Đổi mới tổ chức và hoạt động của hội liên hiệp phụ nữ ở hải dương hiện nay - Pdf 47

MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHỤ NỮ
VÀ TỔ CHỨC PHỤ NỮ HIỆN NAY

1.1. Một số cơ sở lý luận về phụ nữ và tổ chức phụ nữ hiện nay
1.2. Một số cơ sở thực tiễn về phụ nữ và phong trào phụ nữ hiện nay

5
5
19

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
LIÊN HIỆP PHỤ NỮ Ở HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

2.1. Khái quát về tình hình Hải Dương hiện nay
2.2. Khái quát về phụ nữ và tổ chức phụ nữ ở Hải Dương hiện nay
2.3. Khái quát về hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ ở Hải Dương
hiện nay

27
27
36
45

Chương 3: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ Ở

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Hội đồng nhân dân

HĐND

Hệ thống chính trị

HTCT

Liên hiệp phụ nữ

LHPN

Mặt trận Tổ quốc

MTTQ

Nhà xuất bản

Nxb

Trung ương

TW

Chủ nghĩa xã hội


HTCT, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới ở nước ta.
Với lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội
Liên hiệp phụ nữ ở Hải Dương hiện nay” làm Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Chính trị học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phụ nữ, phong trào phụ
nữ, tổ chức phụ nữ, Hội Liên hiệp phụ nữ ở Việt Nam nói chung và đổi mới tổ
chức cũng như hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ ở Việt Nam nói riêng.
Có thể nêu một số sách và công trình nghiên cứu đã công bố như:


2

Chủ nghĩa Mác về vấn đề giải phóng phụ nữ, Nhà xuất bản (Nxb) Phụ
nữ, Hà Nội 1977. Nguyễn Thị Thập: Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, tập
1, 2, Nxb Phụ nữ, HN, 1981. Lê Thị Nhâm: Phụ nữ Việt Nam qua các thời
đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1987. Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam,
Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1990. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hai mươi năm,
một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam (1975-1995), Nxb Phụ nữ,
Hà Nội, 1996. Nguyễn Thị Mão: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ
nữ và xây dựng đội ngũ cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, tháng 10/1996. Hội
Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương: “Lịch sử truyền thống cách mạng phụ nữ
Hải Dương giai đoạn 1930-1975”, năm 2000. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải
Dương: “Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Hải Dương giai đoạn 1976-2000”,
năm 2003. Đảng đoàn Hội LHPN Việt Nam: Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà
nước với Hội LHPN VN - Thực trạng và những giải pháp đổi mới, Chuyên đề
số VI tháng 12/2004. Trịnh Xuân Giới, Nâng cao vị trí vai trò chính trị về
năng lực hoạt động của Hội LHPN Việt Nam. Hà Nội, năm 2004. Chủ tịch Hồ
Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2005.
Có thể nêu một số luận văn, luận án khoa học đã công bố như:

Hội LHPN ở Hải Dương hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng:
Luận văn tập trung nghiên cứu các tổ chức và hoạt động của Hội LHPN
Hải Dương hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Hải Dương trong thời
kỳ đổi mới, từ góc độ Chính trị học - Hội LHPN với tích cách một yếu tố cấu
thành của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu


4

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phụ nữ, tổ
chức và hoạt động của Hội LHPN.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp
phân tích và tổng hợp, tổng kết thực tiễn, so sánh, phương pháp thống kê, v.v..
6. Đóng góp của luận văn
Nêu lên một số luận chứng khoa học về lý luận và thực tiễn cho việc xây
dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phụ nữ;
những quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội LHPN
nói chung và ở Hải Dương nói riêng trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng
dạy, học tập về Hội LHPN ở các Trường Chính trị tỉnh, các Trung tâm Bồi
dưỡng chính trị cấp huyện và Hội LHPN cấp tỉnh.
Góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về
phụ nữ; đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội LHPN nói chung và ở Hải

xó hội - cỏc cuộc cách mạng tư sản ở Phương Tây, nhất là ở Mỹ và Pháp thế
kỷ XVIII; các phong trào bói nụ ở những năm đầu thế kỷ XIX; các cuộc vận
động cho quyền bầu cử của phụ nữ cuối thế kỷ XIX; và các phong trào dân
quyền những năm 60 - 70 của thế kỷ XX ở phương Tây. Những chuyển động
lịch sử của nữ quyền cũn được gọi là sóng nữ quyền. Sóng nữ quyền thứ nhất
bao gồm Công ước quyền của phụ nữ đầu tiên được tổ chức tại Seneca Falls,
New York (Mỹ) năm 1848 và thông qua các Tu chính án 19, trong đó cho
phép phụ nữ quyền bỏ phiếu vào năm 1920, đặc trưng bởi cuộc đấu tranh của
phụ nữ đối với quyền chính trị. Sóng nữ quyền thứ hai vào những năm 1960
và 1970. Sóng nữ quyền thứ ba của ngày hôm nay nhấn mạnh một loạt các
vấn đề, bao gồm sự tăng trưởng của các tổ chức nữ quyền và các ấn phẩm và
con số ngày càng tăng của quyền phụ nữ trong chính phủ, trong hệ thống giáo
dục và các ngành nghề khác.
Nguồn gốc tư tưởng của Lý thuyết nữ quyền tự do là triết học về tự do
thế kỷ XVI - XVII ở Phương Tây, trong đó khẳng định niềm tin và sự tôn


7

trọng vào tư tưởng bỡnh đẳng và tự do. Mọi cá nhân trong xó hội đều có tiềm
năng trở thành người tư duy duy lý và sự bỡnh đẳng giữa người với người đều
được xem xét theo tinh thần duy lý. Khái niệm “tự do” được hiểu là mọi
người được “quản lý” chỉ với sự đồng ý của chính họ và trong phạm vi giới
hạn nhất định, trong đó chính phủ chỉ được điều tiết lĩnh vực công cộng và
không thể hoặc chỉ được phép điều tiết lĩnh vực riêng tư một cách hạn chế.
Đó là do ngay từ thời kỳ Phục Hưng thế kỷ thứ XVI - XVII chủ nghĩa tư bản
bắt đầu được thiết lập, giai cấp tư sản luôn đề cao sự tự do nhằm phục vụ lợi
ích của họ. Những người khởi xướng cho thuyết này là những người phụ nữ
da trắng thuộc tầng trung và thượng lưu trong xó hội, có điều kiện tiếp cận với
tư tưởng tự do từ rất sớm. Tư tưởng chủ đạo của lý thuyết nữ quyền tự do là

tạo tự do và bỡnh đẳng như nam giới; cần đảm bảo công bằng về cơ hội cho
cả nam và nữ, không phân biệt nam nữ. Ở nhiều xó hội hiện nay, khung phỏp
lý về bỡnh đẳng giới được cải thiện nhiều, song sự phân biệt này vẫn tồn tại
dai dẳng trong các thiết chế phi chính thức về ranh giới lĩnh vực công cộng riêng tư và sự phụ thuộc của phụ nữ, các tư tưởng tự do kinh điển phõn chia
rạch rũi giữa lĩnh vực cụng cộng (chớnh trị, nhà nước) và riêng tư (gia đỡnh,
mang tớnh ụn hoà, chức năng nuôi, dạy trẻ em).
Lý thuyết nữ quyền tự do phê phán sự phân chia tách biệt giữa 2 lĩnh vực
này, cho rằng đó là cứng nhắc, giáo điều, là nguyên nhân dẫn đến hoặc duy
trỡ sự bất lợi về văn hóa đối với phụ nữ.Về lý luận, quan điểm nữ quyền tự do
tập trung nghiên cứu và xem xét đặc điểm cấu trúc xó hội chịu “ảnh hưởng
giới”, sự hạn chế của việc phân chia, tách biệt không gian hoạt động theo
truyền thống (lĩnh vực công cộng và riêng tư), sự ảnh hưởng phân công lao
động theo giới tính và phân cực, tách biệt giữa 2 lĩnh vực công cộng và riêng
tư đối với phụ nữ, thu hút cộng đồng tham gia đối thoại rộng rói và dõn chủ
về những vấn đề nêu trên. Nghiên cứu, xem xét lại quan niệm truyền thống về
lĩnh vực công cộng, riêng tư; đề xuất những điều chỉnh cần thiết nhằm thay
đổi nhận thức và nâng cao năng lực lập pháp, góp phần đáp ứng tốt hơn các
quan tâm, nhu cầu của phụ nữ, hướng tới xây dựng mô hỡnh đáp ứng nhu cầu


9

thực tiễn hợp lý, trong đó quan tâm lợi ích đối với cá nhân - quyền con người
của phụ nữ và nhà nước.
Tuy nhiên, Lý thuyết nữ quyền tự do cũng có những hạn chế nhất định.
Xuất phát điểm là quan điểm của phụ nữ trung lưu (da trắng, có học vấn) nên
trước hết nó phản ánh quan điểm lợi ích, kinh nghiệm của nhóm này hơn là
mục tiêu bao quát và rộng mở nhằm hướng tới giải quyết căn bản sự áp bức
của mọi phụ ở các tầng lớp khác. Chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề tạo
quyền cũng như vấn đề thái độ và vị thế của phụ nữ; chưa chú ý đầy đủ hoặc

c) Lý thuyết bất bỡnh đẳng giới:
Các quan điểm khác biệt giới tính sẽ trả lời câu hỏi này bằng cách kiểm
tra xem vị trớ, kinh nghiệm và tỡnh huống xó hội của phụ nữ khỏc như thế
nào so với nam giới. “Văn hóa bênh vực phụ nữ” tỡm đến các giá trị khác
nhau liên kết với phái nữ và nữ tính (ví dụ: chăm sóc, hợp tác và hũa bỡnh)
như là một lý do tại sao người đàn ông và phụ nữ trải nghiệm thế giới xó hội
khỏc nhau. Cỏc nhà lý thuyết nữ quyền khỏc tin rằng phụ nữ và nam giới
được phân công các vai trũ khỏc nhau trong một tổ chức sẽ tốt hơn để giải
thích sự khác biệt giới tính, tỡnh dục bao gồm sự phõn chia lao động trong gia
đỡnh và ngoài xó hội. Một số quyền của phụ nữ được nhỡn thấy sự khỏc biệt
rất rừ bởi chế độ gia trưởng hay phân biệt đối xử, mặc dù sự khác biệt nữ
quyền biện luận cho sự chấp nhận những khác biệt giới tính.
Lý thuyết bất bỡnh đẳng giới xem xét để trả lời câu hỏi "Điều gỡ về phụ
nữ?" bằng cỏch nhận ra rằng vị trớ, kinh nghiệm và tỡnh huống xó hội giữa phụ
nữ và nam giới khụng cú sự khỏc nhau nhưng cũng không có bỡnh đẳng giữa
phụ nữ và nam giới. Một số quan điểm bênh vực phụ nữ cho rằng phụ nữ có khả
năng như nam giới, nhưng do chế độ gia trưởng, đặc biệt là khuôn mẫu định kiến
giới của phân công lao động. Phụ nữ đó bị cụ lập để đảm bảo các nhu cầu tư
nhân của hộ gia đỡnh do đó phụ nữ không có một tiếng nói trong lĩnh vực công
cộng hay xó hội. Ngay cả sau khi phụ nữ bước vào lĩnh vực công cộng, xó hội
họ vẫn cũn phải đảm nhận việc các công việc chăm sóc gia đỡnh và nuụi con.
d) Lý thuyết về sự đàn áp giới:


11

Lý thuyết về sự đàn áp giới đi xa hơn lý thuyết về sự khỏc biệt giới tớnh
và bất bỡnh đẳng giới bằng cách cho rằng không chỉ là phụ nữ khác nhau
hoặc bất bỡnh đẳng với nam giới, nhưng họ đang bị áp bức, phụ thuộc và thậm
chí bị lạm dụng bởi người đàn ông. Sức mạnh là biến quan trọng trong hai giả

1.1.1.2. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phụ nữ và tổ chức phụ nữ
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đã chỉ rõ chỉ có cách
mạng vô sản là cuộc cách mạng xoá bỏ tận gốc chế độ bóc lột, xây dựng chế
độ xã hội mới, tự do, bình đẳng. Đồng thời chỉ ra biện pháp giải phóng phụ nữ
nhằm động viên lực lượng lao động nữ tham gia vào lực lượng cách mạng.
Ăng-ghen khẳng định, sự nghiệp giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa
nam và nữ đều không thể có được chừng nào mà phụ nữ vẫn bị gạt ra sản xuất
xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng tư của gia đình. Chỉ có thể
giải phóng người phụ nữ khi người phụ nữ có thể tham gia sản xuất trên một
quy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làm công việc trong nhà rất ít.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng nguyên nhân kinh tế của bất bình đẳng
nam nữ mà biểu hiện đầu tiên là sự áp bức của đàn ông với đàn bà, từ đó lên
án, phê phán quan điểm phong kiến và tư sản đối với phụ nữ, đồng thời cũng
khẳng định sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một quá trình gắn liền với thắng lợi
của CNXH và chủ nghĩa cộng sản và những điều kiện để giải phóng phụ nữ là
sự phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại cùng với sự nghiệp giải phóng
giai cấp công nhân. Đưa phụ nữ tham gia lao động sản xuất, có khả năng độc
lập về kinh tế, có đóng góp về kinh tế chung trong gia đình và xã hội. Phụ nữ
biết làm việc nước, tham gia các hoạt động xã hội và trực tiếp tham gia quản lý
nhà nước. Những điều kiện trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau để phụ nữ có
thể thoát khỏi mọi áp bức, tự giải phóng mình và ngày càng khẳng định rõ hơn
vai trò của mình trong việc tham gia vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất
nước.
Chủ nghĩa Mác-Lênin, với học thuyết cách mạng và khoa học, đứng trên
quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã tìm


13

ra nguồn gốc của sự bất bình đẳng nam nữ, thấy được lực lượng và điều kiện

nước Nga Xô viết. Theo đó, có ba nhóm biện pháp quan trọng đã được lựa
chọn để xây dựng như những giải pháp then chốt để nhằm từng bước thực hiện
việc giải phóng phụ nữ ở nước Nga Xô viết. Các biện pháp này được thực hiện
trong bối cảnh của cuộc cách mạng vô sản và được tiến hành đồng thời như
một trong những nội dung của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Các biện
pháp đó bao gồm: một là, xây dựng và ban hành hệ thống luật pháp mới bảo
đảm quyền bình đẳng nam nữ; hai là, đưa phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước,
xây dựng chính quyền; ba là, giảm nhẹ gánh nặng công việc nội trợ của phụ nữ
bằng việc xây dựng nhà trẻ, nhà ăn công cộng.
Ngay sau Cách mạng tháng Mười (1917), Lênin đã chỉ rõ nhiệm vụ của
Chính quyền Xô viết là phải xoá bỏ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, thu hút
lực lượng phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội, tham gia công việc quản lý
Nhà nước, nhưng đây là cuộc cách mạng lâu dài và khó khăn, không thể dễ
dàng và ảo tưởng. Mặc dù có một luật lệ giải phóng, nhưng phụ nữ vẫn còn là
nô lệ trong gia đình vì những công việc nội trợ còn đè nặng lên lưng họ, làm
cho họ nghẹt thở. Chỉ có CNXH mới có thể cứu giúp phụ nữ thoát khỏi tình
trạng đó. Chỉ khi nào chúng ta chuyển từ nền kinh tế nhỏ lên kinh tế công
cộng và chế độ canh tác chung, thì phụ nữ mới có thể được hoàn toàn giải
thoát và giải phóng triệt để. Lênin đã đề ra và thực hành nhiều biện pháp hữu
hiệu để đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao trình độ cho phụ nữ để họ có
đủ khả năng tham gia quản lý nhà nước. Người cho rằng, có chính quyền Xô
viết thì việc giáo dục chính trị cho phụ nữ lao động có tầm quan trọng hàng
đầu, nhiệm vụ của chính quyền cách mạng là ngày càng có nhiều phụ nữ tham
gia vào việc quản lý nhà nước. Trong khi tham gia quản lý phụ nữ sẽ học tập
nhanh chóng và đuổi kịp nam giới.
1.1.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ và tổ chức phụ nữ


15



1.1.1.4. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phụ
nữ và tổ chức phụ nữ
Đối với Đảng, thấm nhuần quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ, ngay từ khi mới ra đời Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định giải phóng phụ nữ là một trong 10 nhiệm vụ quan trọng
trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Đảng đề ra mục tiêu giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp gắn liền với giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình
quyền. Trên cơ sở quan điểm đó, Đảng đã tổ chức đoàn thể phụ nữ với mục
đích mang lại quyền lợi cho phụ nữ, triệt để giải phóng phụ nữ. Đảng đã lãnh
đạo việc thành lập tổ chức đại diện cho phụ nữ Việt Nam từ ngày 20/10/1930.
Theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 20/10/1950 Hội LHPN Việt
Nam được thành lập để tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ thành một tổ
chức thống nhất trong cả nước. Kể từ đó đến nay, nhiều chủ trương, chính
sách của Đảng đã ra đời nhằm tạo điều kiện cho lực lượng lao động nữ nói
chung và đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý nói riêng có được những cơ hội
để vươn lên, tự khẳng định mình và không ngừng phát triển. Các hoạt động
của Hội đã góp phần to lớn trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
Tháng 12/1960, lần đầu tiên Đảng ta triệu tập Hội nghị cán bộ phụ nữ để
khơi dậy sức mạnh của phong trào phụ nữ. Nghị quyết Đại hội III của Đảng
khẳng định phụ nữ nước ta là một lực lượng quan trọng trong đấu tranh và trong
sản xuất, Đảng ta có trách nhiệm lớn đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Năm
1967, tăng cường khả năng tham gia quản lý nhà nước, khả năng đóng góp của
phụ nữ trong xây dựng và phát triển đất nước, Ban Bí thư Trung ương (Khoá III)
ban hành Nghị quyết số 152 về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận
và Nghị quyết 153 về công tác cán bộ nữ tham gia chính quyền các cấp. Sau đó


18

19

nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ có thể làm việc, phát triển tài năng và đẩy mạnh
công tác phát triển đảng viên nữ.
Đại hội VIII của Đảng (1996) chỉ rõ cần đặc biệt coi trọng đào tạo nghề
nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời
sống, bảo vệ sức khoẻ của phụ nữ và trẻ em, quan tâm phát triển Đảng và đào
tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, tăng tỷ lệ cán bộ nữ trong cơ quan lãnh đạo Đảng và
Nhà nước ở các cấp, các ngành. Đại hội IX (2001) xác định cơ chế chính sách
để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các
cấp, các ngành. Chỉ thị 46 ngày 6.12.2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về tỷ lệ
nữ tham gia cấp uỷ không quá 15% và tuổi tham gia của cán bộ chủ chốt ở cấp
tỉnh, trung ương thực hiện như nam giới. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng còn
xác định "Cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ
quan lãnh đạo và quản lý các cấp, các ngành" [16, tr.126].
Đại hội X của Đảng (2006) khẳng định đối với phụ nữ, nâng cao trình độ
mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều
kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người
mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham
gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo, quản lý ở
các cấp. Đối với Nhà nước, cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà
nước cũng đã ban hành, bổ sung nhiều văn bản nhằm bảo vệ quyền lợi, nghĩa
vụ của phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ vươn lên phát triển về mọi mặt. Khẳng
định vai trò, tầm quan trọng của phụ nữ, của tổ chức Hội phụ nữ trong hệ
thống chính trị.
Đối với Nhà nước, Hiến pháp năm 1946, văn bản pháp lý có hiệu lực cao
nhất của Nhà nước đã quy định nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng
hoà. Tất cả quyền bình đẳng trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam,
không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Đàn bà


định 163/HĐBT ban hành ngày 19/10/1988 và Nghị định 19/CP/2002 ngày


21

21/1/2002 của Chính phủ quy định về trách nhiệm của các cấp chính quyền
trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia
quản lý Nhà nước. Luật Bảo vệ sức khoẻ trẻ em ban hành năm 1989 có
chương bảo vệ sức khoẻ phụ nữ và trẻ em với nội dung về sử dụng lao động
nữ, quyền khám chữa bệnh của phụ nữ. Luật lao động ban hành năm 1994 là
văn bản pháp lý tương đối hoàn thiện với lao động nữ, tạo cơ hội cho phụ nữ
ngày càng phát triển. Quyết định 51 ngày 3.5.1999 về tuổi bổ nhiệm với cán
bộ nữ.
1.2. MỘT SỐ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHỤ NỮ VÀ PHONG TRÀO PHỤ NỮ
HIỆN NAY

1.2.1. Một số cơ sở thực tiễn về phụ nữ và tổ chức phụ nữ trên thế giới
Tổ chức phụ nữ của các nước trên thế giới được thành lập dựa trên thể
chế chính trị của quốc gia đó, có thể là một tổ chức xó hội, tổ chức chớnh trị
xó hội hoặc tổ chức phi chớnh phủ. Trong xó hội cụng dõn cú một bộ phận và
vị trớ, vai trũ, chức năng của nó gắn với các quá trỡnh chớnh trị. Bộ phận đó ở
mỗi nước có tên gọi khác nhau, nhưng nhỡn chung cú thể gọi đó là các tổ
chức chính trị - xó hội, trong đó có tổ chức phụ nữ. Chức năng của các tổ chức
chính trị xó hội, trong đó có tổ chức phụ nữ gao gồm đại diện, vận động nhất là vận động chính sách, phản biện và giám sát chính quyền.
Ngày nay, cỏc tổ chức chớnh trị xó hội trong đó có tổ chức phụ nữ được
tự do thành lập, hoạt động độc lập trong khuôn khổ của pháp luật như ngày
nay là kết quả của cả một quá trỡnh đấu tranh, phát triển cả về tư tưởng và lực
lượng của các tầng lớp, giai cấp trong quan hệ với nhà nước. Ở các nước tư
bản phát triển, sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động chính trị, xó hội
được coi như một giá trị dân chủ và như một cơ hội cho sự phát triển tự thân

Trong hệ thống chớnh trị, cỏc tổ chức chớnh trị - xó hội trong đó có tổ
chức phụ nữ mà tùy từng quốc gia sẽ có hệ thống tổ chức và tên gọi khác
nhau, là cơ sở chính trị của các đảng phái, của nhà nước, cầu nối chặt chẽ
giữa các tầng lớp, đối tượng phụ nữ với chính quyền. Ở các nước phát triển,


23

các tổ chức chính trị - xó hội, trong đó có phụ nữ vừa đứng bên cạnh nhà
nước vừa đứng đối mặt với nhà nước. Tại một số quốc gia, tổ chức phụ nữ
là một tổ chức chính trị - xó hội, đây là những tổ chức chính trị-xó hội hợp
phỏp được tổ chức để tập hợp rộng rói cỏc tầng lớp nhõn dõn, cỏc tầng lớp
phụ nữ theo nguyờn tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của phụ nữ,
tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của
mỡnh nhằm bảo vệ quyền lợi dõn chủ của phụ nữ.
1.2.2. Phụ nữ và tổ chức phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
1.2.2.1. Về tổ chức phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
Hội LHPN Việt Nam được thành lập ngày 20/10/1930. Hội LHPN Việt
Nam đó trải qua và tham gia đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây
dựng đất nước. Ngày 20/10/1930, Hội phụ nữ phản đế Việt Nam - tổ chức tiền
thân của Hội Liên hiệp phụ nữ (Hội LHPN) Việt Nam đó được lónh tụ
Nguyễn Ái Quốc thành lập, trở thành một trong những tổ chức xó hội của phụ
nữ lâu đời nhất trên thế giới. Mục đích của Hội LHPN Việt Nam là tập hợp
rộng rói cỏc tầng lớp phụ nữ, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp và giải phóng phụ nữ theo đường lối của Đảng. Hội LHPN Việt Nam là tổ
chức rộng rói của cỏc tầng lớp phụ nữ cả nước. Hội là thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, là thành viên của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế và là
thành viên của Liên đoàn các Tổ chức Phụ nữ ASEAN. Mục đích hoạt động của
Hội là vỡ sự bỡnh đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích
chính đáng và hợp pháp của phụ nữ vỡ bỡnh đẳng giới và phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status