TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNGCỦA HTX NÔNG NGHIỆP PHÚ THÀNH
QUỲNH HẬU, QUỲNH LƯU, NGHỆ AN
Thầy giáo hướng dẫn: Giảng viên Trần Minh Trí
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Bảo Cường
Lớp: 37B Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn
Niên khoá: 2003 - 2008
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: KTNN & PTNN
Tháng 12/2007
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1 Cơ sở lý luận
Khái niệm:
Phương pháp điều tra
1.1.3 Vai trò HTXNN
1.1.4 Những đặc điểm và bản chất của HTX theo luật ở nước ta
1.1.5 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao hiệu quả hoạt động của HTXNN
1.2 Cơ sở thực tiễn:
1.2.1 Lịch sử phát triển của HTX ở một số nước trên thế giới.
4.1.1 Định hướng chung
4.1.2 Mục tiêu
4.1.3 Nhiệm vụ cụ thể
4.2 Giải pháp
4.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Các chủ trương đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước
Giải pháp chính sách vĩ mô
4.2.2.1 Chính sách xử lý Các loại nợ đối với HTXNN
4.2.2.2 Chính sách tín dụng
4.2.2.3 Chính sách thuế
4.2.2.4 Chính sách hỗ trợ
4.2.2.5 Chính sách đào tạo sử dụng cán bộ HTX và đào tạo nghề cho xã viên
4.2.3 Tăng cường đổi mới chế độ làm việc của HTX.
4.2.4 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của HTX.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị:
2.1 Đối với Nhà nước
2.2 Đối với Huyện
2.3 Đối với Các tổ chức trong hệ thống chính trị của xã.
2.4 Đối với HTX.
2.5 Đối với xã viên.
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp, tôi luôn
nhận được sự quan tâm, truyền đạt kiến thức của tập thể thầy, cô giáo khoa Kinh tế và
phát triển của trường Đại học Kinh tế Huế, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình, chu đáo
của thầy giáo Trần Minh Trí; sự giúp đỡ tạo diều kiện của các đồng chí trong Đảng uỷ,
UBND, HTX nông nghiệp xã Quỳnh Hậu và bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp.
sản xuất… Nói chung là các mối quan hệ về sở hữu, quản lý, phân phối đã thay đổi. Vì
thế, các hợp tác xã nông nghiệp cũ không còn phù hợp về hình thức tổ chức, nội dung
hoạt động và cơ chế quản lý.
Những thành công và không thành công của mô hình hợp tác xã kiểu cũ đã và
đang từng bước được Đảng và Nhà nước tiến hành tổng kết, đúc rút ra bài học kinh
nghiệm để xây dựng, phát triển các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới trong điều kiện phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa sở hữu, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa hiện nay. Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư TW (khoá V) đã ban hành Chỉ thị
số 100-CT/TW với chủ trương “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động
trong sản xuất nông nghiệp”; Ngày 05/4/1988, Bộ chính trị khoá VI ban hành Nghị quyết
số 10-NQ/TW về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”. Dấu ấn quan trọng trong chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về hợp tác xã là sự ra đời của Luật Hợp tác xã
(1996), có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1997 (Luật này được sửa đổi và bổ sung năm
2003). Luật Hợp tác xã ra đời không những tạo cơ sở pháp lý cho loại hình tổ chức kinh
tế này mà còn nêu lên tư duy mới về hợp tác xã. Theo đó, hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự
chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp
sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã
viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Như vậy,
những người lao động có nhu cầu và tự nguyện tuân thủ các nguyên tắc hợp tác xã đều
có thể tham gia hợp tác xã. Các nguyên tắc cơ bản để thành lập và phát triển hợp tác xã
là: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi hợp tác xã; quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai;
Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; Hợp tác và phát triển cộng đồng Luật Hợp tác xã
ra đời đã thúc đẩy sự phát triển của hợp tác xã. Hàng nghìn hợp tác xã kiểu mới trong tất
cả các lĩnh vực kinh tế đã tạo ra một cách nhìn mới về mô hình hợp tác xã, tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong các hoạt động của mình, có động lực và sức sống, gia nhập thị
trường như các loại doanh nghiệp khác để phát triển. Các hợp tác xã mới hoạt động đều
được điều chỉnh bởi khung luật pháp chặt chẽ, quy định rõ về tổ chức, quan hệ nội bộ
hợp tác xã và quan hệ của hợp tác xã với các tổ chức kinh tế khác. Các hợp tác xã cũ
của Đảng, nhận thức về đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, phát
triển hợp tác xã có được nâng lên. Tuy nhiên, nhận thức và thực hiện về vấn đề quan
trọng này ở không ít cấp ủy đảng, bộ, ngành, địa phương chưa có chuyển biến đáng kể.
Vấn đề phát triển kinh tế tập thể, phát triển hợp tác xã chưa được chú trọng, đầu tư thoả
đáng. Hệ thống chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể, phát triển hợp tác xã chậm
được bổ sung, hoàn thiện. Hiện nay, các đơn vị kinh tế tập thể, các hợp tác xã rất khó có
khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng, nhất là tín dụng ưu đãi. Đội ngũ cán bộ làm công
tác vận động, chỉ đạo kinh tế tập thể, chỉ đạo hợp tác xã chưa được kiện toàn đồng bộ,
vừa thiếu lại vừa yếu. Phần đông đội ngũ cán bộ các hợp tác xã vẫn ở trong tình trạng
yếu về năng lực, tuổi đời cao, không thật sự yên tâm, thiết tha với công việc. Các hợp tác
xã với năng lực nội tại về vốn liếng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực không đáp
ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển. Phần lớn các hợp tác xã không có mặt bằng để
triển khai các hoạt động, có nhiều hợp tác xã không có trụ sở làm việc. Trình độ nhận
thức, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, người lao động trong các hợp tác xã vốn đang
rất yếu, lại thiếu gắn bó, không yên tâm làm việc lâu dài. Trình độ tổ chức, năng lực
quản lý trong các hợp tác xã nhìn chung còn yếu. Ở nhiều hợp tác xã (cả chuyển đổi và
mới thành lập), việc tuân thủ các nguyên tắc, giá trị, tuân thủ Các quy định về góp vốn
điều lệ, về tích lũy tài sản vốn quỹ chung chưa bảo đảm.
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong những năm
qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ, quản lý của chính quyền, hợp tác xã nông
nghiệp Phú Thành xã Quỳnh Hậu đã có nhiều đổi mới phương thức hoạt động nhằm đáp
ứng yêu cầu và đòi hỏi của tình hình. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi hợp tác xã nông
nghiệp chưa có sự chuẩn bị để thích ứng với cơ chế và chính sách kinh tế mới; mặc dù
hợp tác xã đã chuyển đổi sang hợp tác xã kiểu mới, nhưng nhìn chung hoạt động kém
hiệu quả; Hoạt động của bộ máy thiếu đồng bộ, trình độ đội ngũ cán bộ hợp tác xã nhiều
mặt chưa đáp ứng yêu cầu; Vẫn duy trì cơ chế bao cấp, cân đối các khoản thu trên diện
tích canh tác để nuôi bộ máy, trả công cho đội ngũ cán bộ; một bộ phận xã viên không
thiết tha, gắn bó với hợp tác xã. Tình hình đố đang gây một số phân tâm trong cán bộ,
đảng viên và nhân dân và nó làm hạn chế hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích
luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo qui định của pháp luật”.
- Điều 1, chương I, Nghị định 43/CP ngày 29/4/1997 của Chính phủ nêu định
nghĩa về HTX Nông nghiệp như sau: " Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự
chủ, do nông dân và người lao động có nhu cầu lợi ích chung, tự nguyện cùng góp sức,
góp vốn, lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của
từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho
kinh tế hộ gia đình của xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất chế biến, tiêu thụ
sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở
nông thôn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp".
II- Vai trò của HTX nông nghiệp:
Hoạt động của kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã có vị trí quan trọng trong
các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân; có đóng góp to lớn trong xây dựng
nông thôn, phát triển cộng đồng, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của dân tộc.
Trước hết, hợp tác xã đã làm tốt việc huy động sức người, sức của góp phần quan
trọng để đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Cùng với nhân
dân, mọi thành phần cả nước, các HTX nông nghiệp đã huy động được hàng chục vạn
thanh niên ra mặt trận, hàng triệu người tham gia phục vụ kháng chiến; thi đua với tiền
tuyến ở hậu phương với khẩu hiệu “Vững tay cày chắc tay súng”, Các hợp tác xã đã
động viên nhân dân duy trì sản xuất, để cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến;
đồng thời làm tốt công tác hậu phương Quân đội và chăm lo chu đáo cho gia đình neo
đơn, già yếu.
Thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nước, các hợp tác xã được củng cố một bước
về tổ chức quản lý, vốn quỹ, về trách nhiệm và quan hệ giữa xã viên với hợp tác xã. Hoạt
động của các hợp tác xã được đổi mới, thiết thực gắn với lợi ích của các thành viên. Phần
lớn hợp tác xã có kế hoạch, phương án hoạt động cụ thể. Các hợp tác xã nông nghiệp đã
làm được các khâu dịch vụ cơ bản, phục vụ sản xuất nông nghiệp; số các hợp tác xã làm
cổ phần, trong đó lá phiếu tỷ lệ thuận với vốn góp.
Hợp tác xã trước hết là của những người nghèo, người khó khăn, yếu thế trong xã
hội hợp nhau lại để cùng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, quan hệ hợp tác hay còn gọi
là chế độ hợp tác xã có thể được áp dụng cho những quan hệ rộng lớn hơn trong xã hội.
Mục đích của hợp tác xã là tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, mưu lợi chung, chung
nhau góp sức cùng có lợi, là hợp tác với nhau để cùng mạnh lên, vươn lên, chống lại sự
áp bức, chống lại tình trạng không bình đẳng về kinh tế, xã hội. Cho nên, hợp tác xã
khác với hội buôn, công ty cổ phần, mưu lợi riêng, lấy mục tiêu chính là lợi nhuận. Hợp
tác xã đồng thời cũng khác hội từ thiện, trong đó chỉ có tiêu đi mà không có làm ra. Hợp
tác xã có tiêu đi, có làm ra, chỉ giúp người trong HTX, nhưng giúp một cách bình đẳng,
mang tính cách mạng sâu sắc, ai cũng được giúp mà ai cũng phải giúp.
Hợp tác xã cũng là một tổ chức dân chủ và cách mạng, nơi tập hợp, giáo dục,
nâng cao trình độ cho người dân, hướng người dân vào những mục đích xã hội tích cực,
tiến bộ và cách mạng.
- Về nguyên tắc tổ chức: Hợp tác xã phải thật sự dân chủ, tự nguyện.
Việc phát triển hợp tác xã phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, không rập khuôn
cứng nhắc, phát triển một cách tuần tự, không nóng vội, tiến hành từ hình thức thấp đến
cao.
Hợp tác xã là tổ chức thiết thực, bình đẳng và cùng có lợi của những người dân,
nhưng để bảo đảm cho sự phát triển hợp tác xã phải có sự lãnh đạo.
Các hợp tác xã cũng phải liên kết với nhau và liên kết với các tổ chức, loại hình
kinh tế - xã hội khác để tạo điều kiện cho sự phát triển.
Nói đến bản chất kinh tế - xã hội của hợp tác xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi chế
độ hợp tác xã có nhiều mục tiêu đồng nhất với mục đích của chủ nghĩa xã hội, vì ở một
nước tiểu nông như nước ta, khi toàn bộ nông dân tham gia hợp tác xã cũng có nghĩa là
đi theo con đường đúng đắn để đến ấm no, hạnh phúc. Và mục đích thực chất của chủ
nghĩa xã hội cuối cùng là làm cho toàn bộ xã hội được ấm no, hạnh phúc. Chế độ hợp tác
xã văn minh là thể hiện một mặt, một mức độ nào đó của các đặc trưng, bản chất của chủ
tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế có đủ sức để hội nhập, cạnh tranh
lành mạnh là vấn đề quan trọng. Do đó, việc đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới phương
thức hoạt động và qui mô các loại hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã nhằm tạo điều kiện
và môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế vươn lên ngang tầm với yêu cầu của
xu thế phát triển.
Chúng ta đang thực hiện CNH-HĐH đất nước mà nông thôn chiếm gần 80% ,nền
nông nghiệp với điểm xuất phát thấp. Tình trạng độc canh cây lúa phổ biến ở nhiều
vùng. Nhìn chung nông nghiệp nước ta chưa thoát khỏi nền sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất
kỹ thuật còn yếu, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp. Vì vậy, để thực hiện CNH-HĐH
nông nghiệp nông thôn, không thể dựa vào cách tổ chức quản lý với quy mô nhỏ của
từng hộ gia đình mà phải có sự liên kết, hợp tác với nhau giữa các hộ gia đình, nhóm hộ
gia đình với các thành phần kinh tế khác và ngược lại.
Do điều kiện nền sản xuất ở khu vực nông nghiệp, nông thôn ở nước ta nhỏ lẻ,
trình độ lạc hậu, nên khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đa số nông dân gặp khó
khăn về vốn, khoa học công nghệ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, khai thác các điều kiện tự
nhiên như thuỷ lợi, đất đai Sản xuất kinh tế hộ đã tạo ra một lượng hàng hoá lớn nhưng
chất lượng không đều, hàng hoá không tiêu thụ được trên thị trường. Hộ nông dân
thường bị các thành phần kinh tế khác ép giá, phải chịu thiệt thòi về kinh tế. Như vậy,
kinh tế hộ nông dân đang đứng trước yêu cầu được sự hỗ trợ, đặc biệt là vấn đề tiêu thụ
sản phẩm. Do đó hộ nông dân liên kết với nhau thành HTX là một nhu cầu thực tế. Các
HTX trước đây theo mô hình tập thể hoá bao cấp chỉ giải quyết một số khâu đầu vào
thông qua sản xuất, chưa giải quyết đầu ra cho nông hộ. Do đó, cần đổi mới quản lý
HTX để vươn lên giúp đỡ cho nông hộ trong lĩnh vực này. Trong điều kiện kinh tế hộ và
kinh tế HTX có nhiều liên quan mật thiết kinh tế hộ phát triển là điều kiện tiền đề thúc
đẩy sự phát triển kinh tế HTX và ngược lại.Kinh tế HTX phát triển nhằm hỗ trợ cho sự
phát triển kinh tế hộ.
Hơn nữa, phát triển kinh tế hợp tác xã ở nước ta không chỉ nhằm mục đích kinh tế
mà còn là mục tiêu của xã hội. Những người lao động trong nông thôn chủ yếu là người
nghèo, chỉ có hợp tác với nhau để tạo ra sức mạnh trong sản xuất, kinh doanh, góp phần
quản lý hợp tác xã nông nghiệp thời kỳ này không đạt kết quả như mong muốn. Sau khi
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, điều kiện phát triển kinh tế đã thay đổi,
nhưng mô hình hợp tác xã nông nghiệp vẫn không đổi mới, làm cho khu vực sản xuất
nông nghiệp lâm vào khủng hoảng.
- Từ năm 1980 - 1985: Đảng và Nhà nước ta đã phát hiện nhiều sai sót và từng
bước điều chỉnh đường lối, chính sách kinh tế nói chung trong đó có đường lối, chính
sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp như: quy mô hợp tác xã cần giữ ổn định trong
một số năm, không nên quá lớn, không cưỡng ép, mệnh lệnh, lấy kết quả sản xuất làm
căn cứ Chỉ thị 100 của Ban Bí thư chủ trương mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện
các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp đã mở ra những hình thức hợp tác gắn
bó chặt chẽ hơn trách nhiệm và quyền lợi thực tế của người nông dân, giải phóng sức sản
xuất, tạo ra động lực mới cho sự phát triển của nông nghiệp nước ta.
- Từ năm 1986 đến nay, cùng với quá trình đổi mới và đi lên của đất nước,
những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đối với hợp tác xã đã có nhiều thay
đổi, đã từng bước được hoàn thiện qua các kỳ đại hội và cụ thể hoá từ các kỳ họp Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Nhìn chung
các chủ trương, đường lối về hợp tác xã của Đảng và Nhà nước đều thể hiện sự nhất
quán, khẳng định sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, bao gồm
kinh tế tập thể và hợp tác xã trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại
hội lần thứ X của Đảng (năm 2006) đã khẳng định “Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế
tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh
tế quốc dân”. Hợp tác xã ở nước ta đã được xác định vừa là tổ chức kinh tế, vừa là tổ
chức xã hội, là nhân tố quan trọng để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là
hình thức tổ chức quan trọng để người lao động, hộ xã viên tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà
nước, liên kết với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thực hiện liên minh công
nông. Các chủ trương, đường lối của Đảng, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước
về hợp tác xã thời kỳ này đã tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của hợp tác xã, bao
gồm Hiến pháp năm 1992, Luật Hợp tác xã năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
Luật Hợp tác xã năm 2003 và nhiều chính sách cụ thể khác, nhằm tạo điều kiện thuận lợi
- Tính hình thức trong chuyển đổi hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã vẫn chưa được
khắc phục. Như, đa số xã viên các hợp tác xã chuyển đổi khi tham gia hợp tác xã không
có đơn và vốn góp mới, như vậy không đáp ứng được yêu cầu cơ bản là muốn gia nhập
hợp tác xã xã viên phải góp vốn.
- Nhiều hợp tác xã quy mô còn nhỏ, thiếu vốn, tài sản ít, chậm đổi mới, khả năng
cạnh tranh thấp. Đa số hợp tác xã vẫn tập trung vào các dịch vụ truyền thống như thủy
lợi, khuyến nông Nhiều hợp tác xã chưa có trụ sở riêng, nhiều tài sản của hợp tác xã
chưa gắn với quyền sử dụng đất, nhiều cơ sở dịch vụ chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất làm cho hợp tác xã thiếu tính độc lập, tự chủ trong kinh doanh.
- Đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã còn hạn chế về trình độ, năng lực. Nhiều cán
bộ quản lý chưa qua tập huấn nghiệp vụ, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, còn
thiếu yên tâm làm việc ổn định lâu dài trong hợp tác xã, chủ yếu do chế độ thù lao cho
cán bộ hợp tác xã còn thấp Nhiều hợp tác xã, cả hợp tác xã đã chuyển đổi và hợp tác xã
thành lập mới, chưa bảo đảm tuân thủ những nguyên tắc, giá trị hợp tác xã, các quy định
về góp vốn, điều lệ, về tích lũy tài sản vốn quỹ chung, vốn không chia
- Hoạt động của các hợp tác xã còn thiếu gắn bó với nhau, chưa có sự liên kết hệ
thống chặt chẽ cả về mặt kinh tế, xã hội và về tổ chức. Tuy đã hình thành được một số
liên hiệp hợp tác xã, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao, hỗ trợ hợp tác xã thành viên
còn ít.
- Công nợ trong hợp tác xã, nhất là trong các hợp tác xã chưa chuyển đổi, mới
chuyển đổi, chưa được xử lý rõ ràng, dứt điểm nên cũng làm cản trở hoạt động của hợp
tác xã.
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA XÃ QUỲNH HẬU,
HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
I- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Quỳnh Hậu là xã thuộc vùng trung tâm huyện Quỳnh Lưu, phía Bắc giáp xã
Quỳnh Thạch, phía Tây giáp xã Quỳnh Hoa, phía Nam giáp xã Quỳnh Hồng và Quỳnh
năm đến con số này sẽ có sự thay đổi lớn bởi các lý do: năm 2008 địa phương sẽ tập
trung động viên nhân dân chuyển đổi ruộng dất nên một số diện tích đất nông nghiệp sẽ
chuyển sang đất chuyên dùng để mở rộng hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng và xây
dựng các mô hình trang trại; nhu cầu đất ở của các hộ gia đình tương đối lớn; một số
doanh nghiệp có ý định đầu tư xây dựng các khu dịch vụ, thương mại, các khu công
nghiệp vừa và nhỏ.
Bảng 1: Cơ cấu và tình hình biến động đất của xã Quỳnh Hậu:
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
So sánh
2007-2005
Ha % Ha % Ha % +/- %
Diện tích đất tự nhiên 529 100 529 100 529 100 0 100
1. Đất nông nghiệp 436,03 82,43 433,16 81,88 432,04 81,67 -3,99 99,08
a. Đất sx nông
nghiệp
418,85 79,18 415,98 78,64 414,86 78,42 -3,99 99,05
b. Đất nuôi trồng
thuỷ sản
17,18 3,25 17,18 3,25 17,18 3,25 0 100
2. Đất phi
nôngnghiệp
90,97 17,2 93,84 17,74 94,96 17,95 3,99 104,4
a. Đất ở 37,7 7,13 39,91 7,54 40,91 7,73 3,21 108,5
b. Đất chuyên
dùng
31,71 6 32,45 6,13 32,57 6,17 0,86 102,7
c. Đất nhà thờ các
dòng họ