KIẾN THỨC, THỰC HÀNH và một số yếu tố ẢNH HƯỞNG đến vệ SINH TAY THƯỜNG QUY của điều DƯỠNG, hộ SINH tại một số KHOA, BỆNH VIỆN PHỤ sản TRUNG ƯƠNG - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

CÙ THU HƯỜNG

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA ĐIỀU
DƯỠNG, HỘ SINH TẠI MỘT SỐ KHOA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

CÙ THU HƯỜNG

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA
ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH TẠI MỘT SỐ KHOA,
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý Bệnh viện
Mã số



MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................................1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................................3
1.1.Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vệ sinh tay thường quy....................................3
1.1.1 . Cơ sở khoa học của vệ sinh bàn tay.................................................................4
1.1.2. Tầm quan trọng của vệ sinh tay........................................................................4
1.1.3. Nhiễm khuẩn bệnh viện....................................................................................7
1.2.Kiến thức, thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế..................10
1.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh tay ở nhân viên y tế13
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................17
2.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................17
Các điều dưỡng, hộ sinh trực tiếp chăm sóc người bệnh tại 4 khoa lâm sàng sau:
Khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Sản nhiễm khuẩn, khoa Sản bệnh lý và khoa Đẻ.
........................................................................................................................17
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn........................................................................................17
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ..........................................................................................17
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.....................................................................17
2.3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................18
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu........................................................................................18
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu......................................................................................18
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu.........................................................................18
2.3.4. Xử lý và phân tích số liệu...............................................................................20
2.3.5. Hạn chế trong nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục.......................24
2.3.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu...................................................................25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................................27
3.1. Đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu....................................................27
Đa số điều dưỡng và hộ sinh sau khi tốt nghiệp đã được đào tạo về vệ sinh bàn tay
với tỷ lệ 96,3%;..............................................................................................29
3.2. Kiến thức về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh......................29

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ vệ sinh tay ở nhân viên y tế 14
Bảng 2.1. Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu 22
Bảng 3.1. Phân bố tuổi, giới của điều dưỡng và hộ sinh 27
27
28
Bảng 3.2. Phân bố thực trạng đào tạo của điều dưỡng và hộ sinh 28
Bảng 3.3. Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh có kiến thức về 5 thời điểm vệ sinh tay thường quy
29
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số điều dưỡng, hộ sinh đều nhận thức được vai trò, tác
dụng của VSTTQ: 100% điều dưỡng và hộ sinh đều có kiến thức đúng về 5 thời điểm vệ
sinh tay thường quy. 29
Bảng 3.4.Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh có kiến thức đúng về tác dụng của vệ sinh tay
thường quy 29
Bảng 3.5. Tỷ lệ kiến thức của điều dưỡng và hộ sinh về dung dịch vệ sinh tay phù hợp
nhất 31
Bảng 3.6. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước khi tiếp xúc với người bệnh 34
Bảng 3.7. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước khi làm thủ thuật vô khuẩn 34
Bảng 3.8. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với người bệnh 34
Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh tuân thủ VST sau khi tiếp xúc với người bệnh chiếm 82,6%.
34
Bảng 3.9. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 34
Bảng 3.10. Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt xung quanh
người bệnh 35
Bảng 3.11. Tỷ lệ sử dụng phương thức vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh
36
Bảng 3.12. Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh tuân thủ đúng đủ các bước của quy trình vệ sinh
tay thường quy 36
100% điều dưỡng và hộ sinh tuân thủ bước 1 và bước 3. Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh bỏ

Hình 3.1: Phân bố trình độ chuyên môn của điều dưỡng và hộ sinh 27
Hình 3.2: Phân bố thâm niên công tác của điều dưỡng và hộ sinh 28
Hình 3.3: Phân bố điều dưỡng, hộ sinh theo đơn vị công tác của điều dưỡng và hộ sinh 28
Hình 3.4: Tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh sắp xếp đúng thứ tự các bước trong quy trình vệ sinh
tay thường quy 31
Hình 3.5: Tỷ lệ phân loại kiến thức chung về vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ
sinh 33
Hình 3.6: Thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh 37
Hình 3.7: Phân bố thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng và hộ sinh theo thời
điểm quan sát 38


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AH1N1
CDC
ĐTNC

Cúm AH1N1
Trung tâm phòng ngừa kiểm soát bệnh Hoa Kỳ
Đối tượng nghiên cứu

KSNK
MRSA

Kiểm soát nhiễm khuẩn
Tụ cầu kháng kháng sinh Methicillin

NKBV


Tổ chức Y tế Thế giới

TTRT

Tuân thủ rửa tay

BVĐK

Bệnh viện đa khoa


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV)
là các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện và
không hiện diện cũng như không có ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện.
Có nhiều tác nhân gây NKBV như nấm, vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng [1].
NKBV là một trong những thách thức và mối quan tâm rất lớn tại Việt
Nam cũng như trên toàn thế giới. Nhiều nghiên cứu cho thấy NKBV làm tăng
tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều
trị. Theo thống kê, tỷ lệ NKBV chiếm khoảng 5- 10% ở các nước phát triển và
15- 20% ở các nước đang phát triển [2].
Có nhiều yếu tố gây ảnh hưởng NKBV như: môi trường ô nhiễm, bệnh
truyền nhiễm, xử lý dụng cụ, các thủ thuật xâm lấn nhưng ô nhiễm bàn tay của
nhân viên y tế (NVYT) là một mắt xích quan trọng trong dây truyền NKBV.
TCYTTG khẳng định “Chăm sóc sạch là chăm sóc an toàn” và “Vệ sinh
tay (VST) là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa NKBV”.
Đây là giải pháp rẻ tiền nhất, dễ thực hiện và hiệu quả nhất [3].
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định VST với dung dịch sát khuẩn tay

có nghiên cứu nào đánh giá khảo sát về việc tuân thủ VST và kiến thức VST
của điều dưỡng và hộ sinh tại bệnh viện. Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố ảnh hưởng
đến vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng, hộ sinh tại một số khoa, bệnh
viện Phụ sản Trung ương” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức và thực hành vệ sinh tay thường quy của điều dưỡng,
hộ sinh tại 4 khoa lâm sàng thuộc Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2018.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành vệ sinh
tay thường quy của điều dưỡng, hộ sinh tại các khoa được nghiên cứu.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vệ sinh tay thường quy
- Bệnh viện: Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), bệnh viện là một
bộ phận của một tổ chức mang tính y học và xã hội, có chức năng đảm bảo
cho nhân dân được chăm sóc sức khỏe toàn diện cả về y tế, phòng bệnh và
chữa bệnh. Công tác điều trị ngoại trú của bệnh viện tỏa tới tận gia đình nằm
trong phạm vi quản lý của bệnh viện. Bệnh viện còn là nơi đào tạo cán bộ y tế
và nghiên cứu y sinh học.
- NKBV: Theo tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) NKBV là“các nhiễm
khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện
cũng như không có ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện”.
- Vệ sinh tay: là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng
thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ
sinh tay chứa cồn.
- Rửa tay: là rửa tay với nước và xà phòng.

sóc người bệnh, do đó bàn tay của NVYT thường xuyên tiếp xúc với da, máu,
dịch tiết sinh học, dịch tiết của người bệnh. Các vi khuẩn gây bệnh từ bệnh
nhân truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là nguồn chứa
các vi khuẩn gây bệnh tiềm năng [1]. 5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật
- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT
- Mầm bệnh sống trên da tay
- Vệ sinh tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh, đồ vật [1].


5

Trong một nghiên cứu được thực hiện trên 77 bàn tay của NVYT tại
bệnh viện Chợ Rẫy - TP. Hồ Chí Minh cho kết quả, trung bình có 267,378 vi
khuẩn/cm2 trong đó: Bàn tay bác sĩ có chứa 275,110 vi khuẩn/cm 2; bàn tay
điều dưỡng chứa 126,875 vi khuẩn/cm2 [1].
Các chủng vi khuẩn thường có trên bàn tay NVYT [10]:
+ Vi khuẩn định cư: Ít có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm
nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật, đặt catherter lòng
mạch. Cần VST bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc chlorhexidine với thời
gian đủ dài nhằm loại bỏ các vi khuẩn này.
+ Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi
bàn tay bị nhiễm bẩn từ bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh
viện trong qua trình chăm sóc và điều trị. Vi khuẩn vãng lai gồm mọi sinh vật
có mặt trong môi trường bệnh viện (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) và là thủ
phạm chính gây lên NKBV, có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng biện
pháp VSTTQ với nước và xà phòng thường hoặc chà xát tay bằng dung dịch
VST có chứa cồn.
Hiệu quả của vệ sinh tay và mối liên quan với nhiễm khuẩn bệnh viện:

những vị trí thuận lợi để NVYT thực hiện theo quy định [12]. Năm 2009, Bộ
Y tế đã ban hành Thông tư 18/2009/TT-BYT: “Hướng dẫn tổ chức thực hiện
công tác KSNK tại các cơ sở khám chữa bệnh”. Điều 1 của Thông tư quy
định: “Thầy thuốc, nhân viên y tế, học sinh, sinh viên thực tập tại các cơ sở
khám chữa bệnh phải tuân thủ VST đúng chỉ định và đúng kỹ thuật theo
hướng dẫn của Bộ Y tế. Người bệnh và người nhà người bệnh, khách đến
thăm phải VST theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh” [7].
Các thời điểm nhân viên y tế bắt buộc phải vệ sinh bàn tay bao gồm:
+ Trước khi tiếp xúc với người bệnh
+ Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
+ Sau khi tiếp xúc với người bệnh
+ Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể
+ Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh


7

Quy trình VSTTQ của NVYT với nước và xà phòng hoặc với dung dịch
sát khuẩn tay chứa cồn gồm 6 bước như hình vẽ sau:

Hình 1.1: Quy trình rửa tay thường quy
1.1.3. Nhiễm khuẩn bệnh viện
* Định nghĩa nhiễm khuẩn bệnh viện:
Theo TCYTTG, NKBV là “các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ
khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng như không có ở giai đoạn ủ
bệnh tại thời điểm nhập viện” [13].
* Tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện
a) Vi khuẩn
Vi khuẩn gây NKBV có thể từ hai nguồn gốc khác. Vi khuẩn nội sinh,
thường cư trú ở lông, tuyến mồ hôi, tuyến chất nhờn, bình thường trên da có

lây qua tiếp xúc gián tiếp (tiếp xúc với vật trung gian truyền bệnh). Nhiễm
khuẩn huyết cũng được coi là một dạng đặc biệt của lây truyền qua tiếp xúc bởi
các phương tiện dụng cụ có chứa vi khuẩn xâm nhập vào đường máu.
+ Lây qua đường giọt bắn: Khi các tác nhân gây bệnh chứa trong các
giọt nhỏ bắn ra khi người bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện bắn vào kết mạc mắt,
niêm mạc mũi, miệng của người tiếp xúc.


9

+ Lây qua đường không khí xẩy ra do các giọt bắn li ti chứa tác nhân gây
bệnh, có kích thước < 5 micromet. Những bệnh có khả năng lây truyền bằng
đường không khí như lao phổi, sởi, thủy đậu, đậu mùa, cúm, quai bị, SARS khi
có làm thủ thuật khí dung…
* Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề với người bệnh
cũng như các NVYT. Các hậu quả của NKBV bao gồm:
(a) Tăng chi phí và tăng ngày điều trị:
Tại Việt Nam, thông tin tại Đại hội Hội Kiểm soát nhiễm khuẩn Hà Nội
năm 2008 cho biết, mỗi NKBV làm kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 9,4
đến 24,3 ngày và tăng chi phí điều trị trung bình từ 2 đến 32,3 triệu đồng [16].
Đây là số tiền lớn so với mức thu nhập bình quân của người dân Việt Nam tại
thời điểm năm 2008 là 1024 USD, tương đương gần 16 triệu đồng [17].
Theo thống kê của CDC năm 2009, ước tính hàng năm Hoa Kỳ phải chi
một số tiền cho việc điều trị NKBV là từ 28 đến 48 tỷ đô la mỹ [18], cao hơn
tổng ngân sách của Việt Nam chi cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội năm
2008 (494,600 tỷ đồng) [19]. Nhiều nghiên cứu tiến hành tại các bệnh viện ở
Mỹ cho thấy, NKBV kéo dài thêm thời gian nằm viện trung bình từ 7,4 đến
9,4 ngày [19].
(b) Tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật

hiện trong khoảng từ năm 1991 đến năm 2000 cho thấy tỷ lệ tuân thủ chỉ đạt
29% đến 40% [22].
Năm 2010 nghiên cứu của Allegranzi và cộng sự tại 47 quốc gia cho thấy
tỷ lệ TTRT của mẫu nghiên cứu là 60,4% [25].
Năm 2002, tại Italia, Nonile và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiến thức,
thái độ và thực hành VST của NVYT tại các khoa hồi sức tích cực tại 24 bệnh


11

viện vùng Campania và Calabria. Kết quả cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức
đúng, tỷ lệ có thái độ tích cực về VST là 96,8%, thái độ tích cực của nhóm
NVYT có trình độ học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê
so với các nhóm khác. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ TTRT của NVYT tại thời
điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sau chăm sóc đạt 72,5% [23].
Nghiên cứu của Khaled và cộng sự thực hiện năm 2008 tại bệnh viện Đại
học Ain Shams (Cairo, Ai Cập) cho thấy điều dưỡng có kiến thức VST tốt hơn
bác sĩ nhưng các bác sĩ lại là những người tuân thủ tốt hơn (37,5%), tuy nhiên,
tỷ lệ VST đúng của họ chỉ là 11,6% [24].
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện tại một số bệnh
viện khu vực phía Bắc vào năm 2005 cho thấy tỷ lệ NVYT nhận thức về VST
chưa tốt ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ NVYT có
nhận thức tốt về VST chỉ đạt 41,2% [17].
Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư và cộng
sự thực hiện năm 2005 cho thấy: Trước can thiệp tỷ lệ tuân thủ VST của
NVYT chỉ đạt 6,3%. Sau 4 tháng tổ chức chiến dịch vận động NVYT tăng
cường VST, tỷ lệ TTRT đã tăng lên 65,7% [26].
Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hà năm 2010 về kiến thức và thực
hành vệ sinh bàn tay tại một số bệnh viện ở Hưng Yên trên đối tượng bác sỹ,
điều dưỡng và kĩ thuật viên cho thấy tỷ lệ đạt về kiến thức của nhân viên y tế

58%, tỷ lệ tuân thủ buổi sáng cao hơn buổi chiều (60,7% so với 50,3%) [15].
Nghiên cứu của Phùng Văn Thủy năm 2014 về tuân thủ VST thường quy
của NVYT tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy: số có cơ hội tuân thủ VSTTQ
chiếm 39,5% tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy cao nhất tại các thời điểm
sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết của bệnh nhân chiếm 76,4%. Có 14,8%
nhân viên y tế có thực hành VSTTQ đạt [31].


13

Nghiên cứu của Lê Thanh Hiệp, Trần Thị Xuân Thùy và cộng sự (2015)
về kiến thức và thực hành về rửa tay thường quy của điều dưỡng - hộ sinh
BVĐK Tịnh Biên cho thấy 84,4% điều dưỡng - hộ sinh có kiến thức chung
đúng về VST. 73,3% điều dưỡng, hộ sinh thực hành chung đúng về VST [32].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Hương (2017) tại bệnh viện Trung ương
Quân đội 108 cho thấy tỷ lệ học viên và nhân viên y tế bệnh viện có kiến thức
đúng về những nội dung cần vệ sinh tay đúng chiếm tỷ lệ khá cao (>95%).
Kiến thức về cách ly người bệnh và thu gom chất thải tại buồng bệnh, phòng
chống dịch khá tốt, dao động từ 96,9 - 98,8%. Kiến thức về không bẻ gập kim
tiêm hoặc đậy nắp kim tiêm sau khi sử dụng còn hạn chế (59,8%). Kiến thức
về loại bỏ chất thải sắc nhọn vào thùng ngay khi phát sinh và các chất thải
dính máu, dịch cần được cô lập ngay tại nơi phát sinh khá tốt (95,9 - 99,5%).
Kiến thức về làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ và phương tiện chăm
sóc khá tốt dao động từ 96,4 - 99,5%.
Thực hành rửa tay của nhân viên y tế và người đi học còn rất hạn chế.
Thực hành vệ sinh tay khi tiếp xúc với người bệnh lần 1 của các đối tượng
nghiên cứu còn hạn chế (12,1 - 53,4%), thực hành vệ sinh tay trước khi thực
hiện thủ thuật sạch/vô khuẩn lần 1 (12,8 - 71,5%), thực hành vệ sinh tay khi
tiếp xúc dịch cơ thể lần 1 (6 - 58,3%) [37].
1.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành vệ sinh tay ở nhân viên

- Không được yêu cầu hoặc hướng dẫn từ người có trách nhiệm.
- Không tin tưởng về hiệu quả VST trong phòng ngừa NKBV.
- Không đồng ý với quy trình VST.
- Thiếu thông tin khoa học liên quan giữa VST và NKBV.

Một số yếu tố khác:
- Thiếu các biện pháp thúc đẩy VST từ lãnh đạo khoa/bệnh viện.
- Thiếu sự quan tâm của lãnh đạo khoa/bệnh viện.
- Thiếu các biện pháp hành chính liên quan tới thực hành VST (phê bình,
khiển trách, khen thưởng).
* Pittet D. Improving compliance with hand hygiene in hospitals. Infect
Control Hosp Epidemiol 2000;21:381–6.


15

Theo nghiên cứu của Lò Thị Hà và cộng sự tại bệnh viện Việt Nam Cu
Ba năm 2013 cho thấy có 85,1% các bác sỹ, điều dưỡng đã hiểu đúng khái
niệm vệ sinh tay. Tuy nhiên, chỉ có 73,3% ĐTNC cho rằng vệ sinh tay là biện
pháp quan trọng và đơn giản nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện.
20,8% các bác sỹ, điều dưỡng có kiến thức chưa đúng về thời gian thích hợp
để vệ sinh tay. Chỉ có 48,5% ĐTNC có kiến thức đúng về vị trí vi khuẩn được
tìm thấy nhiều nhất trên bàn tay.
Các điều dưỡng có tỷ lệ kiến thức đúng về vệ sinh tay thường quy, tác chính
nhân gây NKBV và thái độ đúng về 5 thời điểm vệ sinh tay cao hơn nhiều so với
bác sỹ (p
+ Kiến thức

Yếu tố tạo điều kiện
Trang thiết bị phục vụ vệ sinh
tay

Không
tuân thủ
vệ sinh
tay

Yếu tố tăng cường và củng
cố
Quy định
Giám sát, hỗ trợ
Tập huấn

Hình 1.1: Khung lý thuyết nghiên cứu

Tăng tỉ
lệ
nhiễm
khuẩn
bệnh
viện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status