TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THU HIẾU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ HUYỆN TÂN HIỆP,
TỈNH KIÊN GIANG TRONG VIỆC THỰC HIỆN
NHIỆM VỤ: “HỖ TRỢ PHỤ NỮ XÂY DỰNG GIA
ĐÌNH NO ẤM, BÌNH ĐẲNG, TIẾN BỘ, HẠNH PHÚC”
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010
Khoá học: 2007-2011
Long Xuyên, 5/2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
.
NGUYỄN THỊ THU HIẾU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S: NGUYỄN THỊ VÂN.
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ HUYỆN TÂN HIỆP,
TỈNH KIÊN GIANG TRONG VIỆC THỰC HIỆN
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu...................................................3
4. Đóng góp của khóa luận.....................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................4
6. Kết cấu của khóa luận .......................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG ...............................................................................................6
CHƯƠNG I: PHỤ NỮ VÀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
VỚI PHONG TRÀO PHỤ NỮ.
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam về phụ nữ.......................................................................6
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phụ nữ. ...............................6
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về phụ nữ..................................................................................12
1.2. Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc thực hiện nhiệm
vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc..............................................................................................................17
1.2.1. Khái quát quá trình hình thành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam..........17
1.2.2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với phong trào phụ nữ trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc từ năm 1945 đến 1975...............................19
1.2.3. Vai trò của Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc thực hiện
nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng,
tiến bộ, hạnh phúc” ...........................................................................25
CHƯƠNG II: HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH
KIÊN GIANG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ: “HỖ TRỢ PHỤ NỮ XÂY
DỰNG GIA ĐÌNH NO ẤM, BÌNH ĐẲNG, TIẾN BỘ, HẠNH PHÚC” TỪ
NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010.
2.1. Khái quát về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa và xã
hội huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang .......................................................30
PHẦN KẾT LUẬN.............................................................................................53
Danh mục tài liệu tham khảo ...............................................................................55
Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của
dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Qua hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ,
các chị, các mẹ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến
đấu, hy sinh, cống hiến cả cuộc đời mình cho độc lập tự do của Tổ quốc. Họ là
những người trực tiếp chiến đấu, hăng say lao động sản xuất để vượt lên cảnh
đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và đàng
hoàng hơn. Trong thời kỳ kháng chiến Đảng, Bác Hồ, Chính phủ phong tặng
phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”
và trong thời kỳ đổi mới đất nước “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng”
sự phong tặng này không chỉ là sự khích lệ, động viên, sự trao tặng danh phận
mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam. Vì thế,
bồi dưỡng lực lượng phụ nữ, phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi
mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước ta
trong mọi thời kỳ cách mạng.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, và trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phụ nữ Việt
Nam đã vươn lên mạnh mẽ, khẳng định vai trò quan trọng của mình trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, làm rạng rỡ thêm truyền thống vẻ vang xưa. Phụ
nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay không chỉ giỏi việc nước, tham gia tích
cực trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, kinh tế, vǎn hóa xã hội, mà còn đảm
no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” đã có sự chuyển biến tích cực và đạt
được nhiều kết quả nhất định: giúp đỡ các chị em phụ nữ trong huyện phát
triển kinh tế gia đình, phát huy tính sáng tạo trong học tập, lao động, phụ nữ
được chăm sóc sức khỏe góp phần đáng kể vào việc “Xây dựng gia đình no
ấm, tiến bộ, hạnh phúc” địa vị của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội được
cải thiện. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được trong việc thực hiện
nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc” vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định: Công tác kiểm tra giám sát,
phối hợp giải quyết những vấn đề vướng mắc tồn tại ở cơ sở chưa kịp thời.
Hội chưa bao khắp đến mọi chị em phụ nữ vì thế huyện vẫn còn một bộ phận
phụ nữ nghèo, thiếu việc làm, thu nhập bấp bênh, điều kiện tiếp cận với các
thông tin khoa học kỹ thuật, hưởng thụ văn hóa tinh thần của phụ nữ nghèo
còn hạn chế. Vì vậy, Hội Liên hiệp Phụ nữ, cùng các cấp chính quyền huyện
Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang cần có chính sách, chương trình hỗ trợ cụ thể và
thiết thực hơn nữa giúp đỡ chị em phụ nữ của huyện vươn lên cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần, nâng cao địa vị phụ nữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của phụ nữ huyện Tân Hiệp trong giai đoạn hiện nay và
những năm tới được coi là vấn đề hết sức cơ bản, cấp bách và có ý nghĩa to
lớn.
Do vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam, trong việc chăm lo đời sống các tầng lớp phụ nữ và phát triển nguồn
nhân lực nữ đối sự phát triển kinh tế-xã hội của nước ta. Vì vậy, đã có nhiều
bài viết, công trình nghiên cứu có giá trị về phong trào phụ nữ Việt Nam và
hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam như: Luận văn tiến sĩ “Quan
tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước” của PGS. Bùi Thị Kim Quỳ (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 2,
năm 1996); “Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định nghề đào tạo dự phòng
cho phụ nữ” của TS. Nguyễn Tín Nhiệm và TS. Phan Thị Thanh (Tạp chí
Khoa học về phụ nữ, số 4, năm 2002); khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
đóng góp của nhiệm vụ này với đời sống các tầng lớp phụ nữ trong huyện.
- Đánh giá tình hình hoạt động của Hội Phụ nữ huyện Tân Hiệp, tỉnh
Kiên Giang từ năm 2007 đến năm 2010
- Đề xuất một số giải pháp, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động
trong việc thực hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” ở huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang trong những
năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Tìm hiểu hoạt động Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên
Giang trong việc thực hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”.
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 4
Hội Liên hiệp Phụ nữ ở huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang trong việc thực
hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc” từ năm 2007 đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xã hội khoa học, khảo sát thực tiễn, đối
chiếu và so sánh, phân tích, tổng hợp.
5. Đóng góp của khóa luận.
- Kết quả nghiên cứu làm nguồn tư liệu để Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 5
CHƯƠNG II: HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH
KIÊN GIANG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ: “HỖ TRỢ PHỤ NỮ XÂY
DỰNG GIA ĐÌNH NO ẤM, BÌNH ĐẲNG, TIẾN BỘ, HẠNH PHÚC” TỪ
NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2010.
2.1. Khái quát về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa và
xã hội huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
2.2. Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tân Hiệp tỉnh Kiên Giang với việc thực
hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc” từ năm 2007 đến năm 2010.
2.2.1. Mục tiêu thực hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” ở huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang từ năm
2007 đến năm 2010.
2.2.2. Hoạt động của việc thực hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng
gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” ở huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên
Giang từ năm 2007 đến năm 2010.
2.2.2.1. Từ năm 2007 đến 2008.
2.2.2.2. Từ năm 2009 đến 2010.
2.2.3. Thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ
phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” ở huyện Tân
Hiệp, tỉnh Kiên Giang từ năm 2007 đến năm 2010.
2.2.3.1. Thành tựu và nguyên nhân của thành tựu.
2.2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ: “Hỗ trợ
phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” ở huyện Tân
Hiệp tỉnh Kiên Giang trong những năm tới.
đến hôn nhân sẽ bị trừng phạt nặng nề nhất.
Francois Marrie Charles Fourier (1772-1837), nhà xã hội chủ nghĩa
không tưởng Pháp thế kỷ XIX. Ông cho rằng, “Tự nhiên đã ban phát cho hai
giới những phần bằng nhau về năng lực làm khoa học và nghệ thuật”. Song
dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người phụ nữ luôn chịu thiệt thòi về quyền lợi,
địa vị thấp kém. Francois Marrie Charles Fourier là người đầu tiên nêu lên
quan điểm “Mức độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ giải phóng xã hội”
[19; 75]. Tư tưởng giải phóng phụ nữ của Francois Marrie Charles Fourier
được xem là tư tưởng nổi bật nhất và mang tính nhân đạo sâu sắc nhất. Tuy
nhiên do hạn chế của thời đại, các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng rơi vào
thế bế tắc khi chỉ ra con đường để giải phóng phụ nữ khỏi những bất công của
xã hội đương thời.
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng về phụ nữ và giải của các nhà xã hội chủ
nghĩa không tưởng thế kỷ XVI và thế kỷ XIX (Thomas More và Francois
Marrie Charles Fourier), sau này các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin
nghiên cứu và đấu tranh không mệt mỏi cho quyền và lợi ích cơ bản của phụ
nữ, một lực lượng lao động lớn trong xã hội.
C.Mác nói: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà
không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm
của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ như thế nào” [11; 288].
Để khẳng định vai trò của phụ nữ trong lịch sử, đồng thời chỉ ra sự hạn
chế về quan điểm của một số nhà triết học cổ đại cho rằng từ khi có xã hội loài
người, đàn bà là nô lệ và phụ thuộc vào đàn ông. Trong xã hội cổ Hy Lạp,
Aristotle nói: “Thật là tiện lợi cho việc loài người thống trị loài vật, cũng
giống như giữa các giới tính, đàn ông là thượng đẳng trong khi đàn bà là hạ
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
cuộc sống cộng đồng, nhưng ít có sự đòi hỏi cho bản thân. Chế độ mẫu quyền
tồn tại suốt thời đại mông muội cho đến giai đoạn thấp của thời đại dã man, nó
được chuyển sang thời đại mới nhờ vào sự tiến bộ vượt bậc của lực lượng sản
xuất và công cụ lao động.
- Thời kỳ thứ hai: chế độ phụ hệ.
Sự xuất hiện công cụ lao động mới, cùng các cuộc phân công lao động
xã hội lớn càng làm cho sản xuất tiếp tục phát triển mạnh mẽ, là nguyên nhân
sâu xa của những biến đổi sâu sắc về gia đình và xã hội. Chế độ phụ hệ xuất
hiện, thay thế cho chế độ mẫu hệ.
Khi bàn về điều này, C.Mác đã lý giải nó bắt nguồn từ các nguyên nhân
kinh tế và đối kháng giai cấp. C.Mác cho rằng giai cấp nào thống trị kinh tế,
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 8
mà cụ thể là chiếm được tư liệu sản xuất thì giai cấp đó sẽ giành được địa vị
thống trị về chính trị và xã hội. Chính từ trong thời kỳ nguyên thủy, khi mà xã
hội mẫu hệ đang tồn tại thì người nam giới đã có cơ hội để chiếm lấy địa vị
thống trị. Họ có vị thế nổi trội hơn về kinh tế. Việc săn bắt, chế tạo công cụ
sản xuất, điều kiện làm việc rộng lớn luôn đòi hỏi sự đổi mới, sáng tạo đã giúp
nam giới khẳng định tiềm năng kinh tế hơn phụ nữ-những người luẩn quẩn ở
gần hang động với những công việc nấu nướng, chăm sóc con cái gần như
không thay đổi. Hầu hết của cải, tài sản của gia đình lúc này đều do bàn tay
người đàn ông làm ra: như lương thực, gia súc, nô lệ, với sự thay đổi này, vai
trò của người đàn ông ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong gia
đình. Chính vì vậy mà Ph.Ăng-ghen cho rằng: Việc này đã đánh một đòn
Trang 9
những có quyền cai quản trong gia đình, ngoài xã hội mà ngay cả quyền tự do
tính giao không những không mất đi mà còn được tăng cường.
Như vậy, sự ra đời của chế độ tư hữu, dẫn đến sự áp bức nô dịch của giai
cấp có quyền và có của đối với giai cấp không có quyền và không có của. Sự
nô dịch ấy trùng với sự nô dịch của nam giới đối với phụ nữ trong gia đình. Từ
đây trong gia đình, người phụ nữ luôn phụ thuộc vào người chồng, người cha
về mọi mặt. Dưới chế độ tư hữu một vợ một chồng chỉ đối với người phụ nữ,
chứ không phải đối với nam giới.
Ph.Ăng-ghen viết: “Sự đối lập giai cấp đầu tiên trong lịch sử là sự đối lập
xuất hiện cùng một lúc với sự phát triển của sự đối kháng đàn ông và đàn bà
trong hôn nhân một vợ một chồng, sự áp bức của giai cấp đầu tiên thì xuất
hiện cùng một lúc với sự áp bức của đàn ông đối với đàn bà” [15; 14].
Từ đó, Ph.Ăng-ghen khẳng định, người phụ nữ mất đi quyền lợi vốn có
của họ trong gia đình và ngoài xã hội, xuất phát từ nguyên nhân kinh tế, từ ý
đồ nô dịch về kinh tế của đàn ông đối với đàn bà, từ sự tập trung của cải lớn
vào tay một người-đàn ông. Nếu như trước đây, việc tề gia nội trợ là một chức
vụ xã hội cần thiết do phụ nữ đảm nhiệm, cũng như việc nam giới cung cấp
lương thực, thì nay trong gia đình cá thể, tề gia nội trợ đã mất đi tính xã hội và
trở thành một việc phục vụ riêng cho gia đình, người đàn bà trở thành người
đày tớ chủ chốt và bị gạt ra khỏi sản xuất xã hội. Từ địa vị kinh tế thấp kém,
người phụ nữ bị đẩy xuống loại người thấp hèn, bị lệ thuộc, bị trói buộc, bị đối
xử bất công. Người đàn bà hoàn toàn mất quyền chủ động trong hôn nhân và
gia đình, mọi hành động thô bạo của người đàn ông đối với người đàn bà được
hình thành và phát triển từ đấy. Chính vì vậy, Ph.Ăng-ghen đi đến kết luận:
“Hôn nhân cá thể là một bước tiến lịch sử lớn, nhưng đồng thời nó cũng mở
ra, bên cạnh chế độ tư hữu và tài sản tư nhân, một thời đại kéo dài cho đến
giải phóng phụ nữ, đem lại quyền tự do cho phụ nữ theo Ph.Ăng-ghen phải
“Xóa bỏ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và các quan hệ tài sản do nền sản xuất
ấy tạo ra, gạt bỏ tất cả những lý do kinh tế” ra khỏi quan hệ hôn nhân và phải
xây dựng xã hội mới-xã hội xã hội chủ nghĩa-một xã hội không còn áp bức,
bóc lột.
Ph.Ăng-ghen còn chỉ rõ: trong xã hội tư bản, trong các giai cấp bị áp
bức, trước hết là giai cấp vô sản đang hình thành nên những cuộc hôn nhân,
trong đó tình cảm yêu thương, tôn trọng lẫn nhau giữ vai trò quyết định. Đó là
sự liên kết của những con người bình đẳng. Khi tư liệu sản xuất trở thành của
chung thì sự thống trị của nam giới trong gia đình và tính ràng buộc vĩnh viễn
của hôn nhân không còn nữa, điều này sẽ tạo cơ sở để xây dựng một kiểu gia
đình mới: gia đình bình đẳng giữa vợ và chồng, là gia đình mà hôn nhân dựa
trên tình yêu chân chính, không bị lợi ích của kinh tế và của cải dòng họ chi
phối.
Để xây dựng gia đình mới, một hình thức hôn nhân mới phải được xây
dựng trên cơ sở kinh tế mới, đó là chế độ công hữu các tư liệu sản xuất và sự
phát triển nền công nghiệp lớn, phải đưa phụ nữ vào tham gia lao động sản
xuất, đó là cơ sở thực sự giải phóng phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã
hội.
Như vậy, với việc dựa vào các cứ liệu lịch sử C.Mác-Ph.Ăng-ghen đã
hoàn toàn khẳng định, kể từ khi có xã hội, đàn bà sống không phải nô lệ và
phụ thuộc vào đàn ông. Thực tế đã chứng minh, sự bất bình đẳng giữa đàn ông
và đàn bà xuất hiện cùng với gia đình cá thể, từ nguyên nhân kinh tế, từ ý đồ
xác lập địa vị thống trị của đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội. Phụ nữ
thực sự muốn giải phóng không có con đường nào khác là phụ nữ giành vị trí
xứng đáng trong lao động sản xuất cũng như trong sự phát triển văn hóa-xã
hội.
1.1.1.2. Quan điểm của V.I.Lênin về phụ nữ và giải phóng phụ nữ.
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
pháp luật tư sản là việc ban hành pháp luật mới.
Thứ hai: Không chỉ giải phóng phụ nữ bằng pháp luật, để phụ nữ thực
sự có địa vị trong xã hội, có quyền tham gia quyết định vận mệnh của đất
nước, mà nhà nước Xô Viết còn đưa phụ nữ trực tiếp tham gia quản lý nhà
nước, xây dựng và củng cố chính quyền.
Thứ ba: Không chỉ giải phóng phụ nữ ở ngoài xã hội mà phải giải phóng
họ ngay trong gia đình, chính nơi đây gánh nặng công việc đang đè lên vai họ,
làm họ không thể phát triển như nam giới.
Song V.I.Lênin còn cho rằng, dù đã có luật giải phóng phụ nữ nhưng phụ
nữ vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nô lệ trong gia đình. Công việc nội trợ, việc
gia đình còn đè nặng lên lưng họ làm họ nghẹt thở, mụ mẫm, nhọc nhằn, ràng
buộc họ vào bếp núc, vào buồng con cái, lãng phí sức lực của họ vào công
việc cực kỳ kém năng suất, tủn mủn. V.I.Lênin nhận thức sâu sắc để xây dựng
chế độ mới không thể không quan tâm đến gia đình, đặc biệt là quan tâm đến
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 12
phụ nữ bởi họ có vai trò to lớn trong gia đình, trong việc nuôi dạy con cái. Sau
Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin yêu cầu các cơ quan, các cơ sở sản
xuất phải lập ra các cơ quan kiểu mẫu như nhà ăn, nhà trẻ để trẻ em được
chăm sóc chu đáo và phụ nữ thoát khỏi gánh nặng gia đình
Nhà nước Xô Viết còn đưa ra chính sách: Tất cả phụ nữ lao động có con
nhỏ đều được dành thời gian cho con bú không cách nhau quá 3 giờ, họ được
dành một số tiền phụ cấp và chỉ làm việc 6 giờ mỗi ngày, cấm dùng phụ nữ lao
động ban đêm, phụ nữ lao động được nghỉ 8 tuần trước khi sinh và 8 tuần sau
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 13
vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp,
rực rỡ” [10; 504].
Dưới chế độ phong kiến, thực dân, phụ nữ là lớp người bị áp bức, bóc lột
nhiều nhất, chịu nhiều nỗi bất công, đau khổ nhất. Vì lẽ đó, trong bộ Hồ Chí
Minh toàn tập (gồm 12 tập), với tổng số 1.941 bài nói và viết, đã có gần 100
bài viết Bác nhắc nhiều đến phụ nữ. Hồ Chí Minh cho rằng sự nghiệp giải
phóng loài người, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc,
xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Người viết: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ
thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây
dựng chủ nghĩa xã hội mới chỉ một nữa”. [13; 498].
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò của người phụ nữ
trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân. Người luôn căn dặn các cấp
ủy Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác phụ nữ, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Theo Bác, con đường giải
phóng phụ nữ Việt Nam chỉ có thể là con đường đưa phụ nữ tham gia cách
mạng đánh đổ áp bức, bóc lột và chỉ ra những điều kiện chủ yếu để giải phóng
phụ nữ. Điều kiện đó không chỉ là sự phát triển văn hóa, giáo dục mà còn phải
thu hút, tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội của đất
nước. Phụ nữ phải được giải phóng khỏi thân phận là kẻ giúp việc trong gia
đình, trở thành lực lượng lao động của toàn xã hội. Bác khuyên chị em ý thức
được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi
cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày 20 tháng 10 năm 1946 Bác Hồ ra chỉ
thị thành lập Hội phụ nữ Việt Nam để tập hợp phụ nữ thành một khối thống
nhất. tin tưởng khả năng to lớn của người phụ nữ và hiểu rất rõ năng lực làm
việc có hiệu quả của họ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bác luôn
động viên và khuyến khích kịp thời để phụ nữ phát huy ưu điểm đồng thời
phải ra sức khắc phục khuyết điểm. Bác nhắc nhở phụ nữ phải vươn lên để
bình đẳng với nam giới về trình độ và năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó phụ nữ phải cố gắng học tập, chủ động
quyết tâm khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, phải xóa tính tự ti mặc cảm,
Bác nói: “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ
Đảng ra Chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải phấn
đấu” [12; 281]. Chính vì thế, cho đến trước lúc đi xa, Người vẫn luôn tâm
niệm, dành một phần trong bản Di chúc thiêng liêng để nói về một vấn đề
quan trọng là quyền bình đẳng của phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu
nước, phụ nữ ta đảm đang, đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong
sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất
nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả
công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách
mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [7; 30].
Như vậy, cả về hai mặt pháp lý và đạo đức, quan điểm về phụ nữ và giải
phóng phụ nữ là một nội dung quan trọng của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn canh cánh một nỗi niềm, một nhiệm vụ: Giải phóng phụ nữ với giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Người khẳng định:
trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội phải
thực sự quan tâm đến phụ nữ, hỗ trợ, tạo điều kiện để người phụ nữ phát huy
tối đa tài năng, tiềm lực của bản thân, đồng thời phụ nữ muốn tiến bộ, bình
đẳng, hạnh phúc thật sự thì phải có ý chí, có quyết tâm, tích cực học tập, rèn
luyện để có đủ đức, tài tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần
phụng sự Tổ quốc.
quan điểm cơ bản, đó là:
- Phụ nữ Việt Nam có truyền thống lịch sử vẻ vang, có những tiềm
năng to lớn, là động lực quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triển kinh
tế-xã hội. Phụ nữ vừa là người lao động, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên
của con người. Vì vậy, phải xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội
dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
- Mục tiêu giải phóng phụ nữ là thiết thực cải thiện đời sống vật chất,
tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ
bình đẳng, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc. Xây dựng người
phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, có kiến thức, năng động sáng tạo, biết làm giàu
chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu.
- Sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ và trách nhiệm của
Đảng, các đoàn thể nhân dân, các đoàn thể xã hội và từng gia đình. Đường lối
giải phóng phụ nữ phải được thể chế hóa và cụ thể hóa trong hệ thống pháp
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 16
luật, chế độ, chính sách của Đảng và nhà nước. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam là tổ chức đại diện cho lợi ích phụ nữ, là trung tâm tập hợp đoàn kết phụ
nữ Việt Nam, hướng dẫn và vận động chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải
phóng phụ nữ, vì sự phát triển và hạnh phúc của phụ nữ, vì sự nghiệp đổi mới
thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Ngày 12 tháng 07 năm 1993, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số
04/NQ-TW về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 17
Những quan điểm trên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ngày càng tạo
điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có quyền và cơ hội phát triển, phát huy vai trò,
khả năng của mình. Đây chính là sự đánh giá đúng vị trí, vai trò người phụ nữ
trong công cuộc xây dựng đất nước, đồng thời là sự ưu ái của Đảng và nhà
nước ta đối với phụ nữ Việt Nam, phụ nữ Việt Nam sẽ sánh bước ngang hàng
với nam giới, sát cánh cùng nam giới gánh vác công việc của đất nước.
1.2. Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc thực hiện
nhiệm vụ: “Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc”.
1.2.1. Khái quát quá trình hình thành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước,
trong đó, phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò trọng yếu.
Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông
nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ
Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn
luôn bị kẻ thù xâm lược, đời sống dân ta nghèo khổ. Từ thực tế đó mà phụ nữ
Việt Nam có bản sắc và phong cách riêng. Họ là những chiến sĩ chống giặc
ngoại xâm kiên cường dũng cảm; là người lao động sáng tạo thông minh, là
người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển bản sắc và
tinh hoa văn hóa dân tộc; là người mẹ dịu hiền, đảm đang, trung hậu đã sản
sinh ra những thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng.
Dưới chế độ phong kiến và đế quốc, phụ nữ Việt Nam là tầng lớp người
dân ở 2 huyện Châu Thành và Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang trong đó có hàng ngàn
phụ nữ tham gia.
- Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận
rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng
phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với
giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra, phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng
và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham
gia cách mạng.
Chính vì vậy, ngày 20 tháng 10 năm 1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam chính thức thành lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của
Đảng đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối
với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Là tổ chức hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ. Vì thế, Hội có những
chức năng và nhiệm vụ sau:
Chức năng của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam:
- Đại diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ, lợi ích hợp pháp và
chính đáng của phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lí Nhà nước.
- Đoàn kết, tập hợp, tuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức hướng
dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam:
- Tuyên truyền, vận động, giáo dục phụ nữ giữ gìn, phát huy phẩm
chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và phụ nữ Việt Nam; tổ chức,
tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao nhận thức, trình độ, năng lực về mọi mặt,
tích cực thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng,
xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
- Tham gia xây dựng, giám sát việc thực hiện luật pháp chính sách về
bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của phụ nữ nhằm
đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Các tầng lớp phụ nữ hưởng ứng lời
kêu gọi của Chính phủ quyên góp vào “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng” với tấm
lòng tha thiết và tích cực nhất. Trong các Cuộc vận động: “Ngày đồng tâm”,
“Hũ gạo cứu quốc” hay trong phong trào: “Bảo trợ thiếu nhi”, “Cứu đói đồng
bào bị lũ lụt”, “Truyền bá vệ sinh” đều có đông đảo phụ nữ hưởng ứng tích
cực.
Ngày 20 tháng 10 năm 1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành lập,
bà Lê Thị Xuyến là Hội trưởng Ban Chấp hành lâm thời của Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam, trong đó Hội Phụ nữ Cứu quốc là nòng cốt của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam. Năm 1947, Ban Chấp hành Phụ nữ Nam bộ cũng được
thành lập, Ban liên lạc Phụ nữ Bắc bộ có tờ báo “Tiếng gọi phụ nữ”, “Nhà
sách phụ nữ”. Tháng 10 năm 1947, tại Việt Bắc Hội nghị cán bộ toàn quốc
họp đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời đầu tiên của Hội Phụ nữ
Cứu quốc, đồng chí Hoàng Ngân được bầu làm Bí thư.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946 đến ngày 1 tháng 8 năm 1954 Việt Nam
bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với nền sản xuất
rất thấp kém. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Đoàn Phụ nữ Cứu quốc và Hội
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 20
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã động viên chị em nỗ lực vượt qua mọi khó
khăn đảm nhiệm công tác hậu phương, thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là sản
xuất nông nghiệp để đảm bảo cho bộ đội: “Ăn no đánh thắng”.
Các công binh xưởng, chị em đã tình nguyện làm thêm mỗi ngày một giờ
để cung cấp được nhiều và nhanh vũ khí cho bộ đội. Ở Liên khu 5, có phong
kiên lãnh đạo nhân dân đấu tranh với địch, xứng đáng với lời ca ngợi của Hồ
Chủ Tịch: “Các mẹ và chị em giúp thương binh đã hòa lẫn lòng yêu nước, yêu
con, yêu chiến sĩ thành một mối yêu thương không bờ bến.”
Khóa luận tốt nghiệp ĐHSP
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hiếu