ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HỒ THỊ LIÊN HƯƠNG
ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HỒ THỊ LIÊN HƯƠNG
ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Quang Hiển
Hà Nội – 2013
2.1.1. Những chuyển biến mới của tình hình thế giới và trong nước .................59
2.1.2. Chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hô ̣i Liên hiê ̣p Phụ
nữ Viê ̣t Nam .......................................................................................................69
1
2.2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đẩy mạnh hoạt động đối ngoại .................79
2.2.1. Phát triển hơn nữa công tác tham mưu, trao đổi thông tin tuyên truyền
quốc tế .................................................................................................................79
2.2.2. Mở rộng hoạt động trao đổi đoàn, tổ chức hội thảo, hội nghị, lớp tập huấn
và quan hệ hữu nghị ............................................................................................87
2.2.3. Tăng cường hoạt động khai thác dự án, vận động viện trợ quốc tế ................101
Tiể u kế t ....................................................................................................................106
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ ..................................108
3.1. Một số nhận xét ..............................................................................................108
3.1.1. Ưu điểm ..................................................................................................108
3.1.2. Những mặt hạn chế .................................................................................122
3.2. Kinh nghiệm lịch sử .......................................................................................127
KẾT LUẬN ............................................................................................................138
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................140
PHỤ LỤC ...............................................................................................................149
2
DANH MỤC CÁC CHƢ̃ VIẾT TẮT
ACWO
Liên đoàn Phụ nữ của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEM
Diễn đàn hơ ̣p tác Á – Âu
ARF
Diễn đàn khu vực ASEAN
CIDA
Cơ quan Phát triển Quốc tế Canađa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CSW
Uỷ ban địa vị phụ nữ Liên Hợp Quốc
CEDAW
Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
EU
Liên minh Châu Âu
ESCAP
ILO
Tổ chức lao đô ̣ng quố c tế
IOM
Tổ chức di dân quố c tế
IWDA
Tổ chức phát triển cho Phụ nữ quốc tế (Úc)
LHQ
Liên Hợp Quốc
3
NIC
Nước công nghiê ̣p mới
NGO
Các tổ chức phi chính phủ
PAM
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
WFP
Chương trình lương thực thế giới
WIDF
Liên đoàn Phu ̣ nữ Dân chủ quốc tế
WIH
Tổ chức Thế giới Hài hòa (Tây Ban Nha)
WLN
cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ của Diễn đàn Hợp tác kinh tế
Châu Á - Thái Bình Dương
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế, công cuô ̣c đổ i mới toàn diê ̣n trên nhiề u liñ h vực đời số ng xã hô ̣i do Đảng Cô ̣ng
sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đa ̣t đươ ̣c những thành tựu to lớn . Thế và
lực của Viê ̣t Nam ngày càng đươ ̣c mở rô ̣ng , niề m tin của nhân dân vào sự nghiê ̣p
đổ i mới càng thêm củng cố . Vị thế Việt Nam trên trường quố c tế đươ ̣c nâng cao .
Hoạt động đối ngoại ngày càng phát triển.
Nề n ngoa ̣i giao của mô ̣t quố c gia bao gồ m ngoa ̣i giao chính thức của Nhà
nước và ngoa ̣i giao của các l ực lượng “phi nhà nước” . Nền ngoại giao Việt Nam
gồ m ba bô ̣ phâ ̣n hơ ̣p thành : công tác đố i ngoa ̣i của Đảng , ngoại giao của Nhà nước
và đối ngoại nhân dân . Trong bố i cảnh đấ t nước đang tiế n hành sự nghiê ̣p đổ i mới ,
ngày càng tham gia một cách chủ động vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế , viê ̣c
đổ i mới hoạt động đố i ngoa ̣i, đă ̣c biê ̣t là đố i ngoa ̣i nhân dân trở thành vấ n đề ch iế n
lươ ̣c nhằ m khai thác mọi nguồn lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (sau đây gọi tắt là Hội) là một tổ chức chính
trị - xã hội mang tính quần chúng có hoạt động đối ngoại riêng, do Ban Đối ngoại
Trung ương quản lý dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Cùng với hoạt động đối ngoại của Đảng và ngoại giao của Nhà nước
, Hội đã đẩ y
mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân , góp phần tiếp tục duy trì , phát triển mối
quan hê ̣ hữu nghi ̣với các nước có quan hê ̣ truyề n thố ng và không ngừng mở rô ̣ng
quan hê ̣ với các nước , các tổ chức quố c tế ; tham gia tích cực các hoạt động vì hoà
bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, góp phần
tạo nên môi trường hòa bình, ổn định, phát triển, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa đấ t nướ.c
Tình hình thế giới và trong nước ngày càng biến đổi sâu sắc. Nhiề u vấ n đề
trên thế giới , khu vực v à trong nước đang diễn ra hết sức đa dạng với những mối
quan hê ̣ phức ta ̣p . Công cuô ̣c xây dựng bảo vê ̣ Tổ quố c xã hô ̣i chủ nghiã đòi hỏi
Sách nghiên cứu lịch sử đối ng oại Việt Nam rấ t pho ng phú . Một số công
trình có cái nhìn xuyên suốt về vấn đề đối ngoại theo diễn trình lịch sử như Vũ
Dương Huân (Chủ biên) (2004), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới
(1975 - 2002), (Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nô ̣i); Lưu Văn Lợi, Ngoại giao Việt
Nam 1945 – 1995 (2004) ( Nxb. Công an nhân dân , Hà Nội ); Nguyễn Đình Bin
(2002), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội)… Có
một số công trình nghiên cứu một cách cập nhật đường lối chính sách đối ngoại của
Đảng trong tình hình mới như: Vũ Dương Huân (Chủ biên ) (2003), Tình hình thế
giới và chính sách đối ngoại của Việt Nam (Học viện Quan hệ quốc tế 2001 – 2003,
7
Hà Nội); Phạm Bình Minh (2011) Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong
giai đoạn mới (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội); Phạm Quang Minh (2012), Chính
sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986-2010) (Nxb. Thế giới, HN)… Song
song với những ấ n phẩ m xuấ t bản dưới da ̣ng sách , nhiề u công trin
̀ h nghiên cứu về
đường lố i đối ngoại Việt Nam cũng đươ ̣c công bố trên các báo
, tạp chí chuyên
ngành như: Phan Đa ̣i Doañ (2003), “Ngoa ̣i giao Việt Nam tiế p tu ̣c tiế n lên với thời
đa ̣i”, Nghiên cứu quố c tế , số 3(52); Đinh Xuân Lý (2003), “Quá trình mở rô ṇ g quan
hê ̣ đối ngoại thời kỳ đổi mới” , Lịch sử Đảng , số 12; Nguyễn Danh Quỳnh (2003),
“Đa phương hóa , đa da ̣ng hóa trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam sau Chiến
tranh la ̣nh” , Lý luận chính trị , số 7; Vũ Dương Ninh (2007), “Quan hê ̣ đối ng oại
Việt Nam 1975 – 1995: Nhìn lại và suy nghĩ” , Lý luận chính trị , số 4; Vũ Khoan
(2013) "Đổi mới tư duy và chính sách trong lĩnh vực đối ngoại của Đảng Cộng sản
Việt Nam", tạp chí Cộng sản online… Các công trình này nêu bật được những điểm
(NXB Phụ Nữ , Hà Nội ); Lê Thị Nhậm Tuyết, (1975), “Phụ nữ Việt Nam qua các
thời đại”, (NXB Khoa ho ̣c xã hô ̣i , Hà Nội ); Trần Quốc Vượng (2001), “Truyền
thống phụ nữ Việt Nam”, (NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội)... Các công trình này đã
trình bày xuyên suốt lich
̣ sử đấ u tranh và phát triể n của phụ nữ Việt Nam trong các
giai đoạn phát triển , nhưng chưa đi vào nghiên cứu hoa ̣t đô ̣ng
đố i ngoa ̣i của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Một số năm gần đây, có một số Khóa luận nghiên cứu
về HLHPNVN. Khóa luận “Hệ thống tổ chức của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
từ năm 1986 đến năm 2000” của sinh viên Nguyễn Thùy Linh (tốt nghiệp năm
2010), Khóa luận trình bày sự chỉ đạo của Đảng với công tác tổ chức của
HLHPNVN, trong khuôn khổ Khóa luận tác giả cũng có đề cập đến việc tổ chức
Ban Quốc tế - bộ phận phụ trách trực tiếp công tác đối ngoại nhân dân của Hội. Tuy
nhiên, mục tiêu của Khóa luận là làm rõ hệ thống cơ cấu tổ chức các cơ quan của
HLHPNVN chứ không đi nghiên cứu về hoạt động cụ thể của mỗi cơ quan, tổ chức.
Luận văn cũng kế thừa những nghiên cứu từ Khóa luận “Hoạt động đối ngoại của
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009” của bản thân. Tuy
nhiên, Khóa luận nghiên cứu trong một thời gian dài hơn so với Luận văn, sự tập
trung nghiên cứu hoạt động đối ngoại của HLHPNVN thời công nghiệp hóa, hiện
đại hóa chưa được sâu sắc. Hơn nữa, do yêu cầu và thời gian hạn hẹp nên Khóa luận
rút ra những ưu điểm, nhược điểm của hoạt động đối ngoại và bài học kinh nghiệm
chưa mang tính chất hệ thống, chưa đi vào phân tích mà chỉ dừng lại ở mức nêu vấn đề.
Nói chung, có nhiều công trình nghiê n cứu về đường lố i đố i ngoa ̣i của Đảng
Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam , nhưng chưa có những công trình nghiên cứu đi sâu và mang
tính hệ thống về sự lañ h đa ̣o của Đảng đố i với hoạt động đối ngoại nhân dân
9
- Những hoạt động đối ngoại của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Hoàn cảnh lịch sử thế giới và trong nước có liên quan hoạt động đối ngoại
của HLHPNVN.
10
- Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng, nhất là chủ trương về đối ngoại nhân dân.
- Hoạt động đố i ngoa ̣i của HLHPNVN.
- Thời gian: từ năm 1996 đến năm 2010
( Năm 1996 là năm bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Năm 2010 là thời điểm nhận đề tài nghiên cứu, nên chỉ có ý nghĩa tương đối.
Trong quá trình viết luận văn, tác giả đề cập thêm những sự kiện sau năm 2010 để
có cơ sở đánh giá, nhận xét đầy đủ hơn).
- Không gian: Hoạt động đối ngoại của HLHPNVN với các tổ chức quố c tế ,
các quốc gia trong khu vực và ngoài khu vực, các chính phủ…
5. Nguồ n tài liệu và phƣơng pháp nghiên cƣ́u
5.1 Tài liệu
- Văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan tới chủ trương, chính sách đối
ngoại của Việt Nam.
- Văn kiện của HLHPNVN tại Đại hội Phụ nữ toàn quố c c ác năm từ năm
1996 đến năm 2010. Báo cáo hoạt động hàng năm của Hội, báo cáo công tác đối
ngoại của Hội từ năm 1996 đến năm 2010.
- Các công trình nghiên cứu về lich
̣ sử Đảng , lịch sử Việt Nam, lịch sử ngoại
giao có liên quan hoạt động đối ngoại nhân dân nói chung và hoạt động đối ngoại
của HLHPNVN nói riêng.
- Các bài viết, bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học.
- Các nguồ n báo có liên quan như báo Phu ̣ nữ , báo mạng...
7. Bố cục Luận văn
Luận văn , ngoài phần mở đầu , kế t luâ ̣n , tài liệu tham khảo và phụ lục
gồm có 3 chương.
Chương 1: Đảng với hoa ̣t đô ̣ng đố i ngoa ̣i củ a Hô ̣i Liên hiê ̣p Phu ̣ nữ Viê ̣t
Nam từ năm 1996 đến năm 2000
Chương 2: Đảng với hoa ̣t đô ̣ng đố i ngoa ̣i của Hô ̣i Liên hiê ̣p Phu ̣ nữ Viê ̣t
Nam từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
12
,
Chƣơng 1
ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI
CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động đối ngoại của Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam và chủ trƣơngđối ngoại của Đảng, của Hội
1.1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đối ngoại của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam
Cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX , tình hình thế giới có nhiều biến chuyển quan
trọng. Cuô ̣c cách ma ̣ng khoa ho ̣c và công nghê ̣ hi ện đại phát triển tăng tốc với các
đơ ̣t sóng công nghê ̣ cao , nổ i bâ ̣t là công nghê ̣ thông tin , tác động sâu sắ c tới những
biế n đổ i kinh tế , chính trị, văn hóa và tổ chức đời số ng xã hô ̣i , là một trong những
xu thế lớn của thế giới đương đa ̣i . Đồng thời, trong thời gian này, các nước xã hội
chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng . Đế n đầ u thâ ̣p kỷ 90 của thế
kỷ XX, chế đô ̣ xã hô ̣i chủ nghiã ở Liên Xô su ̣p đổ , dẫn đế n những biế n đổ i cơ bản
nề n chính tri ̣thế giới và quan hê ̣ quố c tế . Trâ ̣t tự thế giới từ sau Chiế n tranh thế giới
thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Mỹ đứng đầu (trâ ̣t tự hai cực ) tan
Nói đến tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh còn là nói đến quá trình
phát triể n của xu thế quố c tế hóa , toàn cầu hóa và sự ra đời của các tổ chức liên
minh quố c tế .
Toàn cầu hóa xét về bản chất là quá trình gia tăng mạnh mẽ các mối liên hệ,
sự phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại giữa các quốc gia, khu vực trên lĩnh vực
kinh tế. Nếu như trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản , quá trình toàn cầu hóa chịu sự chi
phối của các tập đoàn tư bản và các nước lớn mà tiêu biểu là Hoa Kỳ thì trong thời
đại ngày nay, cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển và các lực lượng tiến bộ
đã góp phần hạn chế sự chi phối của các nước phát triển trong các tổ chức quốc tế.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Toàn cầu hóa kinh tế là
một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này bị một
số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều
mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu
tranh” [78, 449].
Toàn cầu hóa có những tác động tích cực đối với mỗi nước tham gia vào quá
trình này. Trên cơ sở thị trường được mở rộng, hàng rào thuế quan và phi thuế quan
thuyên giảm, vì thế giao lưu hàng hóa thông thoáng hơn, trao đổi hàng hóa tăng
mạnh, thúc đẩy sản xuất của mỗi nước; nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh
nghiệm quản lý cùng các hình thức đầu tư bản, hợp tác khác mang lại lợi ích cho
các bên tham gia hợp tác. Về mặt chính trị, toàn cầu hóa làm tăng tính tùy thuộc lẫn
nhau, nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hòa
bình, hợp tác song phương và đa phương. Nhìn chung, toàn cầu hóa tạo điều kiện
phát huy hiệu quả nguồn lực trong nước và khai thác, tận dụng các nguồn lực bên
ngoài phục vụ cho phát triển của các quốc gia.
Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó
khăn thử thách lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển. Cạnh tranh
kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng thị trường, nguồn
vốn, công nghệ… giữa các nước ngày càng gay gắt. Toàn cầu hóa kinh tế thường tỏ
ra là một cuộc đua, trong đó có kẻ thắng, người thua thực sự. Toàn cầu hóa mang
Hai là , nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ
trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc , sắc tộc và tôn giáo , chạy đua vũ
trang, hoạt động can thiệp , lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi . Tình hình thế
giới diễn biế n phức ta ̣p ; các hoạt động khủng bố và chống khủng bố trở thành vấn
15
đề thời sự nóng bỏng toàn cầ u; chiế n tranh cu ̣c bô ̣ , xung đô ̣t vũ trang , tôn giáo tiế p
tục xảy ra ở nhiều nơi . Thế lực hiế u chiế n cực đoan tăng cường chính sách áp đă ̣t ,
can thiê ̣p và xâm lươ ̣c vũ trang.
Ba là cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày
càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội.
Bố n là cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu (bảo vệ
môi trường, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật
hiểm nghèo…), không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết, mà cần phải
có sự hợp tác đa phương.
Năm là khu vực Châu Á - Thái bình Dương đang phát triển năng động và
tiếp tục phát triển với tốc độ cao. Đồng thời, khu vực này cũng tiềm ẩn một số nhân
tố có thể gây mất ổn định như vấ n đề Triề u Tiên
, vấ n đề Biể n Đông ... Trong bố i
cảnh sự tranh giành ảnh hưởng về kinh tế , chính trị giữa các nước lớn ở khu vực có
chiề u hướng tăng lên , các nước ASEAN đang nỗ lực khắc phục những hậu quả của
cuô ̣c khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng ở khu vực Châu Á và ảnh hưởng rộng khắp
của nó trên toàn cầu vào năm 1997. Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ bùng nổ ở
khu vực Đông Nam Á đã khiế n cho số lượng các hoạt động giao lưu quốc tế nói
chung bị cắt giảm . Có nhiều hoạt động khu vực và quốc tế mặc dù đã có lịch tổ
chủ và tiến bộ xã hội.
- Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh
trong cùng tồn tại hòa bình [52, tr. 336-337].
Các đặc điểm và xu thế nêu trên đã làm nảy sinh tính đa phương, đa dạng
trong quan hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của các nước, trong đó có
Việt Nam.
Trong xu thế tình hình thế giới và khu vực biến đổi nhanh chóng, các tổ chức
của phụ nữ trên thế giới đã có nhiều hoạt động tham gia tích cực vào quá trình biến
đổi chung.
Từ năm bắt đầu công cuộc đổi mới 1986 đến những năm đầu thập niên 90,
phong trào phụ nữ trên thế giới tập trung vào một số nội dung như đấu tranh chống
nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Trong cuộc đấu tranh đó, có những bộ phận phụ nữ ở
các nước tư bản đòi “cả Liên Xô và Mỹ phải chấm dứt chạy đua vũ trang”. Đông
đảo phụ nữ, kể cả phụ nữ các nước tư bản đều ủng hộ sáng kiến hòa bình của Liên
Xô. Dư luận quốc tế ủng hộ xu thế đối thoại, đàm phán để giải quyết hòa bình các
vấn đề tranh chấp giữa các nước. Phong trào đòi quyền bình đẳng nam nữ lan rộng;
ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương, khu vực Đông Nam Á, khu vực Nam Á…
xuất hiện nhiều tổ chức đấu tranh đòi bình đẳng nam nữ.
17
Đến đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức
tạp. Đặc biệt là cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội lên đến đỉnh cao, nổi lên là
sự sụp đổ của Liên Xô sau 70 năm tồn tại và sự tan rã về mặt tổ chức của Đảng
Cộng sản Liên Xô đã ảnh hưởng trực tiếp đến các tổ chức phụ nữ có quan hệ với
Việt Nam như các tổ chức phụ nữ ở Liên Xô, Đông Âu, Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ
Quốc tế, các tổ chức phụ nữ tiến bộ ở Tây - Bắc cũ và Mỹ La Tinh. Sau khi chủ
nghĩa xã hội sụp đổ , tình hình Liên Xô cũ và các nước Đông Âu chưa ổn định nên
việc móc nối lại và củng cố mối quan hệ truyền thố ng
Ở Việt Nam, tính đến năm 1996 đã trải qua 10 năm thực hiện đường lối đổi
mới của Đảng với hai kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm. Trong 10 năm (1986 – 1996),
dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ nội lực, kiên trì
mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa vì độc lập dân tộc, dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh đã giành được những thành tựu to lớn.
Một số thành tựu phải kể đến đó là:
- Tình trạng đình đốn trong sản xuất, rối ren trong lưu thông được khắc phục.
Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình
quân hàng năm thời kỳ 1991 - 1995 là 8,2%. Lạm phát bị đẩy lùi từ 77,4% năm
1986 xuống còn 67,1% năm 1991, 12,7% năm 1995. Lương thực thực phẩm
không những đủ ăn mà còn xuất khẩu được mỗi năm khoảng 2 triệu tấn gạo [55,
tr. 611 - 612].
- Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt xã hội. Giữ vững ổn định
chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh. Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan
trọng về hệ thống chính trị.
- Phát triển quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, hoà nhập vào khu
vực và thế giới. Ngày 11/7/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao.
Ngày 2/7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.
Từ năm 1996, quan hê ̣ của Viê ̣t Nam với các nước
trên thế giới có nhiều
chuyể n biế n tích cực. Sau khi Hiê ̣p đinh
̣ Paris về Campuchia đươ ̣c kí kế t năm 1991,
tình trạng đối đầu căng thẳng giữa
Việt Nam với các nước lơ ̣i du ̣ng vấ n đề
Campuchia để thực hiê ̣n chiń h sách bao vây , cấ m vâ ̣n Viê ̣t Nam nhằ m làm suy yế u
Viê ̣t Nam đã dầ n biế n mấ t . Quan hê ̣ Viê ̣t Nam với Campuchia và Lào đã sang mô ̣t
tuyên bố chiń h thức biǹ h thường hóa q uan hê ̣ với Viê ̣t Nam . Với viê ̣c bin
̀ h thường
hóa quan hệ với Hoa Kỳ , lầ n đầ u tiên Viê ̣t Nam có quan hê ̣ với tấ t cả các nước trên
thế giới. Sự kiê ̣n đã ta ̣o thêm điề u kiê ̣n để Viê ̣t Nam mở rô ̣ng quan hê ̣ hơ ̣p tác với
các nước khác và các tổ chức quố c tế . Từ năm 1996 trở đi, mố i quan hê ̣ Viê ̣t Nam Hoa Kỳ không ngừng đươ ̣c củng cố . Sau những ảnh hưởng của viê ̣c chủ nghiã xã
hô ̣i su ̣p đổ ở Liên Xô và Đông Âu , mố i quan hê ̣ giữa Viê ̣t Nam với Liên Bang Nga
và các nước Đông Âu có những gián đoạn và khó khăn bước đầu
, thì từ sau năm
1996, mố i quan hê ̣ đã đươ ̣c cải thiê ̣n và ph át triển. Viê ̣t Nam và Liên B ang Nga đã
trao đổ i nhiề u đoàn cấ p cao từ năm 1998, và khôi phục mối quan hệ v ới các nước
bạn truyền thống ở Đông Âu.
Nế u như bắ t đầ u thời kỳ đổ i mới , các hoạt động đối ngoại của Việt Nam tập
trung giải quyế t vấ n đề Campuchia thì sau năm 1996, các hoạt động đa phương của
Viê ̣t Nam có nhiề u bước ti ến. Viê ̣t Nam gia nhâ ̣p nhiề u diễn đàn khu vực hoă ̣c liên
quan tới châu lu ̣c : là thành viên Tổ chức hợp tác Kinh tế Châu Á
– Thái Bình
Dương (APEC) năm 1998, là thành viên của diễn đàn Á - Âu – ASEM năm 1996,
diễn đàn hơ ̣p tác Đông Á – Mỹ La Tinh – FEALAC năm 1999. Tại Liên Hợp Q uố c
Viê ̣t Nam có nhiề u hoa ̣t đô ̣ng phong phú . Năm 1997, lầ n đầ u tiên Viê ̣t Nam đươ ̣c
bầ u vào Hô ̣i đồ ng kinh tế – xã hội Liên Hơ ̣p Quố c (ECOSOC) - cơ quan quan tro ̣ng
nhấ t của Liên Hơ ̣p Quố c về các vấ n đề kinh tế – xã hội nhiệm kỳ 1998 - 2000; đồ ng
thời Viê ̣t Nam lầ n đầ u tiên đươ ̣c bầ u làm Phó Chủ tich
̣ và quyề n Chủ tich
̣ khóa ho ̣p
lầ n thứ 52 của Đại hội đồng , cơ quan quyề n lực cao nhấ t của Liên Hơ ̣p Q uố c. Việt
Nam còn là thành viên của Hô ̣i đồ ng thố ng đố c cơ năng lươ ̣ng nguyên tử quố c tế
những thử thách, khó khăn do mấy chục năm chiến tranh để lại , cơ sở vâ ̣t chấ t của
CNXH còn chưa vững chắc, các thế lực phản động chố ng phá cách ma ̣ng. Việt Nam
vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng
và tiếp tục bị bao vây cấm vận ; Liên Xô và các nước X HCN ở Đông Âu tan rã ,
Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam đã tiế n hành đổ i mới đấ t nước mô ̣t cách toàn diê ̣n trong
đó có cả hoa ̣t đô ̣ng đố i ngoa ̣i . Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII (1992) xác định mở rộng các mối quan hệ theo hướng đa phương hóa , đa
dạng hóa và “Viê ̣t Nam muố n làm bạn với tấ t cả các nước trong cộng đồ ng thế giới ,
phấ n đấ u vì hòa bình , độc lập và phát triể n ”. Trên tinh thầ n đó , HLHPNVN cũng
đã có những chuyể n hướng trong hoa ̣t đô ̣ng đố i ngoa ̣i . Hô ̣i củng cố tăng cường các
mố i quan hê ̣ hữu nghi ̣ , hơ ̣p tác với các tổ chức , cá nhân ở tất cả các nước , không
phân biê ̣t chế đô ̣ chính tr ị - xã hội, vì hòa bình, bình đẳng và phát triển của Phụ nữ .
Tiế p tu ̣c phát huy các mố i quan hê ̣ của giai đoa ̣n trước
, HLHPNVN có những
chuyể n hướng ma ̣nh mẽ trong phát triể n quan hê ̣ hữu nghi ̣hơ ̣p tác
, đă ̣c biê ̣t là từ
những năm 1990, từ chỗ chủ yếu quan hệ với các tổ chức phụ nữ thuộc các nước
21
XHCN và mô ̣t số tổ chức nhân đa ̣o quố c tế , Hô ̣i nhanh chóng mở rô ̣ng quan hê ̣ song
phương và đa phương với nhiề u tổ chức khác nhau trên nhiề u châu lu ̣c , kể cả các tổ
chức xã hô ̣i nhân đa ̣o , các tổ chức chính trị , các tổ chức doanh nghiệp , các viện
nghiên cứu, các cơ quan tài chính tiền tệ khu vực và thế giới , các tổ chức khoa học
o đoàn cấ p cao của
Chính phủ tham gia Hội nghị Bắc Kinh . HLHPNVN còn gắ n bó với WIDF ngay cả
khi Liên đoàn gă ̣p sóng gió nhấ t – CNXH su ̣p đổ ở Liên Xô và Đông Âu . Hô ̣i là
mô ̣t trong những thành viên trung kiên tham dự Đa ̣i hô ̣i “Hồ i sinh” của Liên đoàn
năm 1994 tại Paris (Pháp). HLHPNVN đươ ̣c bầ u vào Ban Lañ h đa ̣o Liên đoàn với
tư cách là đa ̣i diê ̣n của Liên đoàn khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương . Viê ̣c tham
gia các tổ chức phu ̣ nữ quố c tế và khu vực đánh dấ u bước ngoă ̣t trong quan hê ̣ đố i
ngoại của HLHPNVN.
22
Những năm từ 1986 đến 1996 là thời gian chuyể n đổ i rấ t quan tro ̣ng đố i với
hoạt động đối ngoại của HLHPNVN , từ xu hướng đấ u tranh chính tri ̣phu ̣c vu ̣ cho
công cuô ̣c đấ u tranh thố ng nhấ t và bảo vê ̣ nề n đô ̣c lâ ̣p của Tổ quố c sang các hoa ̣t
đô ̣ng quố c tế đa da ̣ng , đa phương phu ̣c vu ̣ các hoa ̣t đô ̣ng mang đâ ̣m nét xã hô ̣i , đáp
ứng những lợi ích thiết thực của người phụ nữ trong công cuộc đổi mới của đất nước
.
Bước sang những năm từ 1996 đến năm 2000, phong trào phụ nữ Việt Nam
còn không ít khó khăn, thách thức, nhưng có nhiều thuận lợi rất cơ bản. Đất nước đã
ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng khá. Văn hoá - xã hội có
những tiến bộ. Đời sống nhân dân trong đó có đông đảo phụ nữ tiếp tục được cải
thiện. Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định. Quốc phòng, an ninh được tăng
cường. Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng. Đường lối đại đoàn kết toàn
dân, dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội ngày càng được phát huy. Chính phủ có