ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
NGUYỄN THỊ THỊNH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TỪ
NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1986
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
NGUYỄN THỊ THỊNH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TỪ
NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1986
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
3.2. Những nét độc đáo và bài học kinh nghiệm ........................................81
Tiểu kết chương 3......................................................................................94
Kết luận ..............................................................................................................95 Tài
liệu tham khảo .............................................................................................99 Phụ
lục..............................................................................................................105
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tên đầy đủ
HLHPNVN
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
TW
Trung ương
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
VNDCCH
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử loài người, phụ nữ là một lực lượng xã hội quan trọng. Vấn
đề giải phóng phụ nữ, đưa phụ nữ tham gia vào các hoạt động chung của xã hội đã
được các giai cấp, các nhà lãnh đạo quan tâm giải quyết và trở tành thước đo của
mỗi chế độ xã hội.
Nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của phụ nữ, ngay từ khi mới ra đời
Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan tâm đến việc vận động phụ nữ và tập hợp họ
trong một tổ chức đấu tranh tiền thân là Hội phụ nữ Cứu quốc cho đến Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam (sau đây xin gọi tắt là Hội) ngày nay. Dưới sự chỉ đạo đúng đắn
của Đảng với những chủ trương, chính sách sát thực, kịp thời qua từng giai đoạn
cách mạng cùng với sự tự phấn đấu vươn lên, tổ chức Hội đã có bước phát triển tốt
cả về tổ chức và hoạt động. Tuy nhiên, với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật,
chúng ta thấy rằng công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức và hoạt động Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam của Đảng từ năm 1975- 1985 còn bộc lộ một số mặt
hạn chế. Ý thức làm chủ tập thể, trình độ văn hóa nghề nghiệp của phụ nữ còn chưa
đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, đường lối, phương châm công tác vận động
phụ nữ chưa được quán triệt sâu sắc ở các cấp, các ngành; chức năng, phạm vi
hoạt động của Hội trên một số mặt công tác chưa được rõ; trình độ cán bộ các cấp
Hội còn yếu; việc chỉ đạo chưa thật sâu sát, cụ thể; việc vận động phương thức vận
động còn lúng túng, sự phối hợp với các ngành và các đoàn thể khác chưa chặt chẽ.
Tình hình trên cho thấy, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với
tổ chức quần chúng nói chung và Hội Liên hiệp Phụ nữ nói riêng cần phải rút kinh
nghiệm, đẩy mạnh hơn nữa. Căn cứ vào những chủ trương, chính sách và quá
trình chỉ đạo thực hiện của Đảng về công tác củng cố, xây dựng tổ chức và hoạt
động của Hội từ năm 1975 đến năm 1985 để chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu,
6
nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó và những kiến nghị, những chủ trương chiến
dựng hệ thống tổ chức và hoạt động chưa được đề cập. Mặc dù vậy, kết quả các
công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý giá, gợi mở tác giả kế thừa, đi
sâu vào nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng và hiệu
quả của sự lãnh đạo đó trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1976-1986. Thông qua đó bước đầu rút ra một số bài
học kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày một cách có hệ thống, khách quan sự biến đổi của hoàn cảnh
lịch sử cũng như sự lãnh đạo của Đảng qua những giai đoạn lịch sử khác nhau
cùng với việc hiện thực hóa chủ trương đó gắn với các kết quả cụ thể của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Đánh giá những ưu, khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Đảng và rút ra bài
học kinh nghiệm.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng
- Những chủ trương và biện pháp của Đảng đối với việc xây dựng, phát
triển của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Quá trình chỉ đạo thực hiện những chủ trương của Đảng trong xây dựng tổ
chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
5.2. Phạm vi
- Quá trình triển khai của Hội qua các cấp TW đến địa phương. Hoàn cảnh lịch sử chi phối sự lãnh đạo của Đảng.
- Sự phối hợp giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị đối với hoạt động
của Hội.
- Thời gian: từ năm 1976-1986. Đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt sau khi đất
nước thống nhất, Đảng và nhân dân thực hiện công cuộc hàn gắn vết thương chiến
tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.
Chương 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM XÂY DỰNG
HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG GIAI ĐOẠN 1976-1981
1.1. Thực trạng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội trước năm
1976
1.1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng lãnh đạo, chỉ đạo Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam
1.1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Là một lực lượng xã hội chiếm hơn một nửa nhân loại, phụ nữ có một vị
trí to lớn trong lịch sử tiến hóa của xã hội loài người. Vấn đề giải phóng phụ nữ là
yêu cầu của lịch sử, là vấn đề có tính thời đại và nó phản ánh sự tiến bộ hay lạc
hậu của một xã hội. Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, loài người muốn tồn tại
và phát triển trước hết phải sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó phụ nữ là một
lực lượng quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động. Bằng lao
động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, phong phú cuộc
sống của con người. Cùng với những hoạt động góp phần sáng tao ra của cải vật
chất và tinh thần, phụ nữ còn tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giai cấp và đấu
tranh dân tộc, các phong trào nổi dậy của những người bị áp bức, bóc lột.
Trong di sản tư tưởng của mình, cả Mác-Ăng ghen và Lênin đều đánh giá
cao vai trò, vị trí và khả năng của phụ nữ trong các cuộc cách mạng. Trong lịch sử
nhân loại không có một phong trào to lớn nào của những người bị áp bức mà
không có phụ nữ tham gia. Phụ nữ là những người bị áp bức nhất trong những
người bị áp bức nên không bao giờ họ đứng ngoài và cũng không thể đứng ngoài các
cuộc đấu tranh giải phóng. Các Mác viết "Ai biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang
xã hội mà không có phụ nữ góp vào thì chắc chắn không làm nổi" [37; 127].
Không chỉ dừng lại trong việc đề cao vai trò, vị trí của phụ nữ, Mác còn cho rằng
mức độ giải phóng phụ nữ là một trong những tiêu chuẩn thước đo để
10
chủ tập thể trong xã hội, có quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt, có những
bước tiến nhảy vọt trong đời sống vật chất và tinh thần, có vai trò to lớn trong
11
chiến đấu cũng như trong sản xuất, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta rất tự hào về người phụ nữ Việt Nam: "anh
hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang", những người mẹ đã sinh ra và nuôi
dưỡng lớp lớp thế hệ anh hùng Việt Nam. Nhưng chúng ta còn phải phấn đấu
nhiều hơn nữa để thực hiện triệt để nhiệm vụ giải phóng phụ nữ, bảo đảm cho phụ
nữ cùng với toàn dân thực hiện quyền làm chủ tập thể đầy đủ nhất.
1.1.1.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội trước năm 1976
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của phụ nữ nói
chung và công tác xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội nói riêng
mang tính liên tục, nhất quán. Trước khi tập trung trình bày sự lãnh đạo của Đảng
đối với Hội từ năm 1976 đến năm 1981, chúng ta cần nghiên cứu mối quan hệ giữa
Đảng Cộng Sản Việt Nam với Hội ở giai đoạn trước năm 1976 trên những nét cơ bản
nhất.
1.1.1.2.1. Về tổ chức
Bộ máy tổ chức cơ quan TW Hội LHPNVN thời kỳ này giữ nguyên cơ
cấu Ban thường trực và 9 ban đơn vị như nhiệm kỳ Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ
II (xem Phụ lục 4. Sơ đồ tổ chức bộ máy cơ quan TW Hội LHPNVN khoá III (từ
3/1961 đến 3/1974). Tuy nhiên tên gọi có thay đổi chút ít.
1. Ban Văn phòng Trung ương Hội (tên cũ là Văn phòng thường trực)
2. Ban Tổ chức cán bộ
3. Ban Quốc tế (tên cũ là Ban Liên lạc quốc tế)
4. Ban Tuyên huấn
5. Ban Nghiên cứu phụ vận
6. Báo Phụ nữ Việt Nam
7. Ban Phúc lợi
Ban Quốc tế có nhiệm vụ:
13
+ Nghiên cứu nắm vững đường lối đối ngoại của Đảng vận dụng vào công
tác tuyên truyền giới thiệu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng
XHCN của nhân dân ta; phong trào phụ nữ, sự nghiệp giải phóng phụ nữ và hoạt
động của Hội LHPNVN; tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ đối với phụ nữ và nhân dân
ta để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của phụ nữ và nhân dân thế giới đối với đường
lối đấu tranh của ta buộc đế quốc Mỹ và chính quyền Sài gòn thi hành Hiệp định
Paris.
+ Giới thiệu kinh nghiệm và phong trào phụ nữ Việt Nam trong xây dựng
đất nước, phục hồi kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đấu tranh giành độc
lập dân tộc, địa vị quyền lợi của phụ nữ Việt Nam, quan điểm giải phóng phụ nữ của
Đảng ta. Tìm hiểu kinh nghiệm vận động phụ nữ ở các nước XHCN.
+ Mở rộng quan hệ chặt chẽ với các tổ chức phụ nữ các nước trong phe
XHCN; tranh thủ sự ủng hộ của Liên đoàn phụ nữ Dân chủ thế giới, phong trào
đấu tranh của phụ nữ Á, Phi, Mỹ la tinh; tăng cường và củng cố quan hệ hữu nghị
với phụ nữ Lào, Campuchia.
+ Tuyên truyền tình hình phụ nữ các nước ủng hộ đối với ta để động viên
phong trào phụ nữ trong nước.
Ban Tuyên huấn có nhiệm vụ:
+ Nắm tình hình tư tưởng quần chúng phụ nữ để phản ánh đề xuất với
Đảng đoàn và Ban Thường vụ về các chủ trương giáo dục quần chúng.
+ Nghiên cứu nội dung giáo dục người phụ nữ XHCN, giáo dục người mẹ
về nhiệm vụ đối với con cái, qua đó nắm tình hình và góp phần giáo dục thiếu nhi.
+ Nghiên cứu chuyên đề về giáo dục nữ thanh niên, giúp cho thường vụ có
kế hoạch phối hợp với Đoàn thanh niên để chỉ đạo công tác giáo dục nữ thanh
niên.
+ Tuyên truyền những thành tích hoạt động của phong trào phụ nữ miền
Nam và phụ nữ quốc tế.
15
+ Giới thiệu những gương anh hùng, chiến sĩ thi đua, điển hình người tốt
việc tốt trong phong trào phụ nữ.
+ Đấu tranh thực hiện quyền nam nữ bình đẳng, đấu tranh bảo vệ quyền lợi
phụ nữ và nhi đồng, bảo đảm thực hiện những chế độ, chính sách của Đảng và
Nhà nước đã ban hành đối với phụ nữ.
Nhìn chung, trong nhiệm kỳ 1961-1974, chức năng của cơ quan TW Hội ở
các ban đơn vị không thay đổi mà chỉ có thay đổi ở những nhiệm vụ cụ thể cho sát
hợp với tình hình và phong trào. Ví dụ đó là các nội dung tuyên truyền về người
tốt việc tốt,về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, về các phong
trào của phụ nữ như Năm tốt, Ba đảm đang...
1.1.2.2. Về hoạt động
Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, một vấn đề được Hội
phụ nữ đặc biệt quan tâm, đó là việc chăm lo đời sống nhân dân, và ưu tiên hàng đầu
là công việc cứu đói.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam đã vận động chị em phụ nữ ở
khắp các tỉnh miền Nam tập trung khôi phục và phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản
xuất, chăm lo đời sống nhân dân, ưu tiên hàng đầu là công tác cứu đói.
Các phong trào "Hũ gạo tình thương", "Lá lành đùm lá rách" được phát
động. Hoạt động thanh toán nạn mù chữ được phát triển rộng khắp. Các cấp Hội
phối hợp với ngành giáo dục tổ chức các lớp học bình dân học vụ, bổ túc văn hoá.
Các cuộc vận động mang tên "Biết chữ đền ơn Bác", "Biết chữ để đi bầu", "Lớp
học 8/3", vận động nữ thanh niên tham gia các phong trào "Lao động tình nguyện",
"Thanh niên xung phong". Ngoài ra phụ nữ còn tham gia các phong
trào truy quét các tệ nạn xã hội ma tuý, mại dâm…
Các chị đã đưa gạo đến tận tay người thiếu đói, không để xảy ra nhầm
Ở khu vực nông thôn, Hội tập trung vận động phụ nữ thực hiện tốt hai
khâu quan trọng: cấy đúng kỹ thuật, kịp thời vụ và hết diện tích và phát triển chăn
nuôi gia đình. Hội Liên hiệp Phụ nữ đứng ra kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Nông
nghiệp, Cục trồng trọt để vận động, hướng dẫn hội viên. Về chăn nuôi, ngoài việc
vận động phụ nữ tham gia chăn nuôi tập thể, TW Hội chủ trương vận động phụ nữ
thường xuyên phát triển chăn nuôi gia đình, góp phần tích cực thực hiện kế hoạch
Nhà nước. Hội đã tiến hành vận động phụ nữ phát triển chăn nuôi
17
hộ gia đình, xóa bỏ trống chuồng, nuôi thêm lợn nái, thực hiện chỉ tiêu của Nhà
nước và Hợp tác xã, đồng thời vận động phụ nữ làm đầy đủ nghĩa vụ bán thực
phẩm cho Nhà nước. Ngoài phần động viên phong trào, Hội còn chú ý tổ chức
trao đổi kinh nghiệm, bàn biện pháp đẩy mạnh chăn nuôi gia đình.
Thực hiện Chỉ thị 214 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hội còn thường
xuyên vận động thực hiện tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, giảm bớt những chi
tiêu lãng phí trong ma chay, cưới xin, giỗ tết. Hội còn vận động phụ nữ tiết kiệm
trong cả bữa ăn hàng ngày để có thể dành thóc, gạo phòng khi khó khăn, có việc
đột xuất. Hội Phụ nữ đã kết hợp vơi Ngân hàng, vận động gửi tiền tiết kiệm hàng
tháng. Ngoài ra, nhân các ngày kỷ niệm của phụ nữ, hoặc nhân bán lứa lợn, lứa
gà, cá hội cơ sở còn vận động chị em dành ra một số tiền để gửi tiết kiệm.
Đối với phụ nữ tri thức, Hội mới chỉ tổ chức được những buổi tiếp xúc để lắng
nghe những phát biểu về nguyện vọng, từ đó đề xuất các biện pháp giải quyết khó
khăn và động viên các chị em đem hết tài năng cống hiến cho công cuộc xây dựng
đất nước. Trung ương Hội thành lập những tổ chuyên đề: tổ bảo vệ sức khỏe phụ
nữ, tổ bảo vệ sức khỏe trẻ em, tổ pháp luật... và tổ chức các cuộc báo cáo chuyên
đề liên quan đến phụ nữ. Hội cũng đã tập hợp ý kiến của các tổ thành từng hệ
thống vấn đề liên quan đến các ngành để đề xuất biện pháp giải quyết.
Đối với ngành nghề thủ công, mặc dù Hội đã cố gắng, cũng mới chỉ làm được
việc động viên các chị không giấu nghề, đề nghị các hợp tác xã giúp đỡ phụ nữ đi
yếu cũng mới làm được trong phụ nữ, hội viên của Hội.
Sau chiến tranh, vấn đề chăm sóc gia đình liệt sĩ, thương binh, bộ đội càng
trở thành một vấn đề lớn, vừa mang ý nghĩa chính trị, xã hội; vừa đáp ứng nhu cầu
chính đáng của tình cảm nhân dân. Ở nhiều nơi, các cấp Hội Phụ nữ và Hội mẹ
chiến sĩ đã coi công tác chăm sóc gia đình liệt sĩ, thương binh, bộ đội là công tác
thường trực, lâu dài, thường xuyên. Đảng, Nhà nước và Bộ Lao động Thương
binh xã hội đánh giá cao sự đóng góp của HLHPN Việt Nam các cấp đối với
công tác hậu phương quân đội. Nhà nước đã tặng thưởng 24 huân chương và 70
Bằng khen của Thủ tướng cho các cấp Hội có thành tích xuất sắc.
19
Hoạt động quốc tế của Hội sau ngày hòa bình cũng được phát triển, Hội
có quan hệ với trên 25 tổ chức trên thế giới và có những hoạt động hữu nghị với
trên 100 nước. Trung ương Hội đã giới thiệu những hoạt động của phụ nữ Việt
Nam với bạn, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của bạn về tinh thần cũng như vật
chất, để góp phần xây dựng lại đất nước. Hội đã gây được cảm tình và tín nhiệm đối
với Hội bạn. Nhân năm Quốc tế phụ nữ (1975), Liên Hợp Quốc triệu tập Hội nghị thế
giới về phụ nữ ở Mexicô và cũng năm 1975, Đại hội lần thứ 7 Liên đoàn phụ nữ
dân chủ quốc tế họp ở Berlin, phụ nữ Việt Nam đã được đề cao. Tại Đại hội này, phụ
nữ Việt Nam được vào Ban lãnh đạo Đại hội. Bà Hà Thị Quế được bầu giữ chức Phó
Chủ tịch Liên đoàn.
Nhìn lại những chủ trương và thành tựu hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam trong giai đoạn bước chuyển (1975-1976), ngày càng khẳng định rõ
vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Ngày 15-1-1976, đồng chí Xuân Thủy, đồng chí Tố Hữu đã họp với đại
diện các đoàn thể ở Trung ương để nhận định khái quát về phong trào của Hội
phụ nữ như sau:
Hội Phụ nữ có chuyển biến tốt ở nhiều nơi trong việc thực hiện chức năng,
xây dựng được mối quan hệ với một số ngành trong công tác vận động phụ nữ lao
tác, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, xây dựng gia đình thuận hoà, hạnh phúc.
Nhưng việc xây dựng chủ nghĩa xã hội chưa được mấy năm thì đế quốc Mỹ
bị thất bại trong âm mưu tiến hành chủ nghĩa thực dân kiểu mới và chiến tranh
đặc biệt ở miền Nam, ồ ạt đem quân vào miền Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh
bằng Không quân và Hải quân ra miền Bắc nhằm phá hoại công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội, ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11, 12 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Hội đã phát động phong trào "Ba đảm đang chống Mỹ cứu nước và xây dựng
chủ nghĩa xã hội", Cuộc vận động "Ba đảm đang" đã khơi động mạnh mẽ tinh thần
yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của phụ nữ, cổ vũ chị em tự lực, tự cường phấn đấu
vươn lên gánh vác việc nước, việc nhà.
21
Thấm nhuần sâu sắc chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", hàng
triệu phụ nữ, đủ các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo xông lên vượt mọi trở
lực, gian nguy, hy sinh tất cả, hăng hái đứng lên đánh giặc cứu nước, bảo vệ và
xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện cho cách mạng miền Nam. "Giặc đến
nhà, đàn bà cũng đánh" là truyền thống nổi bật của phụ nữ Việt Nam. nhưng chưa
bao giờ truyền thống đó lại được thể hiện sáng ngời, với nội dung và hình thức phong
phú như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Với tinh thần "Tất cả vì miền Nam ruột thịt", hàng triệu bà mẹ và người vợ ở
hậu phương, từ đồng bằng đến miền núi, đã hy sinh tình cảm và hạnh phúc riêng,
chịu đựng mọi gian khổ trong sản xuất, công tác và đời sống, hiến dâng cho Tổ
quốc những người thân yêu nhất của mình. Con nối gót cha, em tiếp bước anh,
lớp lớp lên đường đi chiến đấu. Tỉnh nào cũng có hàng vạn gia đình có từ 2 con trở
lên đi bộ đội. Ví dụ, tỉnh Thanh Hoá có 22.000 gia đình có 2 con, 2.000 gia đình có
3 đến 4 con và 22 gia đình có 6 con tòng quân. Nhiều bà mẹ có một con trai cũng
tình nguyện xin cho con ra tiền tuyến. Suốt 20 năm cho đến nay, những người mẹ,
những người vợ vẫn dũng cảm, đảm đang việc nước, việc nhà để chồng con làm
không ngừng.
Cuộc đời chiến đấu hy sinh của chị Nguyễn Thị Út, bà mẹ anh hùng 6 con,
hình ảnh kiên cường của các nữ anh hùng liệt sĩ Lê Thị Hồng Gấm, Trần Thị Tâm
và bao nhiêu nữ anh hùng, dũng sĩ khác ở miền Nam đã in sâu vào tâm trí mỗi
người phụ nữ miền Bắc. Trong những lúc gian nguy nhất, chính những tấm gương
sáng ngời đó đã cổ vũ phụ nữ miền Bắc tự cường vươn lên để xứng đáng với phụ nữ
miền Nam "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Các tổ sản xuất trên đồng
ruộng, trong các xí nghiệp, công, nông trường, các đơn vị nữ dân quân, tự vệ thi đua
lập công trong sản xuất và chiến đấu để xứng đáng được mang tên các nữ anh hùng
miền Nam.
Tuy hai miền xa cách, nhưng hàng triệu trái tim của phụ nữ cả nước cùng
chung một nhịp, cuộc chiến đấu của phụ nữ cả nước vẫn hoà với nhau thành bức tranh
tuyệt đẹp tô thắm thêm truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam.
Trong 20 mươi năm qua, miền Bắc vừa trực tiếp chống chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam,
đồng thời vẫn bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã
23
hội, tăng cường lực lượng về mọi mặt. Đó chính là sức mạnh của chủ nghĩa xã
hội đã giải phóng người lao động khỏi cảnh bị bóc lột và cách làm ăn riêng lẻ,
đã xây dựng được nền kinh tế quốc doanh và tập thể, mở đường cho việc phát
huy mọi năng lực sản xuất, tiến hành cách mạng kỹ thuật, xây dựng con người
mới, cuộc sống mới.
Tuy nền kinh tế còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhưng toàn
dân được no ấm, con cái được học hành. Mọi người sống lành mạnh, tôn trọng,
thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Ai cũng tự hào được lao động để làm giầu cho đất
nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất
cho đời sống và hạnh phúc của mình và con cái.
Trong công cuộc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới tốt đẹp đó, phụ nữ
công nghiệp. Hàng chục vạn nữ công nhân viên chức đã nêu cao tinh thần tiền
phong của giai cấp công nhân, kiên quyết gửi con đi sơ tán, anh dũng bám sát vị
trí sản xuất và chiến đấu. Với ý thức đảm đang sản xuất, công tác thay thế anh em
đi chiến đấu, chị em tham gia sôi nổi các phong trào thi đua "Giỏi một nghề, biết nhiều
nghề", "Luyện tay nghề, thi thợ giỏi", đoàn kết giúp đỡ nhau bảo đảm ngày công,
giờ công, phấn đấu hoàn thành kế hoạch trong mọi tình huống. Bất chấp nắng
mưa, bão lụt, bom đạn, vượt qua bao nhiêu khó khăn trong sản xuất, công tác, đời
sống, nữ công nhân viên chức trong tất cả các ngành ra sức phấn đấu hoàn thành
tốt nhiệm vụ được phân công. Với tinh thần dám nghĩ, dám làm, phát huy sáng kiến
cải tiến lề lối làm việc, nâng cao năng suất lao động, chị em đã góp phần xứng đáng
vào việc giữ vững và phát triển sản xuất công nghiệp trong thời chiến, bảo đảm lưu
thông phân phối, mở rộng sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế phục vụ kịp thời cho chiến
đấu và đời sống nhân dân.
Trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phụ nữ chiếm 52% tổng số thợ thủ
công chuyên nghiệp. Chị em tham gia trong nhiều ngành nghề, sản xuất hàng vạn
mặt hàng, chiếm 1/3 sản lượng công nghiệp của miền Bắc. Từ người nội trợ hoặc lao
động cá thể chuyển thành người lao động tập thể, chị em đã trưởng thành về
nhiều mặt và đã góp nhiều thành tích đáng kể phục vụ cho chiến đấu, đời sống và
xuất khẩu.
Ngoài khu vực Nhà nước và tập thể, các tầng lớp phụ nữ khác đều có sự
đóng góp nhất định và tiến bộ rõ rệt. Phụ nữ công thương, nội trợ đã giúp đỡ nhau
chấp hành chính sách của Nhà nước, hăng hái tham gia công tác xã hội.
25