ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
NGUYỄN THỊ THU HÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VINACONEX 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
NGUYỄN THỊ THU HÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VINACONEX 6
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ TIẾN LONG
HÀ NỘI - 2018
1.1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp...............................................11
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh........................................................................11
1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh.........................................................12
1.1.3. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp............................16
1.2. Các tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp..........18
1.2.1. Khả năng duy trì thị phần và mở rộng thị trường của doanh nghiệp....21
1.2.2. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm........................................................22
1.2.3. Năng lực duy trì, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp......23
1.2.4. Năng suất các yếu tố sản xuất...............................................................24
1.2.5. Khả năng thích ứng và đổi mới của doanh nghiệp................................25
1.2.6. Khả năng thu hút nguồn lực..................................................................26
1.2.7. Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp....................................26
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 26
1.3.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp.......................................................26
1.3.2. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp......................................................32
1.3.3. Các mô hình và phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp...................................................................................................36
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU...................47
2.1. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng...............................................47
2.2. Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu........................................50
CHƯƠNG 3: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
VINACONEX 6..............................................................................................52
3.1. Khái quát về công ty Vinaconex 6.........................................................52
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.........................................................52
3.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.........................54
3.1.3. Tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
Vinaconex 6.....................................................................................................55
3.1.4. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
Vinaconex 6.....................................................................................................57
3. 2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần
4.1.4. Định hướng phát triển của Công ty cổ phần Vinaconex 6...................101
4.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ
phần Vinaconex 6 trong giai đoạn tới........................................................102
4.3. Một số kiến nghị từ phía nhà nước.....................................................112
KẾT LUẬN
Phụ lục
Danh mục tài liệu tham khảo
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
TỪ VIẾT TẮT
NGUYÊN NGHĨA
NLCT
Năng lực cạnh tranh
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
TPP
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên
Thái Bình Dương
TQ
Trung Quốc
UBND
Ủy ban nhân dân
VINACONEX 6
Công ty cổ phần xây dựng số 6
WTO
Tổ chức thương mại Thế giới
i
Mô hình 5 sức mạnh của M.Porter
41
Hình 1.4
Mô phỏng ma trận cạnh tranh cơ bản
46
Hình 3.1
Tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất kinh doanh
của Công ty Vinaconex 6
55
Bảng 3.1
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty Vinaconex 6
57
Biểu 3.1
Doanh thu của Công ty cổ phần Vinaconex 6
(2013 – 2016)
61
Hình 3.2
Phối cảnh khu đô thị Vinaconex – Đại Lải
65
Bảng 3.3
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân những năm
qua
77
Bảng 3.4
Ma trận hình ảnh cạnh tranh của Công ty
Vinaconex 6
87
Bảng 3.5
Chuỗi giá trị cho hoạt động của Công ty cổ phần
Vinaconex 6
92
iii
hạn có hiệu lực của CEPT trong khuôn khổ AFTA cứ mỗi lúc một gần. Trong khi
đó, các doanh nghiệp Việt Nam lại tỏ ra chưa sẵn sàng đối mặt với những thách
thứ từ cuộc cạnh tranh gay gắt ấy. Nếu tình này vẫn tiếp tục được duy trì thì
nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam sẽ rất nghiêm trọng, nhất là trong bối
cảnh xu thế hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới đang gia tăng. Do vậy, để
tồn tại, đứng vững và phát triển, khẳng định được của mình các doanh nghiệp
phải tìm giải pháp tốt nhất để tăng cường năng lực cạnh tranh của mình trên cả
thị trường trong và ngoài nước. Vấn đề là phải làm gì và làm như thế nào để phát
huy được lợi thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của cả đất nước, tận dụng
có hiệu quả những cơ hội có được, nhất là Việt nam đã trở thành thành viên của
ASEAN, APEC, AFTA, WTO.
Công ty cổ phần xây dựng số 6 (Vinaconex 6) là một trong những doanh
nghiệp tiêu biểu của Tổng Công ty Vinaconex gắn với lĩnh vực kinh doanh xây
dựng và bất động sản tại Việt Nam. Sau hơn 25 năm xây dựng và trưởng thành,
Vinaconex 6 đã đạt được những thành tựu quan trọng trong môi trường cạnh
tranh gay gắt. Với mục tiêu trở thành doanh nghiệp mạnh trong tập đoàn,
Vinaconex 6 phải không ngừng đổi mới hoạt động kinh doanh có hiệu quả, nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh, giữ vững và mở rộng thị phần, tạo lập các yếu tố
cần và đủ trong bối cảnh hội nhập. Ngay trên sân nhà, công ty không chỉ có đối
thủ là các doanh nghiệp, các tổng công ty trong nước như Vinhome, Sungroup,
HUD, UDIC, Him Lam, Lam Cường, Sông Đà,.. mà còn có những tập đoàn kinh
tế, tài chính hùng mạnh trong cùng lĩnh vực như Gamuda Land, Kepland,
Booyoung vina, Keang Nam, Ciputra,… Cùng với định hướng mở rộng thị
trường trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản sang một số quốc gia như Lào,
Campuchia, Myama,.. để đứng vững được Công ty cổ phần xây dựng số 6
(Vinaconex 6) luôn đặt ra cho mình mục tiêu là phải nâng cao đựơc năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất
sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết
cạnh tranh của trường phái tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Các lý
3
thuyết này đã làm rõ bản chất của cạnh tranh, vai trò và tác động của cạnh tranh,
các phương thức cạnh tranh v.v. Ngoài các nhà kinh tế cổ điển và các nhà kinh
điển, các lý thuyết cạnh tranh gắn với các tên tuổi nổi tiếng của trường phái canh
tranh hoàn hảo như w.s.Jevos, A.Coumot, L.Walras, Marshall... và trường phái
canh tranh hiện đại như E.Chamberlin, J.Robinson, J.Schumpeter, R.Boyer,
M.Aglietta, Micheal Porter, Micheal Eairbank ...
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một
cách hệ thống lại được bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những năm 1980 đến
nay. Theo kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và Prescott, đến năm 1988 có rất
ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận. Còn M. E. Porter - một
chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại chỉ ra rằng cho đến năm
1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một
định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất.
Nghiên cứu NLCT của DN “lý thuyết, khung phân tích và mô hình” của tác
giả Ambastha và Momaya (2004) đã đưa ra lý thuyết về NLCT ở cấp độ DN.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, NLCT của DN chịu ảnh hưởng của các yếu tố: (1)
Nguồn lực (nguồn nhân lực, cấu trúc, văn hóa, trình độ công nghệ, tài sản của
DN); (2) Quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, quy trình
tiếp thị); (3) Hiệu suất (chi phí, giá cả, thị phần, phát triển sản phẩm mới). Tuy
nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở NLCT của DN nói chung mà chưa phân biệt về
qui mô, địa lý, lĩnh vực hoạt động. Vì thế, nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế nếu
vận dụng nghiên cứu cho DN ở những qui mô và lĩnh vực khác nhau.
Nghiên cứu của Thompson, Strickland & Gamble (2007) đã đề xuất các
Về tổng thể các công trình khoa học ở nước ngoài liên quan đến đề tài đã
trình bày nhiều về sức cạnh tranh của nền kinh tế; các chiến lược cạnh tranh
được áp dụng ở doanh nghiệp; phương pháp kinh doanh bất động sản để đạt
được hiệu quả. Những công trình này giúp tác giả đề tài có cách tiếp cận nghiên
cứu vấn đề toàn diện.
5
- Nghiên cứu trong nước:
Các nghiên cứu tại Việt Nam về NLCT của DN trong những năm gần đây
cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu và các các học giả quan tâm. Các nghiên
cứu chủ yếu tập trung vào hai hướng chính, đó là: (1) nghiên cứu về năng lực
cạnh tranh và các giải pháp nâng cao NLCT của DN trong một ngành; (2)
nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến NLCT của DN.
Một số các công trình đề cập đến năng lực cạnh tranh chung và của nền
kinh tế như: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và vấn đề tái cấu trúc nền
kinh tế” của Vũ Khoan (2012), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam” của Nguyễn Mại (2009); “Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” của Trần Sửu (2005); Nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế” của Phạm Tất Thắng
(2015).
Nguyễn Duy Hùng (2016) trong luận án Tiến sỹ "Nâng cao năng lực cạnh
tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam", Đại học Kinh tế quốc dân. Tác
giả đã vận dụng mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ của Thompson và Strickland
(2001) để xác định hệ thống 07 yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh
tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam, bao gồm yếu tố về tiềm lực tài
chính; vốn trí tuệ; chất lượng sản phẩm; trình độ công nghệ; chất lượng dịch vụ;
thương hiêu, uy tín và hoạt động xúc tiến; mạng lưới hoạt động. Luận án đã
lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố bên trong tới năng lực cạnh
tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam. Từ đó tác giả đưa ra giải pháp
trình khoa học này tập trung luận giải, phân tích nhiều vấn đề về xây dựng và
bất động sản. Trong đó có những vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh gắn
trực tiếp với Vinaconex 6 như; nhà ở cho người thu nhập thấp, đầu tư bất động
sản, chính sách đất đai. Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu chủ yếu trình bày
dưới dạng đơn lẻ, chưa có sự nhìn nhận một cách tổng quát việc nâng cao năng
lực cạnh tranh gắn với trực tiếp vấn đề xây dựng và bất động sản.
7
Luận án “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty
Vinaconex trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Văn
Hùng (2013) phân tích những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh, phân tích
thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty. Nghiên cứu cũng đưa ra một
số gợi ý nhằm phát triển thúc đẩy, hỗ trợ tăng cường năng lực cạnh tranh của
Tổng công ty. Tuy nhiên, những gợi ý trên chưa thực sự dựa trên nghiên cứu
kinh nghiệm đặc thù của đơn vị lớn, tập đoàn đa lĩnh vực cũng như có sự xem
xét sâu đối với các công ty thành viên.
Đề tài luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả năng lực cạnh tranh nhập khẩu
của Vinaconex 7” của tác giả Nguyễn Thị Hà (2015) phân tích thực trạng hiệu
quả năng lực cạnh tranh trong nhập khẩu khẩu Vinaconex 7 giai đoạn 2005 đến
nay và đưa ra các ý kiến đề xuất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả năng lực
cạnh tranh nhập khẩu trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, nghiên cứu trên vẫn
còn sơ bộ, chủ yếu đưa ra lý thuyết và các số liệu thống kê trong từng giai đoạn
của đơn vị và gắn với đặc thù hoạt động nhập khẩu.
Bài viết “Chính sách kinh tế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bất
động sản” của tác giả Đinh Thị Nga (2012) nghiên cứu và phân tích thực trạng
về năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp bất động sản trong thời gian
qua, xác định các nguyên nhân, những tồn tại tác động đến hiệu quả các yếu tố
gắn với năng lực cạnh tranh và từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm góp
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu năng lực, khả năng cạnh tranh của Vinaconex 6 với các
doanh nghiệp khác trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Vinaconex 6 trong hoạt động sản
xuất kinh doanh ở hai lĩnh vực chính là Kinh doanh xây dựng và bất động sản.
4.3. Thời gian: từ năm 2010 đến nay và định hướng đến năm 2022.
9
5. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận chung, cơ bản về cạnh tranh, năng lực
cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp;
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
Vinaconex 6, chỉ ra kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân của các hạn
chế đó.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ
phần Vinaconex 6 trong giai đoạn tới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung
luận văn gồm 4 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Vinaconex 6
Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ
phần Vinaconex 6 trong giai đoạn tới
10
mọi cách, kể cả cách tiêu cực nhất. Muốn phát huy được mặt tích cực và hạn chế
mặt tiêu cực của cạnh tranh trong cơ chế thị trường, nhà nước cần tạo lập môi
trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, ngăn ngừa và
xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Ngoài ra, người tiêu
dùng và những nhóm có liên quan trong xã hội như người lao động, các nhà
phân phối, các nhà cung ứng,… cũng cần thể hiện chính kiến và vai trò của mình
trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Khách
hàng chính là người đưa ra các quyết định có nên sử dụng sản phẩm của những
doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, vì quá coi trọng lợi nhuận mà gây ra
những tổn hại cho xã hội như gây ô nhiễm môi trường, sử dụng lao động không
đúng qui định, không chấp hành các nghĩa vụ tài chính với nhà nước như nộp
thuế thu nhập, cũng như không tuân thủ các qui định khác của pháp luật
1.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Bắt đầu từ những năm 1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên
thế giới bước vào thời kỳ bùng nổ với số lượng công trình nghiên cứu được công
bố rất lớn. Theo Thorne, các lý thuyết về năng lực cạnh tranh tập trung lại theo 3
cách tiếp cận sau: lý thuyết thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chức công
nghiệp và cạnh tranh theo kinh tế học Chamberlin.
Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
công ty dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới mặt cung,
chủ yếu quan tâm tới khâu “bán hàng” của người sản xuất – kinh doanh. Theo
cách tiếp cận này, tiêu chí đầu tiên của năng lực cạnh tranh là giá cả và do đó sự
khác biệt về giá cả của hàng hóa, dịch vụ ñược coi là tiêu chí chính để đo lường
năng lực cạnh tranh.
Lý thuyết này chưa chú trọng đúng mức về cầu hàng hóa, dịch vụ cũng như
các yếu tố môi trường kinh doanh. Theo Van Duren và các cộng sự (1991), cách
tiếp cận này dẫn tới những sai lầm cố hữu do chưa chú trọng đúng mức đến sự
khác biệt về chất lượng sản phẩm, cách tiếp thị và những dịch vụ hậu mãi của
trong kinh tế học Chamberlin đều chú trọng vào việc giải thích chiến lược (C)
13
của công ty và kết quả kinh doanh (P) trong cạnh tranh. Tuy nhiên, như đã giới
thiệu, mô hình IO bắt đầu bằng việc tập trung vào cơ cấu (S) của ngành và tiếp
theo là hành vi/chiến lược (C) và kết quả (P). Kinh tế học Chamberlin bắt đầu
thông qua việc tập trung vào năng lực đặc biệt của công ty và tiếp theo là theo
dõi tác động của sự khác biệt này vào chiến lược và kết quả kinh doanh mà công
ty theo đuổi. Cạnh tranh trong ngành dựa vào sự khác biệt của các công ty và
đây chính là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của công ty. Hơn nữa, chiến lược
của công ty làm thay đổi cơ cấu của ngành.
Cũng cần chú ý thêm là trong mô hình cạnh tranh Chamberlin, công ty vẫn
tập trung vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc xác định doanh thu
biên tế (marginal revenue) bằng với chi phí biên tế (marginal cost) như trong thị
trường cạnh tranh hoàn hảo.
Tuy nhiên, nếu thành công trong khác biệt sẽ đem lại lợi nhuận vượt mức
(excess profit). Vì vậy, chiến lược kinh doanh của công ty đóng vai trò quan
trọng thông qua việc tận dụng hiệu quả nguồn lực khác biệt của công ty. Hai là,
mô hình cạnh tranh trong kinh tế học IO và Chamberlin không đối kháng nhau
mà chúng bổ sung lẫn nhau. Cơ cấu ngành ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược tận
dụng lợi thế khác biệt của công ty trong việc xác định chiến lược cạnh tranh.
Kinh tế học IO cũng thừa nhận lợi thế khác biệt quyết định rất lớn đến chiến
lược kinh doanh mà công ty theo đuổi. Và, những lợi thế khác biệt này của công
ty chính là cơ sở cho lý thuyết nguồn lực của công ty.
Một số nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu công phu về
năng lực cạnh tranh. Chẳng hạn như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự
(2005), hoặc các tác giả người Mỹ như Henricsson và các cộng sự (2004)… đã
hệ thống hóa và phân loại các nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh tranh theo
3 loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên
do sự thay đổi về nhu cầu thị hiếu của khách hàng, hoặc do đối thủ cạnh tranh
đã cải tiến và thay đổi thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp này sẽ bị suy yếu
hoặc mất đi. Muốn tồn tại và phát triển, doanh nghiệp sẽ phải tiếp tục cạnh
15
tranh bằng cách tìm kiếm và duy trì lợi thế cạnh tranh mới. Như vậy có thể kết
luận rằng năng lực cạnh tranh chính là khả năng tìm kiếm, phát triển và duy trì
lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.3. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được
hiểu một cách thống nhất. Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý.
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ
biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch
vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Cách quan niệm
này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy
(1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM
(Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế). Cách quan niệm như vậy tương
đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong
cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách
bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu
trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách
năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về
hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh
tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh
nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm
về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, hkó có thể định