LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo Học viện Chính trị - Hành
chính khu vực I, các đồng chí lãnh đạo huyện Tuần Giáo – tỉnh Điện
Biên, các đồng chí đồng nghiệp, các đồng chí học viên lớp B114. Tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo, các đồng
chí lãnh đạo, các đồng chí đồng nghiệp. Đặc biệt là cô giáo, TS Vũ
Thị Kim Xuyến - Giảng viên khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh - người đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Do trình độ và thời gian có hạn, nên luận văn không tránh khỏi
những hạn chế, thiếu sót. Do vậy, tôi rất mong được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện, có tính khả
thi hơn khi vận dụng vào thực tiễn địa phương.
TÁC GIẢ
Lò Hồng Nhung
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Khi tổng kết thực tiễn cách mạng thế giới, Lênin đã khẳng định rằng:
"cách mạng là sự nghiệp của quần chúng"
(1)
, trong đó phụ nữ có vai trò rất
quan trọng: "kinh nghiệm đối với tất cả các phong trào giải phóng chứng tỏ
rằng thắng lợi của cách mạng là tuỳ thuộc vào sự tham gia của phụ nữ"
(2)
. Hồ
Chủ Tịch đã từng nói: Nói phụ nữ là nói tới phần nửa xã hội, nếu không giải
phóng phụ nữ là không giải phóng phần nửa loài người"
(3)
.
Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao
vai trò và khả năng cách mạng to lớn của phụ nữ Việt Nam: "Phụ nữ ta rất
hoá, phô chương, hình thức; làm tốt công tác dân vận theo phong cách trọng
dân, gần dân và có trách nhiệm với dân".
Tuần Giáo là một huyện miền núi thuộc tỉnh Điện Biên, đời sống kinh
tế, văn hoá, xã hội của người dân nói chung và của bản thân người phụ nữ nói
riêng còn nhiều khó khăn. Được sự lãnh đạo sát sao và hiệu quả của Tỉnh Hội,
của Huyện uỷ và sự phối hợp giúp đỡ của các ban ngành đoàn thể trong
huyện, những năm gần đây, hoạt động của Hội Phụ nữ huyện Tuần Giáo có
những đổi mới và những thành tích quan trọng góp phần không nhỏ vào thành
tích chung của huyện. Tuy vậy, so với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong
tình hình mới và với mục tiêu đề ra thì hoạt động của Hội và phong trào Phụ
nữ còn nhiều hạn chế: chưa giải quyết tốt một số vấn đề thực tiễn, nhất là những
vấn đề bức xúc có liên quan đến phụ nữ, phong trào phụ nữ giúp đỡ nhau xoá
đói, giảm nghèo hiệu quả chưa cao, nhiều nơi, bình đẳng nam nữ còn bị hạn chế,
một số phụ nữ còn tự ti an phận chưa chủ động vượt khó vươn lên.
Thực tế đó, đang đòi hỏi bản thân Hội Liên hiệp phụ nữ phải đổi mới
hơn nữa về tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao hơn nữa hiệu quả
hoạt động phong trào, thiết thực góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Xuất phát từ nhiệm vụ, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác Hội
phụ nữ trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước. Qua học tập, nghiên cứu
lý luận, kết hợp với thực tiễn kinh nghiệm công tác, tôi chọn vấn đề "Nâng
cao hiệu quả hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tuần Giáo tỉnh
Điện Biên” làm luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị – Hành chính.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, quán triệt chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về vai trò, vị trí của phụ nữ và công
tác Hội phụ nữ, đồng thời khảo sát thực trạng vấn đề này ở huyện Tuần Giáo
3
tỉnh Điện Biên, đề tài nhằm tìm ra những giải pháp có tính khả thi, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội phụ nữ huyện trong thời gian tới.
+ Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, . . . .
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung đề tài được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò phụ nữ và công tác Hội phụ nữ.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ huyện Tuần
Giáo, tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội
liên hiệp phụ nữ huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
5
CHƯƠNG 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ VAI TRÒ PHỤ NỮ VÀ CÔNG TÁC HỘI PHỤ NỮ
1.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ VỊ TRÍ
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁCH MẠNG VÔ SẢN.
Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng xoá bỏ tận gốc chế độ người bóc
lột người, xây dựng chế độ xã hội mới tự do, bình đẳng. Một cuộc cách mạng
to lớn và triệt để như vậy không thể thiếu lực lượng phụ nữ tham gia với hơn
một nửa dân số phụ nữ đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp cách
mạng ở mỗi nước và trên thế giới. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lênin thì trong lịch sử nhân loại không có một phong trào to lớn nào của những
người bị áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia; phụ nữ không bao
giờ đứng ngoài và không thể đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,
đặc biệt là đối với cách mạng vô sản. Chủ nghĩa Mác - Lê nin chỉ rõ: Sự nghiệp
giải phóng phụ nữ là một bộ phận khăng khít gắn liền với sự nghiệp giải phóng
giai cấp, với cuộc đấu tranh cách mạng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên
cộng sản chủ nghĩa.
Ph.Ăngghen khẳng định: "Sự nghiệp giải phóng phụ nữ, quyền bình
1.2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ
PHỤ NỮ VÀ CÔNG TÁC HỘI PHỤ NỮ.
1.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên ở nước
ta hiểu và đặc biệt quan tâm đến vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào
cách mạng thế giới nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng.
Người cho rằng, sự nghiệp giải phóng loài người, giải phóng xã hội, giải
phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền
với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Người viết: "Nói phụ nữ là nói phần nửa xã
hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.
(6)
Lênin toàn tập, tập 21, NXB Sự thật, Hà Nội 1970, tr73 - 74
7
Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội mới chỉ một
nửa"
(7)
.
Trong tác phẩm "Đường cách mệnh” viết năm 1927 Người đã dẫn quan
điểm của C.Mác cho rằng: "Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã
hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc chắn không làm nổi. Xem tư tưởng
và việc làm của đàn bà, con gái thì biết xã hội tiến bộ ra sao”
(8)
.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ sớm có được
như vậy là do xuất phát từ nhận thức, hiểu biết sâu sắc của Người về chủ
nghĩa Mác-Lênin, về vai trò của phụ nữ trong lịch sử thế giới, đặc biệt là vai
trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Hồ Chí Minh còn cho chúng ta thấy những nhà kinh điển của chủ nghĩa
xã hội khoa học đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong xã hội. Trong ý tưởng
của họ, việc giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là một mục tiêu
chưa được giải phóng”; “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa
xã hội chỉ một nửa”. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh rằng: Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội, “nhất định phải sản xuất cho thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì
phải có nhiều sức lao động. Muốn nhiều sức lao động thì phải giải phóng lao
động của phụ nữ”
(11)
.
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã có dịp tìm hiểu
nhiều cuộc cách mạng diễn ra trên thế giới. Người rút ra kết luận chỉ có cách
mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng “đến nơi” hay còn gọi là cuộc cách
mạng triệt để, nghĩa là đem lại quyền làm chủ xã hội thực sự cho người dân.
“Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chân chính và
quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người. Chính nhờ cuộc cách
mạng này mà sự giải phóng phụ nữ sẽ có giá trị và có những ý nghĩa đầy đủ,
trọn vẹn”
(12)
. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản,
nhằm giành lại độc lập hoàn toàn cho dân tộc, ấm no tự do hạnh phúc thực sự
cho nhân dân và để thực sự giải phóng phụ nữ thoát khỏi cả ách áp bức dân tộc
lẫn ách áp bức xã hội.
Hồ Chí Minh chỉ rõ “dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp
bức tàn tệ. Ngoài xã hội thì phụ nữ xem khinh là nô lệ. Ở gia đình thì họ bị
kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng”. Người còn nhấn mạnh rằng: “dưới chế
độ thực dân, phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột thì phụ nữ ta bị áp
bức, bóc lột nặng nề hơn”. “Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà,
con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng”
(13)
.
(11)
Hồ Chí Minh: đd, t9, tr523; t10, tr225; t11, tr194; t12, tr195; t9, tr523
rằng, “Chúng ta làm cách mạng để tranh lấy quyền bình đẳng, trái gái đều
ngang quyền như nhau”
(14)
. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, kính trọng
phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, đảm bảo quyền lợi của phụ nữ là
(14)
Hồ Chí Minh: đd, t11, tr.621; t10, tr.225, 661; t12, tr195
10
bản chất của chế độ ta; trong đó, vị trí xã hội của chị em được Người đặc biệt
quan tâm.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người
phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng
cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực”
(15)
.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cũng như nam giới, phụ nữ có thể đảm nhận và
hoàn thành tốt những công việc lớn của đất nước, của cách mạng. Quan niệm
như vậy, Người luôn quan tâm đến vị trí của phụ nữ trong các tổ chức của hệ
thống chính trị, mong muốn ngày càng có nhiều chị em tham gia công tác
trong các cấp ủy đảng, chính quyền cũng như trong các tổ chức quần chúng
nhân dân do Đảng tổ chức, lãnh đạo. Chẳng hạn:
Tháng 8 năm 1949, viết thư gửi đồng bào Nghệ An, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh: “Tôi rất vui lòng rằng xã nào cũng có phụ nữ tham gia Hội đồng nhân
dân, Phụ nữ phải tham gia chính quyền nhiều hơn và thiết thực hơn”
(16)
.
Ngày 30/04/1964, phát biểu tại Đại hội liên hoan phụ nữ “5 tốt”, Hồ Chí
Minh rất vui mừng khi thấy đại biểu quốc hội là phụ nữ ngày càng nhiều.
Người nêu cụ thể: "Quốc hội khóa II, trong 362 đại biểu miền Bắc thì có 49
đại biểu phụ nữ. Quốc hội khóa III, có 447 người được giới thiệu ra ửng cử thì
. Người còn
nói, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy cũng là một thiếu sót của Đảng. Về
nguyên nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lý, theo Hồ
Chí Minh đó là vì “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ
nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai”
13
.
Thực hiện “Nam nữ bình quyền”, theo Hồ Chí Minh, “đó là một cuộc
cách mạng khá to và khó”. “Vì trọng trai, khinh gái” là một thói quen lịch sử
mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình,
mọi tầng lớp xã hội”
14
. Để “Thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng nam nữ”,
Hồ Chí Minh nhắc nhở chị em “phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học
tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự
cường, tự lập”, đồng thời Người củng chỉ rõ các cấp ủy Đảng và Chính quyền
“phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ
nữ”
15
.
Đặc biệt, quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ, Hồ Chí Minh cũng
đồng thời chỉ rõ phụ nữ không thể chỉ trông chờ vào Đảng, mà chính bản thân
tổ chức Hội phải tìm ra phương thức hoạt động thích hợp của mình để quần
chúng tự nguyện đi sinh hoạt Hội, gắn bó với tổ chức Hội, làm công tác vận
động phụ nữ ngày càng có hiệu quả thiết thực. Người yêu cầu: “về phần mình,
chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng
cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”
16
.
1.2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
thành và nuôi dạy thế hệ trẻ tương lai. Phong trào “Người phụ nữ mới xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” đã giáo dục, động viên phụ nữ cả nước làm tốt
nghĩa vụ công dân và trách nhiệm làm mẹ, đồng thời bồi dưỡng cho chị em ý
thức phấn đấu và thực hiện nam nữ bình đẳng, đưa sự nghiệp giải phóng phụ
nữ tiến lên một bước quan trọng”
19
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác phụ nữ là một yêu cầu quan trọng của sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội và phát triển toàn diện của người phụ nữ. Từ sự nhận thức đó,
quan điểm của Đảng hết sức rõ ràng: “Phụ nữ Việt Nam có truyền thống lịch
sử vẻ vang, có những tiềm năng to lớn, là một động lực quan trọng của công
cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội… Vì vậy, phải xem giải phóng phụ
nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự
nghiệp xã hội CNXH ở nước ta… Sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác
17
Sơ thảo lịch sử công tác dân vận của Đảng cộng sản Việt Nam; trang 38; NXB Chính trị Quốc gia, H;1999
18
Báo cáo chính trị BCHTW Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tr.159, Sự thật, Hà Nội - 1987.
19
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tr 116, Sự thật, Hà Nội, 1987
13
phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn
xã hội và từng gia đình”
20
.
“Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt
nam - nữ bình đẳng - xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
- xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, có kiến thức, năng động,
sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng
tác dụng mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”.
Gắn với nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X và lần XI đã nêu: Phụ nữ Việt Nam đã đóng vai trò
quan trọng vào những thắng lợi to lớn của đất nước trong chiến tranh cách
mạng và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, trong nhiều
lĩnh vực kinh tế - xã hội, phụ nữ chiếm đại đa số lực lượng lao động. Phát huy
vai trò và truyền thống của phụ nữ Việt Nam “Trung hậu đảm đang”, “Giỏi
việc nước, đảm việc nhà” là phát huy truyền thống của dân tộc và thực hiện
chính sách bình đẳng nam nữ của Đảng ta, đồng thời, Nghị quyết còn chỉ rõ:
“Thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo
nghề nghiệp, nâng cao học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia
ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành,
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tạo điều kiện để phụ nữ thực
hiện tốt chức người mẹ, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc”
(23)
.
Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị cho ra đời Nghị quyết số 11 - NQ/TW
ngày 27/04/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước đã cụ thể hóa quan điểm của Đảng về tính cần thiết
phải phát huy vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng mới của đất
nước. Đây là Nghị quyết hướng tới việc tạo điều kiện cho các tầng lớp
phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của mình, phấn
đấu vươn lên xứng đáng là lực lượng cách mạng, lực lượng lao động quan
trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Cùng với việc nhấn
mạnh tính cấp thiết phải phát huy vai trò của phụ nữ và phong trào phụ nữ
trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh tới nhiệm vụ giải phóng
phụ nữ, tạo ra sự bình đẳng về giới.
(23)
ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H2006,tr176
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi công
tác Hội và phong trào phụ nữ đang đứng trước những thách thức lớn, đó là:
Đội ngũ cán bộ nữ đang bị giảm sút, nguồn cán bộ nữ bị hẫng hụt. Một
số cấp ủy Đảng, Chính quyền còn buông lỏng, coi nhẹ công tác phụ nữ, coi
công tác phụ nữ là việc riêng của Hội. Vấn đề lao động việc làm đang là vấn
đề gay gắt, bức xúc đối với lao động nữ. Tỷ lệ lao động nữ ở các ngành tương
đối cao nhưng do ít được đào tạo về trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề
còn thấp cho nên đa số phụ nữ thường tập trung vào những việc có chuyên
môn thấp, lao động giản đơn do đó thu nhập thấp hơn nam giới. Sự chuyển
đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra những thay đổi căn bản
trên đất nước ta. Song, cơ chế thị trường cũng có những hạn chế, những mặt
trái của nó. Đó là sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức (lối sống thực dụng, tất
cả vì tiền, coi thường đạo lý, thầy trò, anh em…) đã làm xói mòn những nét
đẹp văn hóa truyền thống của ông cha ta, điều này đã tác động đến mọi gia
đình, cả xã hội. Hậu quả nặng nề nhất vẫn là phụ nữ. Cơ chế thị trường cũng
tạo điều kiện cho người phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lĩnh vực kinh tế, xã
hội, nên trọng trách của họ ngày càng lớn hơn đối với gia đình, với công việc
và với xã hội. Muốn bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc đỏi hỏi phải có quyết tâm,
có ý chí, nghị lực để phấn đấu tích cực thì mới đạt danh hiệu “Giỏi việc nước,
đảm việc nhà”. Đây cũng là một thách thức lớn đối với phụ nữ Việt Nam.
Mặc dù, Đảng và Nhà nước có nhiều cố gắng trong chỉ đạo và thực thi
nhiều chủ trương, chính sách lớn đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ, tôn
trọng và đánh giá cao vai trò vị thế của phụ nữ, song quá trình thay đổi những
quan niệm, định kiến về giới còn nhiều vấn đề đặt ra nhất là ở địa bàn nông
thôn, miền núi. Với thiên chức là vợ, là mẹ, những lo toan đối với gia đình đã
chi phối, ảnh hưởng rất lớn đối với phụ nữ khi tham gia lao động sản xuất và
phải đảm trách các công việc xã hội trong khi khối lượng và yêu cầu chất
lượng của công việc ngày càng gia tăng.
Việc chăm lo sức khỏe của phụ nữ chưa được gia đình và xã hội tuy đã
vai trò của phụ nữ với gia đình và xã hội, nhân loại luôn chiêm nghiệm rằng:
“Giáo dục một người đàn ông chỉ được một người, còn giáo dục một người
phụ nữ được cả một gia đình”. Nhiều gia đình tốt thì có xã hội tốt.
Là một bộ phận trong hệ thống chính trị, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
đã cùng với các đoàn thể khác đại diện quyền làm chủ của nhân dân lao động,
tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, đại diện bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp và chính đáng của phụ nữ và trẻ em. Hội còn tham gia nghiên cứu,
chuẩn bị các đề án về công tác vận động phụ nữ của Đảng. Là thành viên của
mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội còn đoàn kết, thu hút rộng rãi các tầng lớp
phụ nữ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc
tế đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng và phát triển toàn diện của phụ nữ trên
toàn thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước
đang đặt ra nhiều thời cơ và không ít khó khăn, thách thức đối với sự phát
triển của phụ nữ và phong trào phụ nữ. Trong đó, vấn đề việc làm, phân hóa
giàu nghèo, trình độ học vấn thấp… đã ảnh hưởng tới sự phấn đấu vươn lên
của phụ nữ trong cuộc đấu tranh cho sự bình đẳng, phát triển và tiến bộ. Vì
vậy, tạo cơ hội và động lực cho phụ nữ vươn lên, bình đẳng và phát triển,
ngoài sự quan tâm lãnh đạo tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước đó còn là
nhiệm vụ của các cấp Hội, sự cố gắng vươn lên của chính mỗi chị em phụ nữ
là điều cần thiết và hết sức quan trọng. Để động viên và phát huy khả năng
của các tầng lớp phụ nữ đóng góp tích cực và có hiệu quả vào việc thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và từng địa
phương nói riêng, thì công tác phụ nữ phải được đổi mới, bao gồm cả nội dung
và hình thức hoạt động. Trong đó, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Liên
hiệp phụ nữ các cấp, đặc biệt là cấp huyện là yêu cầu cấp thiết, gắn liền với
19
nhiệm vụ hướng về cơ sở, đẩy mạnh phong trào phụ nữ, thực hiện bình đẳng
giới cho phụ nữ trên mọi phương diện, như: văn hóa, chính trị, xã hội, kinh
nghiệp và thương mại dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trong 5 năm
gần đây bình quân đạt 4%.
Năm 2010 độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt khá, tăng 15% so với năm
2006, cơ cấu kinh tế đảm bảo theo hướng đã xác định: ngành nông – lâm
nghiệp chiếm 38,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 36,5%; dịch vụ chiếm
21
25%; GDP bình quân đầu người 300 USD/người/năm đạt 100% kế hoạch.
Sản xuất nông - lâm - thuỷ sản có bước tiếp tục phát triển, tăng trưởng khá,
2010 tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 29.800 tấn, đạt 103,13% kế hoạch,
tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước. Đi đôi với việc trồng trọt, chăn nuôi
gia súc, gia cầm được chú trọng và chủ động phòng chống kịp thời các ở dịch
bệnh phát sinh trên địa bàn. Tổng đàn gia súc trên toàn huyện 66.5256 con.
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản được duy trì, hiện có 185ha, sản lượng 265 tấn,
đạt 84% kế hoạch, tăng 39 tấn so với năm 2007.
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng: chủ yếu 1à sản xuất,
khai thác vật liệu xây dựng, hình thành các cụm công nghiệp nhỏ ở xã Quài
Cang, gồm các nhà máy: nhà máy xi măng, sản lượng 25.000 tấn/năm, nhà
máy gạch tuy nen, sản lượng 7.000.000 viên/năm; nhà máy nước sản xuất
198.500m3/năm; cơ sở huyện chì, kẽm; các khu vực khai thác quạng ở các xã
Mùn Chung, Phình Sáng, Quài Nưa; nhìn chung các nhà máy qui mô hoạt
động nhỏ nhưng sản xuất ổn định, Sản xuất vật liệu xây dựng đáp ứng phần
lớn nhu cầu xây dựng trên địa bàn. Các ngành khai thác và sản xuất vật liệu
dựng như đá, cát sỏi. Chế biến gỗ xây dựng, sản xuất gạch ngói phát triển.
Một số nghề truyền thống như rèn, đúc, đan lát dệt thổ cẩm được duy trì.
Ngành chế biến nông - lâm sản bước đầu được hình thành.
Dịch vụ thương mại: Đẩy mạnh phát triển thương mại, dịch vụ, mở
rộng thị trường nhằm cung ứng cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân,
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế tham gia hoạt động dịch vụ. Hiện toàn huyện có 274 hộ kinh
doanh (trong năm 2010, có 61 hộ đăng ký mới) ước tính doanh thu đạt 18,2 tỷ
lượng chuyển lớp năm 2010: Tiểu học 92%; THCS 91,30%; THPT 85%.
Công tác chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân được quan
tâm chỉ đạo và đạt kết quả tốt, hiện có 18 cơ sở khám chữa 'bệnh, trong đó 4
cơ sở 1à bệnh viện, phòng khám khu vực. Bệnh viện trung tâm huyện được
đầu tư xây dựng khang trang, sạch đẹp với qui mô lớn 100 giường bệnh và
23
được đầu tư trang thiết bị hiện đại. Hiện 100% các xã, thị trấn có trung tâm y
tế, 100% thôn, bản có y tá. Các cơ sở y tế từ tuyến huyện đến xã đều thực
hiện tốt công tác khám, chữa bệnh và phòng chống địch bệnh, đảm bảo thuốc
thiết yếu cho khám chữa bệnh và cấp phát thuốc theo chương trình 139/CP
cho nhân dân và trẻ em dưới 6 tuổi. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ được quan tâm kịp thời. Chương trình dân số kế hoạch hoá gia
đình, thường xuyên được quan tâm và thực hiện tốt, tỷ lệ tăng dận số tự nhiên
1,6 1%, tỷ lệ phát triển dân số l,27%.
Các chính sách xã hội đều được chăm lo, thực hiện có hiệu quả, đã có
nhiều giải pháp tại việc làm cho một số lao động ở nông thôn, trên cơ sở phát
triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh và dịch vụ ngay tại địa phương. Số
người trung độ tuổi lao động có việc làm chiếm 87,4%. Chương trình xoá đói
giảm nghèo thực hiện tích cực, theo hướng đồng ghép nhiều dự án, hiện tại tỷ
lệ hộ nghèo 1à 39% (giảm 7% so với năm 2006). Đã có nhiều cố gắng thực
hiện tốt chính sách cho người có công, chính sách thương binh, gia đình liệt
sỹ, hoạt động nhân đạo, từ thiện góp phần tích cực vào việc thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng, đồng thời phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân
tộc ta. Năm 2010 đã phối hợp với Sở LĐ - TBXH xuất khẩu 04 lao động
thuộc diện chính sách, xây dựng quỹ ''Đền ơn đáp nghĩa'' với tổng số tiền là
78, 035 triệu đồng.
An ninh - Quốc phòng.
Chỉ đạo, thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị của cấp trên về công tác quân
sự, quốc phòng, duy trì các chế đợ sẵn sàng chiến đấu, nề nếp chính quy, xây
dựng cơ quan quân sự vững mạnh toàn diện. Củng cố thế trận quốc phòng toàn
thuế sử dụng đất nông nghiệp, còn chậm. Tội phạm ma tuý, trộm cắp, tai nạn
giao thông còn xảy ra. Tình hình chính trị trong huyện ổn định, song vẫn còn
nhiều vấn đề phải tiếp tục tập trung giải quyết
25