ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---*---
TRƢƠNG THỊ THỦY
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---*---
TRƢƠNG THỊ THỦY
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
: Liên hiệp Phụ nữ
UNFPA
: United Nations Population Fund;
Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc
UNICEF
: United Nations Children's Fund;
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
UNIFEM
: United Nations Development Fund for Women;
Quỹ Phát triển Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc
VAC
: Vƣờn - Ao - Chuồng
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………..............................
2
Chƣơng 1. LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
43
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử………………………………………………………………………. 43
2.1.2. Chủ trương mới của Đảng……………………………………………………………..
45
2.2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện chủ trƣơng mới của
56
Đảng….………………………………………………………………………………...
2.2.1. Xây dựng tổ chức Hội …………………………………………………………………
56
2.2.2. Hoạt động của Hội ……………………………………………………………………
63
Chƣơng 3. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM………………………......................
77
3.1. Nhận xét…………………………………………………………………………..
77
3.1.1. Ưu điểm…………………………………………………………………………………..
77
mọi ngành nghề, trên mọi địa bàn, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam với đức tính cần
cù, sáng tạo, chịu thƣơng, chịu khó, đã và đang vƣợt qua mọi khó khăn, nỗ lực trong
học tập, lao động và công tác, tham gia tích cực vào quá trình hoạch định và thực
hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, đạt
nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Những đóng góp bền bỉ, thầm lặng của các thế hệ phụ nữ ngày càng tô đậm
thêm truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu,
đảm đang, và tiếp tục khẳng định lời dạy của Bác Hồ "Non sông gấm vóc Việt Nam,
do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ".
Khi bƣớc vào công cuộc đổi mới, bằng sự nỗ lực lớn lao, phụ nữ Việt Nam
đã có những đóng góp vẻ vang cùng toàn Đảng, toàn dân giữ vững ổn định chính
trị, phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề vững chắc đƣa đất nƣớc chuyển sang thời
kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân
giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngay từ khi ra đời đã thấu hiểu nguyện vọng
của ngƣời phụ nữ. Các chƣơng trình hoạt động của Hội luôn xuất phát từ yêu cầu
của Đất nƣớc, từ nguyện vọng của phụ nữ. Tấm lòng vì sự nghiệp chung của hệ
thống cán bộ phụ nữ đƣợc truyền nối từ nhiều thế hệ, đã tạo một sức mạnh to lớn.
Trong 10 năm đổi mới (1986-1996), dƣới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Hội LHPN Việt Nam đã luôn luôn tự đổi mới về nội dung và phƣơng thức hoạt
5
động, trung thành với sứ mệnh cao cả là ngƣời bạn gần gũi với các tầng lớp phụ nữ,
thu hút đại bộ phận phụ nữ Việt Nam đứng trong tổ chức. Hội đã chăm lo quyền lợi
mọi mặt của phụ nữ Việt Nam, nâng cao vai trò và vị trí của phụ nữ trong xã hội và
gia đình; đồng thời liên kết các tầng lớp phụ nữ Việt Nam thành một sức mạnh, góp
phần đƣa xã hội Việt Nam tiến lên theo định hƣớng của Đảng. Sự chuyển động
chung của giới phụ nữ Việt Nam trong 10 năm đổi mới là một lực lƣợng thống nhất,
Nhƣ vậy, Hội LHPN Việt Nam ngày càng thích ứng với nền kinh tế thị
trƣờng của đất nƣớc, có xu hƣớng ngày càng phát triển và hoạt động ngày càng có
hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sồng xã hội, có vai trò ngày càng quan trọng,
có đóng góp cho sự phát triển của đất nƣớc. Đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, các hoạt động Hội mang đậm tính chính trị - xã hội, các cấp Hội
ngày càng chủ động tham gia tích cực trong sự nghiệp phát triển đất nƣớc, thực hiện
công tác vận động quần chúng của Đảng và đã phản ánh đƣợc với Đảng, Nhà nƣớc
tâm tƣ, nguyện vọng của chị em phụ nữ; tham gia vào công tác xây dựng chủ
trƣơng, chính sách, của Đảng, Nhà nƣớc. Đảng, Quốc hội, Chính phủ đánh giá cao
sự trƣởng thành và đóng góp to lớn của Hội LHPN Việt Nam, song việc thực hiện
chức năng giám sát, phản biện xã hội của Hội còn hạn chế nhất định.
Trên cơ sở những nhận thức đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo
xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ năm
1986 đến năm 1996” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Đề tài “Đảng lãnh đạo xây dựng và tổ chức Hội LHPN Việt Nam từ năm
1986 đến năm 1996” là sự kế thừa một số công trình khoa học nổi bật đã đƣợc công
bố. Cụ thể nhƣ sau:
- Công trình nghiên cứu khoa học năm 2006 về “Đổi mới các quan hệ giữa
Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt
Nam” do GS. TS Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm đề tài. Công trình đi sâu phân tích
sự thay đổi nhận thức của Đảng, Nhà nƣớc trong mối quan hệ với các tổ chức chính
trị - xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với riêng Hội LHPN chỉ đƣợc đề cập lƣớt
qua, không trình bày cụ thể.
7
- Công trình khoa học năm 2002 về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị đáp ứng các
Với mong muốn làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và
hoạt động của Hội LHPN Việt Nam những năm 1986-1996, đồng thời tạo nên một
công trình chuyên khảo, có ý nghĩa, tác giả đã lựa chọn “Đảng lãnh đạo xây dựng tổ
chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1996” làm đề tài
luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng tổ chức và hoạt
động của Hội LHPN Việt Nam; làm rõ vai trò, chức năng của Hội LHPN Việt Nam;
xác định đƣợc vị trí, nhiệm vụ của Đảng và tổ chức Hội trong công tác vận động
phụ nữ.
- Làm rõ kết quả sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng tổ chức và
hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996). Từ đó,
rút ra một số kinh nghiệm lịch sử về phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với Hội
LHPN Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các văn bản, chủ trƣơng của Đảng về công tác phụ vận trong
10 năm đầu đổi mới, từ đó rút ra những nhận xét và kinh nghiệm trong công tác vận
động phụ nữ của Đảng thông qua tổ chức Hội LHPN Việt Nam.
- Trình bày và phân tích quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng tổ chức và hoạt
động của Hội LHPN Việt Nam gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và định hƣớng của
Đảng trong những năm 1986-1996. Từ đó, đƣa ra những đánh giá, nhận xét có căn
cứ về ƣu điểm, hạn chế trong công tác vận động phụ nữ của Đảng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
9
- Những công trình nghiên cứu về chủ trƣơng, chính sách của Đảng, về công
tác vận động phụ nữ, về Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của mặt trận và các
đoàn thể… đƣợc lƣu tại Phòng lƣu trữ Ban Tổ chức Trung ƣơng, Phòng lƣu trữ
Trung ƣơng Hội LHPN Việt Nam, Phòng lƣu trữ Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Thƣ
viện Quốc gia, Trung tâm Thƣ viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại
học Quốc gia Hà Nội…
5.2. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ;
những lý luận về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, học thuyết Mác-Lênin và tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và những quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp lịch sử là chủ yếu nhằm mô tả một cách
khách quan, trung thực những chủ trƣơng, biện pháp của Đảng và hiệu quả thực
hiện của Hội trong xây dựng và hoạt động với quan điểm “nhìn thẳng sự thật, nói rõ
sự thật và đánh giá đúng sự thật”.
Luận văn cũng sử dụng phƣơng pháp logic để làm rõ sự hình thành, phát
triển chủ trƣơng của Đảng và rút ra những nhận xét về ƣu điểm và hạn chế, đồng
thời bƣớc đầu tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng và tổ
chức Hội LHPN Việt Nam.
Ngoài ra, luận văn sử dụng một số phƣơng pháp khác nhƣ: so sánh, tổng hợp,
thống kê…
6. Những đóng góp của luận văn
Trình bày một cách tƣơng đối đầy đủ, toàn diện các chủ trƣơng, quan điểm
của Đảng liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong những
CỦA HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991
1.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng
1.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc mùa
Xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới với các đặc điểm:
từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; từ đất nƣớc bị chia cắt chuyển sang độc lập,
thống nhất; từ hai nhiệm vụ chiến lƣợc là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
đấu tranh giải phóng miền Nam chuyển sang nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội
trên phạm vi cả nƣớc và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã đánh thắng
đế quốc Mỹ - một đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự lớn mạnh nhất thế giới. Một
kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam đƣợc mở ra: Kỷ nguyên cả
nƣớc độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau chiến thắng, thế và lực của cách mạng Việt Nam lớn mạnh vƣợt bậc.
Khối đại đoàn kết dân tộc do Đảng lãnh đạo đƣợc tăng cƣờng trên cơ sở nhất trí về
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Khí thế cách mạng của quần chúng
nhân dân lên cao; chính quyền nhân dân đƣợc xây dựng và củng cố vững mạnh. Đất
nƣớc thống nhất, những nguồn lực vật chất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có điều
kiện phát huy tối đa. Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động dồi
dào; ngƣời Việt Nam cần cù, thông minh. Đảng và nhân dân Việt Nam đúc kết đƣợc
những kinh nghiệm quý báu từ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam đƣợc bầu bạn năm châu
đồng tình ủng hộ, nhận đƣợc sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần..
Bên cạnh những thuận lợi đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt
Nam cũng đứng trƣớc những khó khăn to lớn. Cơ sở xuất phát của đất nƣớc là một
nền kinh tế nghèo nàn, lực lƣợng sản xuất rất thấp, trong xã hội còn nhiều yếu tố
13
phức tạp do quá khứ và do chủ nghĩa thực dân mới để lại. Cơ sở vật chất - kỹ thuật
khác là phải đổi mới toàn diện đất nƣớc, nhằm tạo nên sự bứt phá về kinh tế - xã
hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn.
Với hoàn cảnh của đất nƣớc vào thập niên 1980, đời sống của các tầng lớp
phụ nữ cũng rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn: một bộ phận đáng kể phụ nữ
không có hoặc không đủ việc làm, thu nhập thấp, nhiều chị em phải làm việc trong
điều kiện vất vả, độc hại, sức khỏe giảm sút; phụ nữ bị phân biệt đối xử, là nạn nhân
của các tệ nạn xã hội; một bộ phận phụ nữ giảm sút niềm tin, sa vào lối sống thực
dụng… Trong các tầng lớp phụ nữ nổi lên tâm tƣ lo lắng, bất bình, yêu cầu Đảng,
Nhà nƣớc, các cấp, các ngành quan tâm giải quyết các vấn đề cấp bách, đặc biệt liên
quan đến phụ nữ, trẻ em là: Việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, an
ninh và tệ nạn xã hội…
Phong trào phụ nữ và các hoạt động của Hội phụ nữ vì thế cũng gặp không ít
khó khăn, thách thức. Nhiệm vụ của Hội LHPN Việt Nam rất nặng nề trong khi
điều kiện hoạt động của Hội còn nhiều hạn chế. Cán bộ, hội viên, Đảng bộ và chính
quyền các cấp… chƣa nhận thức đúng chức năng của Hội. Tổ chức bộ máy và biên
chế của Hội chƣa hợp lý, hoạt động kém hiệu quả. Tổ chức cơ sở Hội chƣa phù hợp
với nhiệm vụ và yêu cầu của đông đảo phụ nữ. Trình độ năng lực của đội ngũ cán
bộ Hội chƣa đáp ứng yêu cầu… Phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” đƣợc triển khai từ năm 1978 về nhiều mặt không còn phù hợp; các hoạt
động của Hội chủ yếu tập trung huy động, vận động lực lƣợng phụ nữ thực hiện các
nghĩa vụ với xã hội, với đất nƣớc.., mới chỉ chú trọng động viên phụ nữ vƣợt khó
khăn thực hiện nghĩa vụ ngƣời công dân, ngƣời vợ, ngƣời mẹ… mà chƣa quan tâm
chăm lo lợi ích thiết thực cho phụ nữ, phát huy quyền làm chủ và nâng cao trình độ
của phụ nữ; trong tƣ tƣởng chỉ đạo, có nơi, có lúc còn thõa mãn về thành tựu giải
phóng phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, chƣa nhận thức đầy đủ yêu cầu, nội dung giải
phóng phụ nữ về kinh tế - xã hội; một số cấp ủy Đảng vẫn coi công tác phụ nữ là
việc riêng của Hội LHPN Việt Nam.
15
“Thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc phải đƣợc bảo đảm bằng sức mạnh
tổng hợp của chế độ mới. Trong khi không ngừng chăm lo nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc, Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa
xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con
ngƣời mới xã hội chủ nghĩa” [9, tr. 373].
Đại hội lần thứ VI xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của
những năm còn lại của chặng đƣờng đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đƣờng tiếp theo.
Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát, Đại hội đánh giá cao
vai trò phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp chung của đất nƣớc. Phụ nữ tất cả các cấp,
các ngành cần thấm nhuần sâu sắc ba quan điểm cơ bản:
Thứ nhất, phụ nữ Việt Nam có truyền thống lịch sử vẻ vang, có những tiềm
năng to lớn, là một động lực quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế
xã hội. Phụ nữ vừa là ngƣời lao động, vừa là ngƣời mẹ, ngƣời thầy đầu tiên của con
ngƣời… Phải xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của
công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thứ hai, mục tiêu giải phóng phụ nữ là thiết thực cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình
đẳng, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Xây dựng ngƣời phụ
nữ Việt Nam có sức khoẻ, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính
đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu.
Thứ ba, sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của
Đảng và các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình; đƣờng lối giải
phóng phụ nữ phải đƣợc thể chế hoá và cụ thể hoá trong hệ thống pháp luật, chế độ,
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc; Hội LHPN Việt Nam là tổ chức đại diện cho lợi
ích phụ nữ, là trung tâm tập hợp đoàn kết phụ nữ Việt Nam hƣớng dẫn và vận động
chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, vì sự phát triển và hạnh phúc của
sức chiến đấu của tổ chức đảng và bộ máy nhà nƣớc, làm lành mạnh các quan hệ xã
18
hội. Một trong những yêu cầu của cuộc vận động là “Kiện toàn tổ chức đảng, bộ
máy nhà nƣớc, các đoàn thể quần chúng theo tinh thần: đổi mới tƣ duy, nhất là tƣ
duy kinh tế, đổi mới tổ chức và cán bộ, đổi mới phong cách làm việc, từ đó mà nâng
cao sức chiến đấu và hiệu lực của các tổ chức. Làm tốt việc xây dựng quy hoạch cán
bộ, trƣớc hết là kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, các cấp, các ngành từ
Trung ƣơng đến cơ sở. Làm tốt công tác đào tạo, giáo dục cán bộ, đảng viên…
Trong quá trình cuộc vận động, cần đƣa cán bộ, đảng viên vào cuộc chiến đấu thực
hiện Nghị quyết của Đảng, đấu tranh chống tiêu cực, qua đó giáo dục, rèn luyện đội
ngũ cán bộ, đảng viên, biểu dƣơng những ngƣời tích cực, đề bạt những cán bộ có
phẩm chất và năng lực, năng động, sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao, kết
nạp những ngƣời tiên tiến có đủ tiêu chuẩn vào Đảng” [10, tr.392]. Trên cơ sở đó,
Bộ Chính trị yêu cầu các ban Đảng, các đoàn thể quần chúng thanh niên, công đoàn,
phụ nữ… phải phối hợp chặt chẽ giúp Ban Bí thƣ trong việc chỉ đạo cuộc vận động.
Bƣớc sang năm 1988, công cuộc cải tổ, cải cách ở Liên Xô và các nƣớc xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu ngày càng chao đảo. Việc thực hiện đa nguyên về chính
trị, đa đảng đối lập, phủ nhận sạch trơn quá khứ cách mạng; chĩa mũi nhọn phê
phán vào Đảng Cộng sản, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, gieo rắc những tƣ tƣởng hoài
nghi, bi quan, dao động với chủ nghĩa xã hội đem đến những hậu quả vô cùng tai
hại. Trong bối cảnh đó, Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng ra Nghị quyết 05-NQ/TW
ngày 20/6/1988 về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện
Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng. Nghị quyết nhấn mạnh “phải tăng cƣờng
công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi
mới”. Trƣớc tiên, phải “làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ và lề lối làm
việc giữa các cơ quan đảng, cơ quan nhà nƣớc, tổ chức kinh tế và các đoàn thể quần
chúng… Các đoàn thể quần chúng định rõ chức năng, nhiệm vụ, đổi mới nội dung
chức bộ máy của mỗi đoàn thể rất gọn, không cần nhiều cán bộ chuyên trách. Bỏ
những hình thức tổ chức và hoạt động làm cho đoàn thể trở nên hành chính hóa, xa
quần chúng, không gắn với hội viên” [11, tr.544-549].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VI
(ngày 27/3/1990) nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta lúc này là phải
20
đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và các
nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ƣơng và Bộ Chính trị, củng cố và phát triển
những thắng lợi đã đạt đƣợc, kiên quyết khắc phục những khuyết điểm, kịp thời giải
quyết những vấn đề cấp bách, làm cho công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã
hội của nhân dân ta thu đƣợc những thành tựu ngày càng lớn” [12, tr. 72].
Nghị quyết cũng khẳng định: “Đƣờng lối đổi mới do Nghị quyết Đại hội lần
thứ VI của Đảng đề ra đƣợc nhân dân đồng tình và ủng hộ đã đem lại những kết quả
bƣớc đầu quan trọng về nhiều mặt”…; “Công tác quần chúng không chỉ là trách
nhiệm của các đoàn thể, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống
chính trị, có phối hợp với nhau dƣới sự lãnh đạo của Đảng”. Trong đó, “Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam… là những đoàn thể chính trị - xã hội
của các giai cấp và tầng lớp nhân dân do Đảng lãnh đạo, là người đại diện, bảo vệ
lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, là trường học
xã hội chủ nghĩa của đoàn viên, hội viên và là nòng cốt của phong trào cách mạng
quần chúng” [12, tr. 84-86].
Sau ba năm thực hiện đƣờng lối đổi mới do Đại hội lần thứ VI của Đảng đề
ra, Việt Nam đạt đƣợc những thành tựu quan trọng về kinh tế và xã hội. Tình hình
chính trị ổn định. Đời sống của một bộ phận nhân dân đƣợc cải thiện tạo niềm phấn
khởi và tin tƣởng trong nhân dân. Sự đổi mới một bƣớc về tổ chức hoạt động của
Đảng, chính quyền và các đoàn thể đã khơi dậy tính tích cực, sáng tạo của nhân dân.
hiện Nghị quyết Trung ƣơng tám “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng
cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” ở cơ sở cũng nêu rõ: “Các đoàn thể
quần chúng ở cơ sở định rõ chức năng, cải tiến phƣơng thức hoạt động, đề ra nhiệm
vụ của tổ chức mình để đem lại lợi ích thiết thực cho đoàn viên, hội viên” [12, tr.
165].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) tiếp tục khẳng định
quyết tâm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đƣa đất nƣớc vƣợt qua những thử
thách, đi dần vào thế ổn định và phát triển năng động, vững chắc. Trong đó, xác
định: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần đƣợc đổi mới về tổ chức và
22
hoạt động để thực sự góp phần thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, chăm lo và bảo
vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia các công việc quản lý nhà nƣớc; giữ
vững và tăng cƣờng mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nƣớc với nhân dân.
Các đoàn thể có nhiệm vụ giáo dục chính trị tƣ tƣởng và đạo đức mới, động viên,
phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, đoàn kết toàn dân, phấn đấu
cho sự thành công của công cuộc đổi mới.
“Hình thức tổ chức và sinh hoạt của đoàn thể phải đa dạng, đáp ứng nhu cầu
chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, ích nƣớc lợi nhà, tƣơng thân
tƣơng ái; thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ dƣới sự lãnh đạo
của Đảng và tuân theo pháp luật của Nhà nƣớc, hƣớng về cơ sở, sát với đoàn viên,
hội viên. Khắc phục tình trạng nhà nƣớc hoá, hành chính hoá.
“Bộ máy của các đoàn thể phải gọn nhẹ, hoạt động đúng với tính chất tổ
chức quần chúng. Cán bộ của các đoàn thể đại bộ phận không chuyên trách, đƣợc
lựa chọn từ những ngƣời ƣu tú trong phong trào, có năng lực, phẩm chất và có tín
nhiệm với đoàn viên, hội viên” [51, tr. 118].
Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
đƣợc Đại hội lần thứ VII của Đảng thông qua, nêu rõ: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng
trọng và biết phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của các tổ chức quần
chúng; tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và
quản lý kinh tế, quản lý Nhà nƣớc” [4, tr. 8].
Đƣờng lối đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với quá trình xây
dựng tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam. Mặc dù trong những năm đầu
đổi mới (986-1991), những chủ trƣơng của Đảng có liên quan đến xây dựng tổ chức
và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam chỉ đƣợc đề cập chung chung, gắn liền với
việc lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể, nhƣng đã đƣợc Hội thực hiện có hiệu quả.
24
1.2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hiện thực hóa chủ trƣơng của Đảng
1.2.1. Xây dựng tổ chức Hội LHPN Việt Nam
Quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng về sắp xếp lại tổ chức,
nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nƣớc và các đoàn
thể quần chúng, Hội LHPN Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc,
xây dựng phƣơng án sắp xếp lại tổ chức cơ quan theo tinh thần gọn nhẹ, tinh giản,
nâng cao hiệu quả hoạt động. Đại hội diễn ra từ ngày 19-20/5/1987 tại Thủ đô Hà
Nội với 700 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và 28 triệu phụ
nữ trong cả nƣớc. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VI gồm 98 ủy viên.
Ban Chấp hành bầu Đoàn Chủ tịch gồm 15 ủy viên. Bà Nguyễn Thị Định - Ủy viên
Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng tiếp tục đƣợc bầu là Chủ tịch Hội LHPN Việt
Nam.
Đại hội thông qua Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (bổ sung), trong
đó khẳng định “Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một tổ chức quần chúng cách
mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Là một bộ phận trong hệ
thống chuyên chính vô sản, Hội có chức năng “giáo dục, vận động phụ nữ xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đại diện cho quyền bình đẳng làm chủ tập thể
của phụ nữ, tham gia quản lý và kiểm tra công việc của Nhà nước, tập trung vào