HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒNG MIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI
NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HỒNG MIÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI
NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI
LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS,TS. Nguyễn Danh Tiên
2. TS. Nguyễn Duy Hạnh
HÀ NỘI - 2019
thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996
đến năm 2006
Chương 3: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN
HIỆP PHỤ NỮ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
3.1. Bối cảnh mới và chủ trương của Đảng về đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
3.2. Đảng chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức hoạt động
của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
4.1. Nhận xét quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt
động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
4.2. Một số kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2016
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐG
Bình đẳng giới
CLB
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Hoạt động giám sát, phản biện của Hội Liên hiệp Phụ nữ
giai đoạn 2006-2016
Biểu đồ 3.2: Hoạt động hỗ trợ tín dụng giúp phụ nữ phát triển kinh tế từ
2007- 2016
Biểu đồ 3.3: Kết quả thực hiện cuộc vận động xây dựng gia đình “5 không
3 sạch” giai đoạn 2006-2011 và 2011-2016
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ nữ trong Ban Chấp hành Đảng ủy các cấp từ 2006-2015
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
từ 2007-2016
Biểu đồ 4.1: Bảng so sánh số cán bộ Hội được tập huấn về công tác giải
quyết đơn thư, tư vấn pháp luật từ năm 1997 đến năm 2017
Biểu đồ 4.2: Bảng so sánh số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội
giúp đỡ và thoát nghèo từ năm 2002 đến năm 2016
Biểu đồ 4.3: Bảng so sánh tỷ lệ nữ đại biểu Quốc Hội và Hội đồng nhân
dân các cấp từ khóa IX đến khóa XIII (1997-2016)
Biểu đồ 4.4: Bảng so sánh sự phát triển hội viên phụ nữ trong tổ chức
Hội từ năm 2001 đến năm 2016
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2
chưa đáp ứng được yêu cầu tình hình thực tế. Đó là, việc động viên, thu hút
phụ nữ tuy được đánh giá là cơ bản hoàn thành về chỉ tiêu phát triển hội viên
nhưng còn nhiều khó khăn, thành phần các đối tượng hội viên chưa đồng đều,
chất lượng chưa cao. Hoạt động của Hội chưa thực sự đáp yêu cầu của các
tầng lớp phụ nữ. Tổ chức Hội ở một số nơi vẫn còn tình trạng “hành chính
hóa”. Việc tham mưu, chỉ đạo, điều hành tổ chức hoạt động của Hội còn nhiều
lúng túng. Hoạt động giám sát thực hiện luật pháp, chính sách, công tác phản
biện xã hội ở nhiều địa phương chưa hiệu quả. Trình độ, năng lực, tính chủ
động sáng tạo của một bộ phận cán bộ Hội cấp cơ sở còn hạn chế chưa đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác Hội trong tình hình mới.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế,
nhiều vấn đề trong nước và quốc tế đã và đang đặt ra cho công tác vận động
và tổ chức quần chúng, không chỉ của Đảng mà với tất cả các thành viên của
Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), trong đó có HLHPNVN. Ðể đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”, Ðảng ta đặc biệt coi trọng phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc, động viên sự nỗ lực vượt bậc của toàn dân, trong đó có
phụ nữ. Đổi mới NDPTHĐ để hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Hội được xem
là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Do đó, đòi hỏi Đảng và các cấp chính quyền
phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với CTPN và đổi mới NDPTHĐ của
HLHPNVN “để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng
góp lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện
BĐG” [37, tr.3]. Do vậy, nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống việc Đảng
lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN, đúc rút kinh nghiệm, phát huy
những ưu điểm, khắc phục hạn chế là vấn đề cấp thiết có ý nghĩa quyết định
đến hiệu quả hoạt động của HLHPNVN, góp phần quan trọng tăng cường xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh vững chắc trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).
của Đảng về CTPN, đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN và quá trình Đảng chỉ
đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN qua 2 giai đoạn 1996 - 2006 và 2006 2016.
-
Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, khoa học về những ưu
điểm, hạn chế và nguyên nhân của quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ
của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016.
-
Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm từ thực tiễn quá trình Đảng
lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Luận án nghiên cứu chủ trương và quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam
chỉ đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPN từ năm 1996 đến năm 2016.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN là một
khái niệm rộng, bao gồm toàn bộ những công việc liên quan đến các cấp ủy
đảng, chính quyền, các ban ngành thực hiện các hoạt động của HLHPNVN vì
sự tiến bộ, phát triển của phụ nữ và BĐG với các phương pháp, hình thức,
biện pháp tiến hành để thực hiện các nội dung hoạt động của Hội. Luận án tập
trung làm rõ chủ trương và quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới
NDPTHĐ của HLHPNVN với các vấn đề: Nâng cao vai trò của HLHPNVN
trong HTCT, từng bước xây dựng, bổ sung chính sách pháp luật về CTPN; các
Phương pháp lịch sử được sử dụng ở chương 2 và chương 3 để phân
kỳ thời gian; làm rõ hoàn cảnh lịch sử; trình bày hệ thống chủ trương, quan
điểm và sự chỉ đạo của của Đảng về đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN.
+
Phương pháp lôgic sử dụng ở chương 2, chương 3 và chương 4 để
xâu chuỗi các sự kiện, liên kết các nội dung làm rõ sự phát triển về nhận thức
và quá trình hoàn thiện chủ trương của Đảng về lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ
của HLHPNVN và khái quát những ưu điểm, hạn chế, rút ra những kinh
nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới NDPTHĐ của
HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016.
+
Phương pháp phân tích tổng hợp: Thu thập, phân tích và đánh giá các
nguồn tài liệu liên quan, gồm các văn kiện của Đảng và Nhà nước ở Trung
ương và địa phương; các công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu
về vấn đề đổi mới NDPTHĐ của các tổ chức chính trị nói chung và
HLHPNVN nói riêng.
+
Phương pháp thống kê, so sánh, đánh giá: Thống kê, so sánh kết quả
đạt được trong đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN qua các giai đoạn; đánh giá
những kết quả đạt được và hạn chế của việc đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN.
+
Góp phần hệ thống chủ trương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về
đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016.
-
Nhận xét quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới
NDPTHĐ của HLHPNVN từ năm 1996 đến năm 2016.
-
Góp phần tổng kết thực tiễn quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo đổi mới NDPTHĐ của HLHPNVN giai đoạn 1996 - 2016.
-
Các kinh nghiệm luận án đúc kết nhằm tiếp tục đổi mới NDPTHĐ
của HLHPNVN, góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng về CTPN trong
giai đoạn tiếp theo.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
-
Kết quả nghiên cứu của luận án dùng làm tài liệu tham khảo, giúp
HLHPNVN và HLHPN các cấp ở cơ sở nghiên cứu, tiếp tục đổi mới
NDPTHĐ trong giai đoạn tiếp theo.
-
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên
tác giả đã phân tích vai trò to lớn của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh
giải phóng phụ nữ, BĐG và sự tiến bộ của phụ nữ.
Cuốn sách, Quan điểm của Đảng, Nhà nước và chủ tịch Hồ Chí Minh về
phụ nữ và công tác phụ nữ [87] của HLHPNVN đã trình bày quan điểm của
Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, về quyền bình
đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ; vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của
dân tộc; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, sử dụng cán bộ nữ; về tăng
8
cường BĐG và nâng cao vị thế năng lực của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Cuốn sách, Bác Hồ với sự tiến bộ của phụ nữ [147], các tác giả Như
Quỳnh, Lê Minh Cầm và Minh Hiền đã trình bày những quan điểm, tư tưởng
tiến bộ của Bác về vấn đề giải phóng phụ nữ và sự tiến bộ của phụ nữ. Theo
Hồ Chí Minh: “Giải phóng phụ nữ là công việc của toàn Đảng, toàn xã hội và
của nhân dân, phụ nữ phải được học văn hóa, được giáo dục, đào tạo thành
những công dân XHCN. Giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực
trong sự nghiệp giải phóng của cách mạng”. Đồng thời, các tác giả đã phân
tích vai trò của phụ nữ đối với sự phát triển của đất nước; trình bày những câu
chuyện về tình thương yêu, sự quan tâm dạy bảo của Bác với chị em phụ nữ
và những kỷ niệm sâu đậm, những tình cảm tha thiết của phụ nữ dành cho
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cuốn sách, Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa [151] của Đỗ Thị Thạch đã: “Hệ thống hóa các
quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước, phương hướng xây dựng đội ngũ
nữ trí thức ở nước ta hiện nay”; khẳng định phẩm chất, trí tuệ của người phụ
nữ trong xây dựng đất nước; những yếu tố tác động đến phẩm chất, trí tuệ của
người phụ nữ; phân tích, đánh giá đặc điểm, vai trò của phụ nữ trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, đặc biệt là vai trò của đội ngũ nữ trí thức; đề
dân tộc, từ đó thấy được tầm quan trọng của công tác cán bộ nữ. Các tác giả
khẳng định: “công tác cán bộ nữ phải được quan tâm đặc biệt; phải có kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và sử dụng cán bộ nữ, tạo mọi điều kiện để
phụ nữ tham gia vào mọi hoạt động của xã hội, kể cả công tác lãnh đạo, quản
lý để phụ nữ phát huy được vai trò của mình trong xây dựng và phát triển đất
nước”. Qua đó, các tác giả đưa ra những đề xuất nhằm thực hiện tốt công tác
cán bộ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Bài viết, Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Hội Liên hiệp phụ nữ
Việt Nam - Thực trạng và những giải pháp đổi mới [74], của HLHPNVN đã
chỉ rõ: Những cơ sở khoa học, thực tiễn của mối quan hệ giữa HLHPNVN với
Đảng - tổ chức sáng lập và lãnh đạo Hội cũng như các tổ chức đoàn thể nhân
dân khác trong suốt quá trình cách mạng; quan hệ phối hợp hành động
10
với Nhà nước - cơ quan quản lý xã hội. Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích
thực trạng và đề ra những giải pháp để HLHPNVN thực hiện tốt vai trò của
mình trong giám sát và phản biện xã hội.
Bài viết, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với việc triển khai Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ XI về vấn đề phụ nữ [58], tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hòa đã khẳng định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, HLHPNVN quyết tâm cùng
toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, chủ
động xây dựng kế hoạch, triển khai những vấn đề trực tiếp, cơ bản về BĐG và
CTPN; xây dựng Báo cáo Đại hội bảo đảm quán triệt và thực hiện các nhiệm
vụ đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (CNXH). Bài viết là tài liệu tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ XI đến các cấp Hội.
Bài viết, Công tác tuyên truyền của Đảng nhằm nâng cao vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế tri thức [117], tác giả Lê Lục khẳng định:
“Thông qua công tác tuyên truyền, vận động làm thay đổi nhận thức của mỗi
Đề tài, Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ vận trong thời kỳ mới
[156] của Lê Thị Thu đã điều tra, phân tích, đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng,
vai trò nòng cốt của HLHPNVN đối với CTPN trong thời kì đổi mới; việc phát
huy vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội, các tổ
chức kinh tế thực hiện công tác vận động phụ nữ. Đề tài nhấn mạnh tầm quan
trọng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với việc nâng cao
năng lực cho phụ nữ trên nhiều phương diện. Từ đó, tác giả chỉ ra những thành
tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế và đề xuất những
phương hướng, giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác phụ vận trong công cuộc CNH, HĐH đất nước.
Kỷ yếu hội thảo khoa học, Những vấn đề lý luận về công tác phụ nữ ở
Việt Nam trong tình hình mới [100]. Các bài viết của các nhà khoa học đã bàn
luận khá sâu sắc các vấn đề lý luận về quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ nghĩa Mác- Lê nin về CTPN, các lý thuyết phát triển phụ nữ hay
những nỗ lực đổi mới theo hướng kiến tạo, phục vụ của Chính phủ, quyền con
12
người của phụ nữ, các vấn đề đặt ra liên quan đến phụ nữ và gia đình, thúc
đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, vấn đề
thực hiện BĐG, đổi mới và phát triển tổ chức HLHPNVN.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về phụ nữ và Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu chung về phụ nữ
Cuốn sách, Vai trò địa vị của người phụ nữ Việt Nam những ghi nhận
mang tính lịch sử về giới nữ và quyền nữ giới [136] của Nhà xuất bản Lao
động-Xã hội đã trình bày khái quát địa vị, nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam
trong xã hội xưa - nay và sự phát triển mang tính thời đại; những ghi nhận
sâu sắc đối với phụ nữ và phong trào phụ nữ; đề cao và khẳng định vai trò, vị
trí và sức mạnh to lớn của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng đấu
tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Công trình đã tiếp tục chứng
minh và khẳng định sự đúng đắn về chủ trương và quá trình lãnh đạo của
Đảng đối với CTPN; đồng thời, nêu bật sự cố gắng, nỗ lực, những đóng góp
to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Cuốn sách, Sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới
đất nước [195] tác giả Dương Thị Xuân đã trình bày quan điểm của Đảng và
Nhà nước về sự tiến bộ của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới; đồng thời, nêu lên
những kết quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội thời kỳ đổi mới đất nước; Tác giả khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam
không chỉ có vị trí, vai trò trong nước mà còn có vị thế quan trọng trên trường
quốc tế trong thời kì CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế”.
Cuốn sách: Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và
hội nhập quốc tế [139] của Hoàng Thị Ái Nhiên đã trình bày quan điểm của
Đảng và nhà nước về vai trò của người phụ nữ, khẳng định: “Phụ nữ tham gia
vào mọi mặt của đời sống xã hội, là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải, vật
chất và tinh thần cho xã hội. Đặc biệt, phụ nữ có vị trí hết sức quan trọng trong
gia đình với vai trò làm vợ, làm mẹ, là người thầy đầu tiên của con người”. Tác
giả nêu lên những kết quả trong các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
14
của phụ nữ Việt Nam, đồng thời, khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.
Cuốn sách, Hai mươi năm một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt
Nam (1975-1995) [65] của HLHPNVN đã trình bày những hoạt động cơ bản và
đánh giá vai trò của phụ nữ Việt Nam từ sau ngày giải phóng miền Nam thống
nhất đất nước đến những năm đầu tiến hành sự nghiệp đổi mới theo định hướng
XHCN. Qua đó, khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn
hạn chế về trình độ, ít được đào tạo chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng
tiếp cận việc làm thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao”. Công trình nghiên cứu phục vụ cho
việc đánh giá về thực hiện các mục tiêu quốc gia và cam kết quốc tế và làm cơ sở
cho việc hoạch định các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phụ nữ và trẻ
em trong thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước.
Cuốn sách, Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam
[153] tác giả Lê Thi đi sâu phân tích thực trạng việc làm và những vấn đề khó
khăn trong đời sống của phụ nữ trong quá trình chuyển đổi kinh tế thời kì đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, khẳng định: Lao động nữ Việt Nam chiếm 48% lực
lượng lao động xã hội, phần lớn là lao động giản đơn có trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ thấp, hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp nên luôn gặp khó khăn trong
tìm kiếm việc làm và nguy cơ thất nghiệp, đời sống luôn gặp khó khăn. Tác giả
cho rằng: “Để giải quyết vấn đề việc làm và đời sống cho phụ nữ, cần phải có
những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước để tạo điều kiện cho phụ nữ
phát triển kinh tế, khẳng định vai trò trong gia đình và xã hội”.
Luận án, Vai trò của nữ cán bộ quản lý Nhà nước trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa [121] của Võ Thị Mai đã nghiên cứu sâu về vấn đề giới
và vấn đề nữ cán bộ quản lý trong bộ máy Nhà nước, làm rõ thực trạng và xu
hướng biến đổi vai trò nữ cán bộ trong quá trình CNH, HĐH đất nước; phân tích
thực trạng, chỉ ra các yếu tố tác động đến vai trò của nữ cán bộ trong quản lý
Nhà nước. Luận án khẳng định: “Trong công tác cán bộ ở nước ta thời kỳ CNH,
HĐH vẫn có khoảng cách lớn về vấn đề giới, chưa đánh giá đúng tiềm năng của
phụ nữ, chưa có giải pháp quy hoạch phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng
cao một cách phù hợp”. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa
vị thế, vai trò của phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước
trước những đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
16
Luận án, Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt
17
nữ; được trao quyền, cùng với việc trau dồi về phẩm chất, năng lực thực sự
giúp phụ nữ tự khẳng định mình trong hoạt động thực tiễn. Đồng thời, phụ nữ
có điều kiện thuận lợi để phát triển tiềm năng, sức lực và trí tuệ, đóng góp
nhiều hơn cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và cho sự nghiệp BĐG.
Các bài viết: Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế đến
năm 2000 [55] tác giả Trương Mĩ Hoa; Về năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ
trong hệ thống chính trị [120] của Võ Thị Mai; Phát huy nội lực của phụ nữ
trong phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững [61] tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hòa; Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong công tác lãnh đạo,
quản lý ở nước ta hiện nay [152] của Đỗ Thị Thạch, đã khẳng định vai trò to
lớn của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; phân tích những
đóng góp của phụ nữ trong việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội và quán lý
nhà nước. Các tác giả khẳng định: “Trong thời kỳ CNH, HĐH, phụ nữ Việt
Nam đã phát huy tiềm năng trong phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là xóa đói
giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới”. Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm:
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ và phát huy tiềm
năng to lớn của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.
Công trình nghiên cứu, Nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ
nữ làm chủ ở Việt Nam: thực trạng và khuyến nghị chính sách [53] của
HAWAS, ADB, MBI, đã đánh giá thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong vai
trò lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp, kinh tế tư nhân của Việt Nam; phân tích
những thuận lợi và thách thức đối đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ
làm chủ; đánh giá tầm quan trọng của doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa do
phụ nữ làm chủ trong sự phát triển của nền kinh tế theo hướng thị trường. Từ
đó, đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và các khuyến
nghị chính sách đối với phụ nữ và doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ làm
chủ trong xây dựng và phát triển đất nước.
chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra vấn đề bất BĐG trong
phát triển kinh tế ở Việt Nam; những khó khăn của lao động nữ trong
19
vấn đề tìm kiếm việc làm. Tác giả khẳng định: “Lao động nữ Việt Nam phần
lớn có trình độ thấp, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp kém,
chưa qua đào tạo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ, lao động nữ Việt Nam đứng trước nguy cơ thất nghiệp
cao”. Qua đó, tác giả khuyến nghị Chính phủ tăng cường chính sách BĐG, bồi
dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn nghề nghiệp cho lao động nữ, phát huy
vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế.
Cuốn sách, Nghiên cứu phụ nữ, giới và gia đình [116] tác giả Nguyễn
Linh đã nghiên cứu khá cơ bản về các vấn đề phụ nữ, giới và gia đình, trình
bày sâu sắc cơ sở lý luận, khoa học và mối quan hệ giữa các vấn đề phụ nữ,
giới và gia đình; phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới,
những nhân tố tác động đến quá trình giải phóng phụ nữ, BĐG và xây dựng
gia đình XHCN. Đồng thời, cuốn sách đã đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên
nhân của thực trạng và đề ra các nhóm giải pháp để góp phần giải phóng phụ
nữ, thực hiện BĐG và xây dựng gia đình, phát huy vai trò của người phụ nữ
trong thời kì cách mạng mới.
Đề tài, Nghiên cứu định kiến giới đối với cán bộ nữ lãnh đạo các cấp
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế [50] tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã tập
trung nghiên cứu và chỉ ra: Những quan niệm, định kiến đối với phụ nữ trong
lịch sử; thực tế vấn đề thực hiện BĐG và những chính sách đối với phụ nữ trên
trên các lĩnh vực; thực trạng vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, kinh tế.
Từ đó, tác giả chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất
những phương hướng, giải pháp cơ bản để thực hiện BĐG và nâng cao vai trò
của cán bộ nữ lãnh đạo các cấp trong thời kì đổi mới, hội nhập quốc tế.
Gần đây, các tổ chức phi Chính phủ hợp tác với Việt Nam thực hiện các