1 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
MỤC LỤC
2 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
MỞ ĐẦU
Nguyên tắc là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và
áp dụng các quy phạm pháp luật Dân sự vào trong thực tế.Nếu như nguyên tắc cơ bản
trong Bộ luật Dân sự năm 2005 được quy định tại một chương với 12 điều (Chương II,
từ điều 4 đến điều 12); đến Bộ luật Dân sự năm 2015, các nguyên tắc cơ bản này đã
được đưa vào thành 1 điều luật (Điều 3) với các khoản luật ngắn gọn, súc tích, rõ ràng.
Đây là một trong những thành công của việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự 2005
(nay là Bộ luật Dân sự 2015).
Và để làm rõ hơn về một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, em
xin lựa chọn phân tích đề tài số 1 với nội dung: “Phân tích nội dung của một trong
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Chứng minh sự biểu hiện của nguyên
tắc cơ bản đó trong các quy định cụ thể”
3 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
NỘI DUNG
1. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong pháp luật dân sự
1.1. Khái niệm nguyên tắc
Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng
của pháp luật dân sự. Pháp luật được đề ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội, để duy trì
sự an ninh trật tự của một quốc gia nhưng luật không cứng nhắc mà nó rất linh động.
Điều này thể hiện rất rõ qua pháp luật dân sự và qua ý chí của các nhà làm luật.
Pháp luật có giá trị pháp lý đối với toàn bộ lãnh thổ, nó áp đặt nhưng vẫn chừa
tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Để quyền con người, quyền
công dân được thực hiện thì trước hết phải bảo đảm cho mọi người có quyền tự do,
trong đó quyền tự do trong lĩnh vực dân sự. Đây cũng là nguyên tắc mang tính đặc thù
của Bộ luật Dân sự.
Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kêt, thỏa thuận được cụ thể hóa tại Khoản 2
Điều 3 BLDS 2015 như sau:
“Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của
mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không
vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các
bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”
Nội dung của nguyên tắc này, trước hết bao gồm hai quyền mà cá nhân, pháp
nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đó là quyền tự do cam kết thỏa thuận và
quyền tự nguyện cam kết thỏa thuận khi tham gia các giao dịch dân sự. Quyền tự do
cam kết, thỏa thuận thể hiện ở chỗ, các bên tham gia giao dịch dân sự được quyền lựa
chọn tham gia hay không tham gia, không ai được cản trở, ngăn cản. Mọi cam kết thỏa
thuận hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Quyền tự nguyện cam kết, thỏa thuận thể hiện
sự tự do ý chí của cá nhân, pháp nhân trong việc tham gia các giao dịch dân sự. Cá
nhân, pháp nhân thực sự bày tỏ mong muốn của mình tham gia giao dịch dân sự. Các
bên không được ép buộc hoặc dùng bất cứ các thủ đoạn nào nhằm buộc bên kia cam
kết, thỏa thuận trái với ý chí của họ. Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện
của các bên có thể bị tuyên bố là vô hiệu.
Nguyên tắc này còn chỉ rõ một nội dung rất quan trọng là cá nhân, pháp nhân có
quyền cam kết, thỏa thuận những giao dịch dân sự khi những giao dịch này không vi
phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Điều cấm của luật có thể là
những việc luật không cho phép làm hoặc những việc luật buộc phải làm nhưng không
làm. Những điều này là những chuẩn mực pháp lý mà Bộ luật Dân sự buộc cá nhân,
pháp nhân phải xử sự theo các chuẩn mực này khi thực hiện các giao dịch dân sự.
Không trái với đạo đức xã hội là không được trái với phong tục, tập quán, thuần phong
mỹ tục tốt đẹp đã được hình thành trong cuộc sống, phù hợp với sự phát triển của xã
hội chúng ta. Như vậy cá nhân, pháp nhân có quyền cam kết, thỏa thuận những giao
Con người cần có tự do nhưng mọi sự cần có giới hạn. Montesquieu đã khẳng
định rằng "Trong một nước có pháp luật, tự do chỉ có thể là được làm những cái nên
làm”.2 Điều này đã phần nào cho thấy, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
thuận cần có những giới hạn nhất định.
2 http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/387.
6 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một giá trị cần được ghi nhận
trong những văn bản quan trọng ở các xã hội văn minh và phát triển. Tuy nhiên, tự do
này chỉ là tương đối; không một hệ thống nào ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện
cam kết, thỏa thuận một cách tuyệt đối. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
thuận nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện cho con người, cho xã hội phát triển nhưng trong
nhiều trường hợp, vì lợi ích cao hơn mà nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
thuận cần được giới hạn. Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được ghi
nhận để tạo điều kiện cho các chủ thể trong giao lưu dân sự nhưng những chủ thể này
tồn tại trong một xã hội nên cần phải cân đối với quyền lợi của người khác, của xã hội.
Ngày nay, BLDS cũng đưa ra giới hạn là nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết,
thỏa thuận nhưng "không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”
(Điều 4) và Điều 117 BLDS 2015 quy định rằng:
“Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội”.
Tuy nhiên, giới hạn đối với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận cần
được hạn chế. Nếu giới hạn cho nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được
đưa ra quá tùy tiện, bị lạm dụng thì nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận
không còn nhiều ý nghĩa. "Mục đích của luật pháp không phải là loại bỏ và hạn chế tự
do, mà là bảo vệ và phát triển tự do” nên, đến lượt giới hạn đối với nguyên tắc tự do,
tự nguyện cam kết, thỏa thuận cũng cần bị giới hạn, cần được hạn chế; chính giới hạn
này sẽ giúp nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận (một quyền cơ bản của
thể:
2.1. Quy định về tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân
sự
Điều 117 BLDS 2015 quy định về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với
giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
trong trường hợp luật có quy định”.
- Thứ nhất: Chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân suwjChur thể
của giao dịch là những người tham gia diao dịch là cá hân và pháp nhân và các chủ thể
khác. Cá nhân tham gia giao dịch phải là người đã thành niên, người không bị mất
năng lực hành vi dân sự, không phải là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ
hành vi, không pahri là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có quyền xác lập
và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quân hệ giao dịch do mình xác
lập. Những giao dịch dân sự do những người này xác lập có hiệu lực pháp luật.
3 http://baobinhduong.vn/cac-nguyen-tac-co-ban-cua-bo-luat-dan-su-2015-a148432.html.
8 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
Những cá nhân chưa thành niên, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân
có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc cá nhân bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự thì do người đại diện của người đó xác lập.
Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 125 BLDS cũng quy định một số trường hợp cá biệt
khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch đó không bị xác định là vô hiệu.
9 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
Pháp luật dân sự, thương mại và lao động chỉ quy định điều kiện các chủ thể
được quyền giao kết các loại hợp đồng: đối với cá nhân phải có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi (Chương III BLDS 2015); đại diện của pháp nhân (Điều 85 BLDS
2015), thương nhân (khoản 1, Điều 6 Luật TM 2018). Hệ thống pháp luật hiện hành
không quy định cá nhân nào, pháp nhân nào, hay thương nhân nào, người sử dụng lao
động hay người lao động nào được quyền GKHĐ với nhau. Đây chính là sự thể hiện
tôn trọng quyền được lựa chọn đối tác GKHĐ cho các CTKD.
Trong thực tiễn thì quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ giữa các bên được thực
hiện khá phổ biến, rộng rãi, các bên GKHĐ đều nhận thức đầy đủ và thực hiện tốt về
quyền năng này trong phạm vi có thể, thể hiện rõ nhất là:
(i) Các bên lợi thế trong hợp đồng sẽ có sự lựa chọn đối tác yếu thế hơn để lấn át
ý chí khi GKHĐ với mục đích tìm lợi ích cao nhất trong quá trình thực hiện hợp đồng
với đối tác đó. Ví dụ như hành vi của thương nhân mua ép giá nông dân, ngư dân đối
với hàng nông sản hoặc hải sản khi trúng mùa;
(ii) Một thương nhân xuất khẩu hàng may mặc được tự do lựa chọn một đối tác
sản xuất, gia công hàng may mặc có uy tín về chất lượng để GKHĐ gia công hàng
may mặc xuất khẩu.
Tự do thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng
Quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng là quyền hết sức cơ bản của quyền
TDKD vì đây là yếu tố cơ bản nhất tác động đến lợi ích của các bên GKHĐ. Các bên
hoàn toàn có quyền lựa chọn đối tượng hàng hóa để mua bán hoặc dịch vụ để cung
cấp, thỏa thuận giá cả, cách tính giá, phương thức thanh toán; điều kiện giao nhận
hàng, vận chuyển, đóng gói bao bì và các nội dung khác trong hợp đồng trên cơ sở
đảm bảo hài hòa quyền và lợi ích của hai bên. Để đảm bảo quyền và lợi ích của các
bên khi thực hiện quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng, BLDS, Luật TM, Bộ luật
Hàng hải, BLLĐ cũng như các văn bản pháp quy hướng dẫn đều có những quy định về
nội dung của hợp đồng theo hướng các chủ thể phải thỏa thuận đầy đủ các điều khoản
sửa đổi hợp đồng:
“1. Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng.
2. Hợp đồng có thể được sửa đổi theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này.
3. Hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu”
Quyền tự do này được các CTKD lựa chọn theo thực tiễn của quá trình thực hiện
hợp đồng: bổ sung hợp đồng, thay đổi một phần nội dung hợp đồng, chấm dứt không
tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Tự do thỏa thuận các điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng
Điều kiện đảm bảo thực hiện hợp đồng là một trong các nội dung cơ bản để quyết
định sự thành công của hợp đồng, đảm bảo các quyền nghĩa vụ của hợp đồng được
thực hiện bằng một giao dịch thế chấp tài sản, hoặc giao dịch bảo đảm thanh toán của
tổ chức tín dụng, hoặc một bên thứ ba bằng một tài sản là bất động sản hay một nguồn
tiền từ một tài khoản ngân hàng; điều kiện đảm bảo thực hiện hợp đồng có ý nghĩa rất
11 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
quan trọng liên quan mật thiết đối với trách nhiệm tài chính hữu hạn phát sinh trong
một hợp đồng.
Pháp luật dân sự đã đảm bảo quyền tự do thỏa thuận các điều kiện đảm bảo để
thực hiện hợp đồng bằng các quy định tại mục 3 Phần thứ 3 của BLDS 2015.
Trên thực tiễn hiện nay, tình trạng đăng ký vốn ảo trên giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp đã gây nên tâm lý bất an của các đối tác trong nghĩa vụ thanh toán cho
các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có giá trị lớn. Đồng thời, sự bất cập
của Luật Nhà ở quy định thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu tài sản là nhà ở từ người
bán sang người mua là sau khi công chứng xong và BLDS lại quy định thời điểm
chuyển dịch quyền sở hữu tài sản là nhà ở từ người bán sang người mua là sau khi
đăng bộ xong (căn nhà trên đất đã xác định quyền chủ sở hữu đối với người mua khi
công chứng xong, nhưng diện tích đất người mua được xác định là có quyền sử dụng
đất ở lại là khi hoàn thành thủ tục đăng bộ xong) đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
13 BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT DÂN SỰ HP1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập I, Nxb. Công an
2.
3.
4.
5.
Nhân dân, Hà Nội, 2016;
Bộ luật Dân sự 2005;
Bộ luật Dân sự 2015;
Luật Thương mại 2018;
Các link đã truy cập:
https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t3268-nguyen-tac-tu-do-thao-thuan-trong-phap-luatdan-su.
http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/387.
http://baobinhduong.vn/cac-nguyen-tac-co-ban-cua-bo-luat-dan-su-2015a148432.html.