyên truyền, động viên và ủng hộ cho kháng chiến nên đã góp phần không nhỏ
vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là một tỉnh trung tâm của
khu tự trị Việt Bắc, có khu công nghiệp gang thép lớn, lại là đầu mối giao
thông quan trọng, cùng nhiều kho tàng của Nhà nước và quân đội xây dựng
trên địa bàn nên Thái Nguyên trở thành trọng điểm đánh phá của kẻ thù. Năm
1965, ngay sau khi hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn sáp nhập, Hội Liên hiệp
Phụ nữ tỉnh đã nhanh chóng kiện toàn về tổ chức, kêu gọi, động viên phụ nữ
trong toàn tỉnh hưởng ứng phong trào “ba đảm đang”. Phát huy truyền thống
yêu nước và cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, phụ nữ Thái
Nguyên bước vào chặng đường vừa sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu và chiến
đấu, góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, phụ nữ tỉnh Thái
Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh mà trực tiếp là Hội Liên hiệp Phụ
14





phóng phụ nữ gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng con người.
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
năm 1930 chỉ rõ: Lực lượng phụ nữ là một lực lượng trọng yếu nếu quảng đại
quần chúng không tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách
mạng không thể thắng lợi. Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa đã khẳng định: “phụ nữ bình đẳng với nam giới về mọi phương
diện”, và Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 quy định cụ thể hơn: phụ nữ có
quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Ngoài ra còn có hàng loạt các văn bản, chỉ thị, nghị quyết khác khẳng định
quyền bình đẳng nam nữ như Nghị quyết 04, Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị,
Chỉ thị 37 CT/TW, Chỉ thị 44/CT...
Đặc biệt, sau khi thực hiện thành công Chiến lược và Kế hoạch hành
động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, Thủ tướng Chính phủ
đã ký quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt
Nam đến năm 2010 và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
đến năm 2005. Điều đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối
với vấn đề phát triển của phụ nữ.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng tiếp tục cụ thể hóa đường lối,
quan điểm của Đảng về công tác phụ nữ và luôn khẳng định: phụ nữ Việt Nam
có truyền thống lịch sử vẻ vang, có những tiềm năng to lớn, là một động lực
quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế, xã hội; phụ nữ vừa là
người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Trên cơ sở mục tiêu chung Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra, xuất phát từ thực tế phong trào và
nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp phụ nữ và Cương lĩnh hành động của
Hội nghị Thế giới về phụ nữ lần thứ 4, Chính phủ Việt Nam cam kết thực hiện
mục tiêu của phong trào phụ nữ Việt Nam là: Đoàn kết rộng rãi, động viên các
tầng lớp phụ nữ, phát huy mọi tiềm năng, sức sáng tạo và phẩm chất tốt đẹp

IX) chỉ rõ: Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức
và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của

17


Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân,
huy động mọi khả năng phát triển kinh tế, xã hội, tổ chức cuộc sống dân cư.
Là trung tâm tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp phụ nữ trong cả nước, là bộ
phận cấu thành hệ thống chính trị ở Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
tích cực tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện luật
pháp, chính sách có liên quan nhiều đến quyền lợi thiết thực của phụ nữ.
Đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ chính là nhằm
thực hiện mục tiêu ấy.
Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo đạt được thành tựu to lớn đã và
đang tạo ra thế và lực mới cho Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, phấn đấu đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp
vào năm 2020.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, vấn đề phụ nữ cũng cần được nhìn
nhận một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Với số lượng chiếm trên 50% dân số và
lao động trong xã hội; với tư cách là người sinh thành và nuôi dưỡng cho đất
nước các thế hệ công dân tiếp nối thực hiện sự nghiệp đổi mới, thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh nên việc tạo điều kiện
để phụ nữ được thực sự bình đẳng, phát triển, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân
và chức năng người mẹ là một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự
thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Phụ nữ Việt Nam hơn bao giờ hết đang có những cơ hội, những thuận lợi
rất cơ bản để phát triển: đất nước hoà bình, ổn định; thành tựu của công cuộc đổi

trong tỉnh để khơi dậy mọi tiềm năng, tạo ra những động lực mới, thu hút rộng
rãi các tầng lớp nhân dân tham gia vào các phong trào hành động cách mạnh
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc”[39.tr,45]. Đại hội XVI của Đảng bộ tỉnh cũng xác định: “Nâng cao vai
trò của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác giáo
dục, động viên nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện tốt các chính sách của
19


Đảng, pháp luật của Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phải “hướng
về cơ sở để tổ chức phong trào thi đua yêu nước, củng cố và phát triển tổ chức,
chăm lo đời sống thiết thực và phát huy sức mạnh của nhân dân. Giảm bớt
những hoạt động hình thức, hành chính; tăng cường đi cơ sở, gần gũi với đoàn
viên, hội viên hơn” [39.tr.46].
Để vận dụng những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước vào thực tiễn địa phương có hiệu quả, công việc đầu tiên là đổi mới và
nâng cao vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở. Ngày 9 tháng 7 năm 2002,
Tỉnh ủy Thái Nguyên đã đề ra chương trình hành động số 06 - CTr/TU về đổi
mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở
xã, phường, thị trấn. Chương trình chỉ rõ:
Bố trí đủ cán bộ cho hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn theo quy
định chung của Trung ương và theo chuẩn hóa, trẻ hóa, gắn chặt quyền hạn với
trách nhiệm. Kiện toàn đội ngũ cán bộ giữ chức vụ chủ chốt qua bầu cử của
các tổ chức Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, người đứng đầu các
cơ quan Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội.
Tăng cường mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ sở
nhằm đạt được mục tiêu đến năm 2005 có trên 70% cán bộ chuyên trách giữ
chức vụ qua bầu cử được đào tạo, bồi dưỡng đạt tiêu chuẩn quy định. Trên
80% cán bộ, công chức chuyên môn có trình độ trung cấp trở lên đối với xã,
phường, thị trấn ở vùng đồng bằng và miền núi; sơ cấp trở lên đối với các

chắc cho bước phát triển cao hơn năm sau năm 2000”[38,tr.25 - 26].
1.2.

Chỉ đạo xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội

1.2.1. Xây dựng hệ thống tổ chức Hội
Chủ trƣơng của tỉnh Hội
Từ sau khi tái lập tỉnh (1997), công cuộc đổi mới của tỉnh tiếp tục giành
được nhiều thành tựu quan trọng. Tình hình chính trị ổn định, kinh tế, xã hội
phát triển khá toàn diện. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải
thiện đáng kể. Nhờ vậy mà hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh cũng như
các ban, ngành đoàn thể khác có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, Thái Nguyên còn là
một tỉnh nghèo. Mức sống của nhân dân thấp, không đồng đều giữa các vùng,
21


miền. Tình hình tệ nạn xã hội diễn ra phức tạp và ngày càng gia tăng. Nhận thức
của xã hội về bình đẳng giới còn hạn chế. Đó là những yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống của các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh. Từ đó đòi hỏi Hội phải
nhanh chóng đổi mới hoạt động sao cho phù hợp để đáp ứng với yêu cầu của
hoàn cảnh mới.
Tháng 03/1997, ngay sau thời điểm được thành lập 2 tháng, Đại hội Đại
biểu phụ nữ tỉnh Thái Nguyên được tổ chức. Một trong những mục tiêu, phương
hướng mà Đại hội xác định là: Quan tâm củng cố tổ chức Hội, nâng cao vai trò
đại diện của tổ chức Hội, đoàn kết tập hợp hội viên, chăm lo bảo vệ quyền lợi
chính đáng của phụ nữ - trẻ em, để từ đó “phấn đấu xây dựng người phụ nữ Thái
Nguyên có sức khỏe, có kiến thức, có lòng nhân hậu, năng động sáng tạo, biết
làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích của xã hội và cộng đồng, từng bước
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao uy tín, địa vị xã hội của phụ
nữ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc và tiến bộ”[3,tr.13].

mới hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, nâng cao quyền làm chủ của nhân
dân nói chung và phụ nữ nói riêng; góp phần vào hoàn thành thắng lợi các mục
tiêu kinh tế xã hội, xứng đáng là tổ chức chính trị - xã hội, đại diện cho quyền
lợi của phụ nữ và trẻ em trong tỉnh.
Quá trình xây dựng hệ thống tổ chức
Tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo và bồi dƣỡng cán bộ hội
Do mới tách tỉnh nên tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng cán
bộ được coi là công tác trọng tâm hàng đầu để xây dựng tổ chức Hội. Các cấp
Hội phụ nữ tỉnh Thái Nguyên đã tập trung chỉ đạo quy hoạch cán bộ một cách
khẩn trương, đảm bảo chất lượng cán bộ và phù hợp với yêu cầu hoạt động của
Hội. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái
Nguyên chỉ rõ mục: “Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ Hội, kiện toàn tổ
chức, hoạt động của Hội hướng về cơ sở, quan tâm đào tạo và đào tạo lại nâng
cao trình độ mọi mặt, năng lực quản lý, điều hành cho đội ngũ cán bộ nữ, cán
bộ Hội có khả năng đảm đương, hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng, của Hội;
nâng cao vai trò, vị trí của cán bộ nữ tham gia quản lý xã hội” [7,tr.17].
23


Để đạt được mục tiêu đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp đã chủ động
tham mưu với các cấp uỷ Đảng, thường xuyên đưa công tác quy hoạch cán bộ
Hội đến cơ sở vào nề nếp. Hàng năm, tỉnh Hội đều có kế hoạch đào tạo nguồn
cán bộ trước mắt và lâu dài cho những năm sau, phấn đấu cán bộ chủ chốt chủ
tịch, phó chủ tịch huyện, tỉnh có trình độ đại học từ 35% năm 1997 lên 70%
vào năm 2000. Hội quan tâm trang bị kiến thức về quản lý kinh tế, quản lý nhà
nước cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đề xuất với Đảng, Nhà nước, các
ngành chức năng, các trường đào tạo xây dựng chỉ tiêu, tỷ lệ cán bộ nữ hợp lý.
Hội chủ trương coi trọng chất lượng, tinh giản về số lượng nhưng nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ Hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
Bảng 1.1. Kết quả công tác qui hoạch cán bộ nữ trên địa bàn tỉnh

14
0
0

Cấp huyện
Khoá
Khoá
1994 - 1999 1999 -2004
(%)
(%)
18,63
19,17
0
11,11
0
16,67
8,97
0,8
5,5

Cấp xã
Khoá
1994 1999
(%)
15,58
-

Khoá
1999 -2004
(%)

hiện đại hóa đất nước. Trong những năm 1997 - 2000, tỉnh Hội có 22 cán bộ đạt
trình độ lý luận chính trị cao cấp, đến giai đoạn 2001 - 2005, số lượng cán bộ
Hội lên đến 55 (trong đó có 22 cán bộ Hội được đào tạo cao cấp lý luận tại
Trung ương). Tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân cấp huyện và Hội đồng
nhân dân cấp xã khoá 1999 - 2004 đều tăng 1,1% so với khóa trước [13,tr.13].
Nhiệm kỳ 2001 - 2005, các cấp Hội đã phối hợp với trường Chính trị tỉnh và các
Trung tâm chính trị của huyện tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác
Hội cho 77.714 lượt cán bộ Hội phụ nữ. 100% cán bộ Hội chủ chốt cơ sở đã
được bồi dưỡng nghiệp vụ do tỉnh và huyện tổ chức. Trong nhiệm kỳ 2001 2005 có 3 người được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc, 14 người là
thầy thuốc ưu tú, 06 người đạt danh hiệu nhà giáo ưu tú, 731 người đạt danh
hiệu lao động giỏi cấp tỉnh. Tỉ lệ nữ cán bộ tham gia Hội đồng nhân dân và cấp
ủy các cấp đều tăng hơn so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 -2009: Cấp tỉnh đạt 23,88% (tăng 3,05% so với
nhiệm kỳ trước), cấp huyện đạt 25,74% (tăng 6,22% so với nhiệm kỳ trước), cấp
xã 20,54% (tăng 3,48% so với nhiệm kỳ trước) [14,tr.9].
Được Đảng, chính quyền quan tâm cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản
thân cán bộ nữ nên trong Đại hội Đảng các cấp của tỉnh Thái Nguyên nhiệm
kỳ 2001 - 2005 đã có nhiều cán bộ nữ tham gia các cấp uỷ, tham gia Ban

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status