ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐÀO TUẤN LINH
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA HIỆN TƢỢNG HẠN HÁN TẠI TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐÀO TUẤN LINH
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA HIỆN TƢỢNG HẠN HÁN TẠI TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu
Mã số: Chƣơng trình đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ
HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả
Đào Tuấn Linh
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ....................................................................................................................i
Lời cảm ơn ..................................................................................................................ii
Mục lục ..................................................................................................................... iii
Danh mục từ viết tắt ................................................................................................... v
Danh mục các bảng ................................................................................................... vi
Danh mục hình .........................................................................................................vii
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................3
1.1. Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu.....................................................................3
1.2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nƣớc ..........................................9
1.2.1. Tổng quan các nghiên cứu về hạn hán trên thế giới ..............................................9
1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về hạn hán tại Việt Nam...........................................11
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............27
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu .............................................................................................27
2.2. Nội dung nghiên cứu ..............................................................................................27
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................27
2.3.1. Phƣơng pháp thu thập, phân tích, xử lí tài liệu....................................................27
2.3.2. Phƣơng pháp lựa chọn và tính toán chỉ số hạn ....................................................28
Ý nghĩa
1
BĐKH
Biến đổi khí hậu
2
BXMT
Bức xạ Mặt Trời
3
IPCC
4
K
Chỉ số khô hạn
5
KTTV
Khí tƣợng thủy văn
Bảng 2.2. Phân cấp hạn theo chỉ số SPI ........................................................................31
Bảng 2.3. Phân cấp hạn theo chỉ số K ...........................................................................32
Bảng 2.4. Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế ...38
Bảng 2.5. Diện tích, sản lƣợng một số loài cây trồng chính tại tỉnh Gia Lai ................39
Bảng 2.6. Năng suất lúa tại tỉnh Gia Lai 2006 – 2014 ..................................................39
Bảng 2.7. Diện tích gieo trồng, diện tích thu hoạch và sản lƣợng một số cây lâu năm 40
Bảng 2.8. Diện tích rừng trồng hiện có theo phân loại rừng .........................................41
Bảng 3.1. Kết quả tính toán chỉ số chuẩn hóa giáng thủy theo năm và theo mùa tại trạm
An Khê, trạm Ayunpa và trạm Pleiku ...........................................................................48
Bảng 3.2. Tổng hợp các năm và thời kỳ gió mùa Đông Bắc hạn tại trạm An Khê, trạm
Ayunpa và trạm Pleiku ..................................................................................................50
Bảng 3.3. Kết quả tính chỉ số khô hạn, mức độ khô hạn và tần suất theo năm và theo
mùa tại trạm An Khê, thời kỳ 1980 - 2016 ....................................................................53
Bảng 3.4. Kết quả tính chỉ số khô hạn, mức độ khô hạn và tần suất khô hạn theo năm
và theo mùa tại trạm Ayunpa, thời kỳ 1980 - 2016 .......................................................55
Bảng 3.5. Kết quả tính chỉ số khô hạn, mức độ khô hạn và tần suất khô hạn theo năm
và theo mùa tại trạm Pleiku, thời kỳ 1980 - 2016 .........................................................57
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp kết quả khô hạn theo năm và theo mùa theo chỉ số K tại trạm
An Khê, trạm Ayunpa, trạm Pleiku trong thời kỳ 1980 - 2016 .....................................58
Bảng 3.7. Tƣơng quan giữa chỉ số chuẩn hóa giáng thủy SPI với năng suất các loài cây
trồng trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 - 2016 ..................................................65
Bảng 3.8. Tƣơng quan giữa chỉ số khô hạn K với năng suất các loài cây trồng trên địa
bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 - 2016 .........................................................................66
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai ....................................................................33
Hình 3.1. Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm tại a) trạm An Khê; b) trạm
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu hiện nay là một vấn đề mang tính cấp bách toàn cầu cần có
sự ứng phó cần thiết từ tất cả các quốc gia trên thế giới. Những báo cáo gần đây của
Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã cho thấy biến đổi khí hậu đã ảnh
hƣớng lớn đến sản xuất, sinh hoạt và môi trƣờng của nhiều nƣớc trên thế giới.
Trong đó, Việt Nam là một trong những nƣớc chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất từ các
tác động của biến đổi khí hậu. Sự thay đổi tần suất và cƣờng độ của các hiện tƣợng
cực đoan là một trong những biểu hiện chính của biến đổi khí hậu.
Hạn hán là loại hình thiên tai phổ biến và diễn ra thƣờng xuyên. Ở Việt
Nam, hạn hán gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội. Trong
bối cảnh biến đổi khí hậu, nhiệt độ trung bình gia tăng, bốc hơi lớn, phân bố mƣa
cực đoan hơn, hạn hán có nguy cơ khốc liệt hơn, ảnh hƣởng lớn đến sản xuất nông
nghiệp. Khu vực Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Gia Lai là một trong những vùng
chịu ảnh trong khu vực. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác động của hạn hán đến
sản xuất, nhất là nông nghiệp trong những năm gần đây ở tỉnh Gia Lai còn rất hạn
chế. Do đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi và tác động của
hiện tượng hạn hán tại tỉnh Gia Lai ”, nhằm đánh giá đƣợc tình hình hạn hán của
khu vực trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang xảy ra hiện nay và những ảnh hƣởng
của nó đến sản xuất và đời sống, đồng thời đƣa ra đƣợc các kiến nghị và đề xuất
cho các giải pháp thích ứng phù hợp với hoàn cảnh.
Với các điều kiện và địa lý, khí hậu và kinh tế của tỉnh Gia Lai, có thể thấy hiện
tƣợng hạn hán có tầm ảnh hƣởng lớn đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đặc điểm và xu thế biến đổi của tình trạng khô hạn (hạn khí tƣợng) trên địa
bàn tỉnh Gia Lai trong hơn 30 năm từ 1980 – 2016 dựa trên kết quả tính toán chỉ số
chuẩn hóa giáng thủy SPI và chỉ số khô hạn K là cơ sở để đánh giá tác động của
hiện tƣợng hạn hán đến xản xuất nông nghiệp nói riêng cũng nhƣ các hoạt động
kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai nói chung, nhằm hỗ trợ cho việc cảnh báo sớm hạn
- Hạn là một thời kỳ dị thƣờng của thời tiết khô kéo dài do sự thiếu hụt giáng
thủy gây nên một sự mất cân bằng thủy văn nghiêm trọng và kéo theo những ý
nghĩa rộng hơn là sự thiếu hụt ẩm đối với việc sử dụng nƣớc của con ngƣời
- Đặc trƣng cơ bản của hạn là sự giảm khả năng cấp nƣớc trong một khoảng
thời gian nào đó và trên một khu vực nào đó
- Hạn là một khoảng thời gian, nhìn chung khoảng từ vài tháng hoặc vài năm
trong đó sự cung cấp ẩm thực tế tại một nơi nào đó thƣờng nhỏ hơn sự cung cấp ẩm
mang tính khí hậu
- Hạn là một sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nƣớc tự nhiên so với chuẩn
- Hạn là một điều kiện mà bất cứ khi nào lƣợng nƣớc dùng cho các hoạt
động của con ngƣời không thể đƣợc đáp ứng vì một lý do nào đó.
Các định nghĩa này thƣờng chƣa rõ ràng, không đƣa ra đƣợc câu trả lời định
lƣợng về “khi nào”, “bao lâu” hoặc “khắc nghiệt nhƣ thế nào” hạn sẽ xảy ra.
Đặc trưng của hạn hán
Xét riêng cho một đợt hạn thì hạn hán đƣợc đặc trƣng bởi các yếu tố sau:
3
- Đặc trƣng về không gian: Hạn có thể xảy ra trên các lãnh thổ với diện tích
rất lớn có thể lên tới hàng trăm km2, điển hình nhƣ hạn lục địa có thể xảy ra trên
phạm vi hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km2, đặc biệt là các trƣờng hợp nghiêm
trọng hạn có thể trải rộng hàng triệu km2, có khi chiếm gần nửa đại lục. Tuy nhiên
mức độ nghiêm trọng của hạn hán không giống nhau trên các vùng địa lý và có
thể trải rộng hoặc thu hẹp theo thời gian.
- Đặc trƣng về thời gian: Thời gian hạn hán là khoảng thời gian xảy ra hạn
hán trên một địa bàn nhất định. Thời gian này ngắn nhất cũng là vài tháng, hạn hán
có thể kéo dài vài năm hoặc hàng chục năm.
- Đặc trƣng về cƣờng độ: Cƣờng độ hạn hán là mức độ thiếu hụt lƣợng mƣa
hay mức độ ảnh hƣởng hạn hán kết hợp với sự thiếu hụt đó. Nó thƣờng đƣợc xác
định bởi sự lệch khỏi mức độ trung bình của các chỉ số khí hậu và liên quan mật
biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng do sự phát triển
kinh tế - xã hội ở các khu vực, các vùng chƣa có quy hoạch hợp lý hoặc quy hoạch
phát triển không phù hợp [15].
Phân loại hạn hán
Hạn hán có thể đƣợc phân loại theo nhiều cách khác nhau. Theo Tổ chức
Khí tƣợng Thế giới (WMO) hạn hán đƣợc phân ra 4 loại: hạn khí tƣợng, hạn nông
nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội.
Hạn khí tƣợng và hạn thủy văn mô tả về hiện tƣợng vật lý còn hạn nông
nghiệp và hạn kinh tế - xã hội mô tả những tác động của 2 loại hạn trên đến sản
xuất nông nghiệp đời sống kinh tế - xã hội của con ngƣời.
- Hạn khí tƣợng: Gắn liền với sự thiếu hụt nƣớc trong cán cân lƣợng
mƣa, lƣợng bốc hơi, nhất là trong trƣờng hợp liên tục mất mƣa. Ở đây lƣợng
mƣa tiêu biểu cho phần thu và lƣợng bốc hơi tiêu biểu cho phần chi của cán
cân nƣớc. Do lƣợng bốc hơi đồng biến với cƣờng độ bức xạ, nhiệt độ, tốc độ
gió và nghịch biến với độ ẩm nên hạn hán gia tăng khi nắng nhiều, nhiệt độ
cao, gió mạnh, thời tiết khô ráo.
Bên cạnh đó, các khái niệm về hạn hán khí tƣợng đƣợc đƣa ra ở mỗi vùng cụ
thể hoàn toàn khác nhau. Ở Ấn Độ, ngƣời ta xem hạn hán khí tƣợng xuất hiện khi
lƣợng mƣa theo mùa ở một vùng nào đó thấp hơn 75% so với lƣợng mƣa trung
5
bình ở vùng đó trong một thời gian dài. Ở Philipin, một địa phƣơng đƣợc coi là sẽ
có hạn hán khí tƣợng khi lƣợng mƣa thấp hơn 40% so với mức trung bình của ba
tháng liên tục và đƣợc so sánh với con số thống kê về lƣợng mƣa hàng tháng trƣớc
đây của địa phƣơng đó.
- Hạn thuỷ văn: Liên quan đến sự giảm sút dòng chảy (nƣớc mạch, nƣớc
ngầm) xuống dƣới mức xác định, đối với một thời kỳ xác định, đối với một thời kỳ
xác định của giá trị trung bình nhiều năm; khái niệm đó chỉ liên quan đến số liệu về
lƣợng nƣớc có sẵn và cƣờng độ khai thác có liên quan đến các hoạt động bình
song bộ rễ không hút đủ nƣớc bù đắp lại lƣợng bốc hơi, thoát hơi, dẫn tới suy giảm
nƣớc trong cậy
- Hạn thổ nhƣỡng: Hàm lƣợng nƣớc trong đất ít, bộ rễ không hút đƣợc nƣớc
từ đất để bù đắp lƣợng bốc hơi, thoát hơi dẫn tới mất cân bằng giữa phần thu và
7
phần chi của nƣớc trong thân, ảnh hƣởng đến hoạt động bình thƣờng của cây.
- Hạn sinh lý: Môi trƣờng đất xấu đi, cản trở hoạt động sinh lý của rễ làm
mất cân bằng nƣớc trong cây...
Ba loại hạn nêu trên có liên quan mật thiết đến nhau. Hạn khí quyển làm cho
bốc hơi từ đất và thoát hơi của cây tăng lên, dẫn đến nƣớc trong đất bị giảm. Vì
vậy, hạn khí quyển kéo dài dẫn tới hạn thổ nhƣỡng. Ngƣợc lại, hạn thổ nhƣỡng làm
trầm trọng thêm hạn khí quyển ở tầng sát mặt đất. Nếu hai loại hạn này cùng xảy ra
sẽ gây thiệt hại rất lớn cho nông nghiệp và môi trƣờng tự nhiên. Mức độ nguy hiểm
của hạn sinh lý cũng có liên quan đến hạn khí quyển và hạn thổ nhƣỡng. Khi xảy ra
hạn thổ nhƣỡng, hạn sinh lý càng thêm trầm trọng. Trong điều kiện không có lợi về
thổ nhƣỡng và độ ẩm của đất, nếu hạn khí quyển xảy ra, thoát hơi của cây trồng
tăng lên sẽ làm trầm trọng thêm hạn sinh lý. Ngƣợc lại, nếu không xảy ra hạn khí
quyển, hạn sinh lý sẽ tƣơng đối nhẹ. Cây cối hút nƣớc chủ yếu qua rễ cây nên đáng
chú ý hơn cả vẫn là hạn thổ nhƣỡng [15].
Những thiệt hại do hạn hán gây ra
Hạn hán khác với các loại thiên tai khác ở nhiều khía cạnh. Điểm đặc
trƣng của hạn hán là thƣờng tích lũy một cách chậm chạp trong một khoảng thời
gian và có thể kéo dài nhiều năm sau khi đợt hạn kết thúc. Bởi vậy việc xác định
thời gian bắt đầu và kết thúc đợt hạn rất khó khăn. Cũng do sự diễn biến tích lũy
chậm, tác động của hạn hán thƣờng khó nhận biết hơn và khi nhận biết đƣợc thì
thiệt hại đã đáng kể.
Hạn hán bao gồm hạn đất và hạn không khí có thể xảy ra đồng thời ở nhiều
quốc gia trên thế giới hay ở nhiều vùng của một quốc gia trong thời gian dài ngắn
duyên hải phía Bắc, phía Đông và phía Nam thuộc loại ẩm ƣớt hoặc bán ẩm ƣớt
Các vùng khô hạn châu Mỹ bao gồm vùng khô hạn Bắc Mỹ và vùng khô hạn
Nam Mỹ. Vùng khô hạn Bắc Mỹ tập trung ở phía Tây kinh tuyến 980T, khoảng
giữa vĩ tuyến 160B và vĩ tuyến 500B. Vùng khô hạn Nam Mỹ tập trung ở bờ tây lục
địa, từ xích đạo đến vĩ tuyến 350N. Ngoài ra còn một số vùng khô hạn khác ở Đông
Braxin, Bắc Colombia và Venezuela [15].
Mức độ hạn hán cũng khó đƣợc xác định. Nó phụ thuộc không chỉ vào thời
lƣợng, cƣờng độ, phạm vi địa lý của một giai đoạn hạn hán mà còn về nhu cầu cung
9
cấp nƣớc từ các hoạt động của con ngƣời và cho thực vật trong khu vực. Các đặc
tính cùng với quy mô tác động rộng của hạn hán khiến cho việc đánh giá tác động
của chúng lên kinh tế, xã hội và môi trƣờng vô cùng khó khăn, đôi khi là không thể,
để xác định và định lƣợng đƣợc. Mặc dù một hạn hán chỉ xảy ra trong một mùa
hoặc một năm, nhƣng tác động của nó lên xã hội có thể kéo dài tới nhiều năm.
Do tính phức tạp của hiện tƣợng này, đến nay vẫn chƣa có một phƣơng pháp
chung cho các nghiên cứu về hạn hán. Trong việc xác định, nhận dạng, giám sát và
cảnh báo hạn hán, các tác giả thƣờng sử dụng công cụ chính là các chỉ số hạn hán.
Việc theo dõi sự biến động của giá trị các chỉ số hạn hán sẽ giúp ta xác định đƣợc
sự khởi đầu, thời gian kéo dài cũng nhƣ cƣờng độ hạn. Chỉ số hạn hán là hàm của
các biến đơn nhƣ lƣợng mƣa, nhiệt độ, bốc thoát hơi, dòng chảy... hoặc là tổng hợp
của các biến.
Trong các cố gắng để định nghĩa hạn hán, rất nhiều chỉ số/hệ số hạn khác
nhau đã đƣợc phát triển và ứng dụng ở các nƣớc trên thế giới: Chỉ số ẩm Lang
(1915), Chỉ số ẩk Koppen (1918), Chỉ số ẩm De Martonne (1926), Chỉ số ẩm
Reidel (1928), Chỉ số ẩm Selianiniv (1948), Chỉ số ẩm Thornwaite (1948), Chỉ số
ẩm Ivanov (1948), Chỉ số khô Budyko (1950); Chỉ số Penma,; Chỉ số gió mùa
GMI; chỉ số mƣa chuẩn hóa SPI; Chỉ số Sazonov; Chỉ số Kiloskov (1925); Hệ số
khô; Hệ số cạn; Chỉ số Palmer (PDSI); Chỉ số độ ẩm cây trồng (CMI); Chỉ số cấp
của hệ thống giám sát, cảnh báo và dự báo hạn ở nƣớc ta [11].
1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu về hạn hán tại Việt Nam
1.2.2.1. Tác động của hạn hán đối với sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hạn hán là một thiên tai thƣờng xuyên xảy ra ở một vài vùng ít mƣa
và hay xảy ra vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc tại nhiều vùng khác nhau. Những năm qua,
Nhà nƣớc đã ƣu tiên thực hiện nhiều giải pháp phòng chống hạn hán nhờ đó đã giảm
thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra. Tuy nhiên, tình hình hạn hán diễn biến ngày càng phức
tạp, đặc biệt do biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm thiên tai hạn hán gay gắt hơn.
Có thể nêu các ví dụ điển hình về thiệt hại do hạn hán gây ra những năm gần
đây nhƣ sau:
Hạn năm 1992, hạn nặng ở miền Trung và đồng bằng Nam Bộ đã làm cho
6.000ha rừng đặc dụng ở Quảng Nam - Đà Nẵng bị cháy, 300.000ha lúa hè thu ở
Nam Bộ bị hại, mất trắng 10.000 ha. Ƣớc tính thiệt hại trên 50 tỷ đồng;
Hạn hè thu năm 1993 ở Bắc Trung Bộ, do lƣợng mƣa thiếu hụt suốt trong 7 11
8 tháng, đặc biệt là các tháng VI, VII, VIII, với nhiệt độ cao (38 – 40oC), nắng
nóng gay gắt, hạn đã xảy ra hết sức nghiêm trọng. Đồng ruộng bị nứt nẻ, lúa bị
chết, hầu hết các hồ đập bị cạn nƣớc, ngay cả nƣớc sinh hoạt cũng khó khăn. Đó là đợt
hạn hiếm thấy trong vòng 50 - 60 năm gần đây ở khu vực này, làm cho trên 26.000ha
lúa không cấy đƣợc hoặc bị chết và trên 35.000ha hạn nặng, 500ha rừng bị cháy. Thiệt
hại ƣớc tính trên 42 tỷ đồng;
Hạn Đông Xuân 1994 - 1995, hạn xảy ra gay gắt ở một số tỉnh thuộc cao
nguyên Trung Bộ, trong đó, Đắk Lắk đã bị hạn chƣa từng thấy trong 50 năm qua ảnh
hƣởng rất lớn đến cây trồng, đặc biệt là cà phê - nguồn kinh tế lớn của nhân dân địa
phƣơng, nƣớc sinh hoạt hàng ngày cũng bị thiếu nghiêm trọng. Thiệt hại cho sản xuất
khoảng 600 tỷ đồng;
Hạn đông xuân 1995 - 1996, hạn cũng đã xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi toàn
quốc. Ở trung du, miền núi Bắc Bộ diện tích bị hạn là 13.380 ha, ở đồng bằng Bắc Bộ
là 100.000 ha. Hạn xảy ra nghiêm trọng ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên;
1
Núi và trung du Bắc Bộ
56452
2
Đồng bằng Bắc Bộ
114301
3
Bắc Trung Bộ
14993
267
50872
4
Duyên hải Nam Trung Bộ
24933
3655
274846
32109
2502
8
Cả nƣớc
253988
30739
435519
70813
153074
Bị chết
Số ngƣời
thiếu
nƣớc
sinh hoạt
17066
1120000
222689
2883752
Nguồn: Nguyễn Đức Ngữ, 2002 [15]
12
Năm 2002 là một năm hạn hán nghiêm trọng trên cả nƣớc, nhất là ở vùng
Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Từ đầu năm mƣa rất ít, mãi đến
tháng 8 vẫn tiếp tục nắng nóng, ít mƣa trên các tỉnh ven biển Trung Bộ từ Quảng
Bình đến Bình Thuận và trên 2 tỉnh Tây Nguyên là Gia Lai và Đắk Lắc, làm cho
hầu hết các hồ nƣớc ở khu vực này bị khô kiệt;
Những tháng trƣớc thời kỳ gió mùa Tây Nam năm 2003, hạn hán bao trùm
hầu khắp Tây Nguyên, gây thiệt hại cho khoảng 300 ha lúa ở Kon Tum, 3.000 ha
lúa ở Gia Lai và 50.000 ha đất canh tác ở Đắk Lắc; thiếu nƣớc cấp cho sinh hoạt
của 100.000 hộ dân. Hạn hán còn tạo điều kiện để một số loại sâu bệnh phát triển
trong điều kiện thiếu nƣớc và khi cây trồng giảm sức đề kháng làm giảm năng suất
và chất lƣợng nông sản. Bên cạnh đó, trong điều kiện khô hạn cũng phát sinh nhiều
loại côn trùng phá hoại mùa màng nhƣ châu chấu…
Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng bị ảnh hƣởng đáng kể bởi hạn hán.
Nguồn thức ăn, nƣớc uống không cung cấp đủ và chất lƣợng nƣớc không đảm bảo
làm vật nuôi chậm lớn, bệnh tật và giảm sức sản xuất của vật nuôi. Nếu tình trạng
hạn hán gay gắt xảy ra, các dòng sông, suối trở nên khô cạn, các cánh đồng cỏ khô
héo sẽ làm gia súc ăn cỏ nhƣ bò, trâu, ngựa… bị thiếu thức ăn, nƣớc uống và có thể
chết hàng loạt.
Hạn hán thiếu nƣớc năm 2004 - 2005 xảy ra trên diện rộng nhƣng không
nghiêm trọng nhƣ năm 1997-1998. Ở Bắc Bộ, mực nƣớc sông Hồng tại Hà Nội vào
hại là 20,3 tỷ đồng; Diện tích cây tiêu thiệt hại là 36,3 tỷ đồng; Diện tích cà phê
thiệt hại là 206,1 tỷ đồng; Diện tích rau màu thiệt hại 0,8 tỷ đồng.
Năm 2014: Tổng diện tích bị hạn trong vụ Mùa 2014 là 9461,7 ha trong đó
diện tích mất trắng: 8.968,4 ha, diện tích giảm năng suất từ 30% đến 70% là 493,3
ha, ƣớc giá trị thiệt hại do hạn hán gây ra là 25,369 tỷ đồng
Năm 2015: Diện tích cây trồng bị thiệt hại là 12.803,81 ha, Ứơc tính giá trị
thiệt hại khoảng 176,68 tỷ đồng, trong đó:
- Thiệt hại trong vụ Đông Xuân 2014-2015 là 9.845,19 ha cây trồng. Ƣớc
tính giá trị thiệt hại khoảng 141,213 tỷ đồng.
- Thiệt hại trong vụ Mùa 2015 là 2.958,62 ha cây trồng. Ƣớc giá trị thiệt hại
khoảng 35,468 tỷ đồng
- Ƣớc thiệt hại khoảng 841,24 tỷ đồng
14
Sản xuất vụ Đông Xuân 2015-2016 trong điều kiện nắng nóng kéo dài, nền
nhiệt độ tăng cao, thiếu hụt về lƣợng mƣa và dòng chảy trên sông suối trong năm
2015 và các tháng đầu năm 2016 do ảnh hƣởng của hiện tƣợng El Nino có cƣờng
độ mạnh và thời gian kéo dài kỷ lục trong 60 năm qua, từ tháng 01 đến đầu tháng 4
năm 2016 hầu hết các địa phƣơng trong tỉnh không mƣa, dẫn đến tình trạng khô
hạn và thiếu nƣớc vụ Đông Xuân xảy ra càng gay gắt. Tình trạng hạn hán, thiếu
nƣớc xảy ra nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh. Tính đến ngày 30/5/2016 tổng diện tích
cây trồng bị hạn trên địa bàn tỉnh là: 30.556,1 ha, trong đó:
- Lúa thuần bị hạn 6.229,7 ha (mất trắng 4.121,1 ha, giảm năng suất từ 30% 70% là 2.096,9 ha, giảm năng suất dƣới 30% là 11,7 ha); Lúa lai bị hạn 110,9 ha
(mất trắng 71 ha, giảm năng suất từ 30% - 70% l à 39,9 ha).
- Ngô, rau và cây hàng năm các loại bị hạn 11.467,8 ha, trong đó mất trắng 963,1
ha, giảm năng suất từ 30% - 70% là 10.373,0 ha, giảm năng suất dƣới 30% là 131,7 ha.
- Diện tích cây công nghiệp lâu năm 12.747,7 ha, trong đó:
+ Cà phê 10.573,3 ha (mất trắng 855,3 ha, giảm năng suất từ 30-70% là
7.935,4 ha, giảm năng suất dƣới 30% là 1.782,6 ha;
1963/1964
Bắt đầu
7/1963
Kết thúc
2/1964
2
1965/1966
6/1965
3
1968/1969
4
Số TT
Đợt El Nino
1
Thời gian
kéo dài
2/1970
5
0,8
11/1969
5
1972/1973
5/1972
4/1974
11
2,1
12/1973
6
1976/1977
9/1976
3/1977
14
2,3
12/1982
1/1983
9
1986/1988
8/1986
3/1988
19
1,6
8,9/1987
10
1991/1992
5/1991
8/1992
15
11,12/1997
13
2002/2003
5/2002
4/2003
11
1,5
11/2002
14
2004/2005
6/2004
3/2005
9
0,9
9/2004
2015-2016
11/2014
5/2016
19
2,3
12/2015
Ghi chú: Các đợt gạch dưới là các đợt El Nino mạnh
Nguồn: [15]
Nguyễn Đức Ngữ trong công trình“Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt
Nam” đã phân loại các chỉ số khô hạn năm, chỉ số khô hạn tháng và trên cơ sở các
16