ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------***----------
VŨ MINH CHÂU
NHÂN VẬT THẦN – TIÊN TRONG
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
HÀ NỘI – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------***----------
VŨ MINH CHÂU
NHÂN VẬT THẦN – TIÊN TRONG
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60.22.01.25
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Việt Hƣơng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chí Anh (1999), Lý thuyết vũ trụ song song và các cõi giới tôn giáo”, Tạp chí
nghiên cứu Phật học (4+5).
2. Phạm Tuấn Anh (2008), “Một số vấn đề lý luận về nghiên cứu cấu trúc truyện cổ
tích thần kỳ”, Tạp chí nghiên cứu Văn học (12), tr.67-75.
3. Hà Châu (1971), “Từ nhân vật truyện cổ tích thần kỳ đến nhân vật truyện cƣời”,
Tạp chí Văn học (5), tr.48-56.
4. Nông Quốc Chấn, Phan Đăng Nhật (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, tập I –
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
5. Nguyễn Đổng Chi sƣu tầm và biên soạn (1858 – 1982), Kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam, 5 tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Nguyễn Đổng Chi (1972), “Nghiên cứu truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích
Việt Nam”, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I. H, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
7. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, quyển I, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
8. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, quyển II, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
9. David Sanfford – Clark (2002), Freud đã thực sự nói gì, Lê Văn Luyện, Huyền
Giang dịch, Nxb Thế giới.
10. Chu Xuân Diên (1987), Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học, Nxb Khoa
học Xã hội.
11. Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (2001), Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam (Phần
truyện cổ tích ngƣời Việt), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
12. Nguyễn Thị Bích Dung (2010), Thế giới nhân vật trong Liêu trai chí dị của Bồ
Tùng Linh, Cục xuất bản Công an nhân dân.
27 Nguyễn Thị Huế (chủ biên) và Trần Thị An (2004), Tổng tập văn học dân gian
người Việt, tập 6 – truyện cổ tích thần kỳ, Nxb Khoa học xã hội.
28. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1962), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
29. Đinh Gia Khánh (1968), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua
truyện Tấm Cám, tái bản, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
30. Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian, tập 1, Nxb
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
31. Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1998), Văn học
dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
32. Đinh Gia Khánh chủ biên (2001), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục ,
Hà Nội.
33. Đặng Văn Lung, Võ Thị Hảo (1997), Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam –
Tuyển chọn một số công trình, tập 2, Nxb Văn hóa dân tộc.
34. Hoàng Minh Lƣờng (2001), Quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ
truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà
Nội.
35.Trần Bình Minh (2000), Những tương đồng giữa các lễ hội cổ truyền Đông Nam
Á, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội.
36. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2005), Tổng tập văn học dân gian người Việt,
Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội.
37. Tăng Kim Ngân (1997), Cổ tích thần kỳ người Việt: Đặc điểm cấu tạo cốt
truyện, Nxb Khoa học xã hội.
38. Trần Đức Ngôn (1991), “Lý thuyết hình thái học của V.Ia.Prốp và truyện cổ tích
thần kỳ của ngƣời Việt”, Tạp chí Văn hóa dân gian (3), tr.12-15.
39. Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Lý Hữu Tấn, Hoàng
Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Trí Viễn (1961), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam,
tập 1: Văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Diên, Phạm Lan Hƣơng, Nguyễn Kim Loan, Phạm Bích Ngọc, Trần Minh Tâm, Đỗ
Đức Thịnh, Đỗ Lai Thúy, Phan Ngọc dịch, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí văn hóa
nghệ thuật xuất bản, Hà Nội.
56. Vladimir Iakovlervits Propp (2005), Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 2, Chu Xuân
Diên, Nguyễn Quang Lê, Nguyễn Kim Loan, Phạm Bích Ngọc, Trần Minh Tâm, Đỗ
Đức Thịnh, Đỗ Lai Thúy, Phan Ngọc dịch, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí văn hóa
nghệ thuật xuất bản, Hà Nội.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian, truyện cổ tích đƣợc coi
nhƣ là sản phẩm của trí tƣởng tƣợng phong phú của nhân dân, yếu tố tƣởng tƣợng,
kỳ ảo tạo nên một đặc trƣng nổi bật trong phƣơng thức phản ánh hiện thực và ƣớc
mơ của thể loại này.
Sở dĩ truyện cổ tích có sức hấp dẫn kỳ lạ, phong phú là vì nó đƣợc xây dựng
bằng trí tƣởng tƣợng bay bổng, diệu kỳ, chuyên chở những quan niệm thẩm mỹ,
khát vọng lớn lao nhƣng vẫn thấm đậm chất liệu đời sống xã hội Việt Nam cổ, là
biểu tƣợng nghệ thuật của cái hiền hòa, nhân ái hay tính chuẩn mực trong quan
niệm, tâm lý dân tộc v.v… Vì thế, từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, ở nƣớc ta, truyện
cổ tích Việt Nam rất đƣợc các nhà nghiên cứu chú ý.
Khoa học nghiên cứu Văn học dân gian nói chung, truyện cổ tích Việt Nam nói
riêng đã đạt đƣợc rất nhiều thành tựu về lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Tuy
nhiên các nghiên cứu tƣờng tận một thể loại, một kiểu nhân vật cụ thể còn chƣa
thực sự phong phú. Số lƣợng các truyện cổ dân gian đƣợc nghiên cứu nhiều nhƣng
việc xem xét nó từ góc độ văn hóa dân gian còn chƣa đƣợc chú ý nhiều. Vấn đề
nghiên cứu, tìm hiểu nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam đã có một
số công trình nghiên cứu văn học dân gian đề cập đến, song các công trình nghiên
cứu chuyên biệt, mô tả nhân vật một cách tổng thể, hệ thống, chuyên biệt còn chƣa
nhiều. Việc khảo sát, phân loại, chỉ ra đặc điểm, chức năng, giá trị văn hóa của thế
gian quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Ngay từ thời Bắc thuộc đã có những viên đô
hộ ghi chép một số truyện cổ của ngƣời Việt, nhƣ sách giáo khoa Giao Châu ký của
Triệu Công và Tăng Cổn, sách Lĩnh biểu lục dị của Lƣu Tuân đề sống vào đời
Đƣờng. Họ ghi chép một số ít truyện, do tính hiếu kỳ hơn là do ý muốn sƣu tầm [7].
Đến đời Lý, Trần, một số ngƣời bắt đầu sƣu tầm thần thoại, thần tích và
truyện cổ tích của dân tộc. Sở dĩ, họ sƣu tầm truyện cổ tích, thần thoại nhà nƣớc là
vì mục đích đi tìm tài liệu bổ sung cho lịch sử, nhất là giai đoạn khuyết sử, với ý
muốn tìm về cuội nguồn dân tộc, nhiều hơn là nhằm bảo tồn văn học dân gian.
Trong số những loại sách này có Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam
chích quái của Trần Tế Pháp [7].
2
Vào khoảng cuối nhà Lê đầu nhà Nguyễn có nhiều sách vở xuất hiện, trong
đó có loại chữ bằng Hán văn. Loại sách này có ghi chép ít hay nhiều những truyền
thuyết cổ tích lƣu hành trong dân gian. Có thể đếm đƣợc những quyển nhƣ Công dư
tiếp ký của Vũ Phƣơng Đề, Truyền văn tân lục của Nguyễn Diễn Trai, Lan trì kiến
văn lục của Vũ Nguyên Hanh (tức Vũ Trinh), Sơn cư tạp thuật của Bùi Huy Bích
(?), Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Tân truyền kỳ mạn
lục của Phạm Quý Thích, Thoái thực ký văn của Trƣơng Quốc Dụng v.v… [7] Số
truyện do nhà nho thu góp trong sách trên, hầu hết là những truyền thuyết hoang
đƣờng hoặc những truyện cổ lịch sử. Động cơ của những ngƣời ghi chép, cóp nhặt
thì vẫn thế, vẫn không phải có ý thức sƣu tầm văn học mà chỉ là tìm tòi tài liệu cho
lịch sử, hay là lƣu lại một sự việc chƣa rõ căn nguyên.
Lịch sử ngành nghiên cứu truyện kể dân gian thế giới đã có bề dày ngót 200
năm, còn ở Việt Nam thì có lẽ phải đến những năm 60 đầu những năm 70 của thế
kỷ này với sự xuất hiện của các công trình sƣu tập truyện cổ tích nhƣ Kho tàng
truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1958 - 1982 của
Nguyễn Đổng Chi; Tổng tập văn học các dân tộc ít người Việt Nam, tập 2- truyện
chức năng của nhân vật hành động phát triển (ở Việt Nam, cuốn này nằm trong tập
Tuyển tập V.Ia.Propp, tập I, NXB Văn hóa dân tộc - Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
xuất bản, Hà Nội, 2003).
Sau Hình thái học truyện cổ tích, V.Ia.Propp tiếp tục công việc nghiên cứu
của mình bằng công trình Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ nhƣng
theo một hƣớng mới là truy tìm chìa khóa dẫn tới nguồn gốc lịch sử của các câu
chuyện cổ tích (ở Việt Nam, cuốn này nằm trong Tuyển tập V.Ia.Propp, tập II, NXB
Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật xuất bản, Hà Nội, 2005).
Ở châu Á, cụ thể là ở miền Nam Trung Quốc, một trong những tác giả đề cập
đến vấn đề nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ sớm nhất phải kể tới Đoàn Thành
Thức đời Đƣờng với cuốn: Đậu dương tạp trở, bao gồm những motif truyện giống
nhƣ kiểu Cô Lọ Lem. Sau này, các nhà nghiên cứu Trung Quốc nhƣ Đƣờng Tiểu
Thi với bài viết Khảo sát type truyện Cô Lọ Lem của miền Nam Trung Quốc, Tạp
chí nghiên cứu Văn học, số 8/2007…, [45] đã có trong tay 70 bản kể về type truyện
Cô Lọ Lem của Trung Quốc.
4
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả trên hầu nhƣ mới
đề cập đến truyện cổ tích dƣới các góc độ nhƣ: đề tài, motif, cốt truyện; hành động,
nguồn gốc, chức năng của nhân vật v.v…Nếu các nhà nghiên cứu có phân loại
truyện cổ tích theo hƣớng phân tích cấu trúc cốt truyện thì các ý kiến đƣa ra cũng
chƣa hoàn toàn thống nhất bởi vì họ chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung về việc xác định
“đơn vị cơ bản” cấu tạo nên cốt truyện.
Phần lớn các công trình nghiên cứu đó đều khẳng định trong truyện cổ tích
luôn tồn tại nhiều dạng thức không gian khác nhau, sự chuyển đổi phi cản trở giữa
các loại hình không gian thông qua chuyến du hành của các nhân vật truyện cổ tích.
Việc tìm hiểu nhân vật kỳ ảo nói chung, nhân vật Thần - Tiên trong truyện cổ tích
nói riêng chƣa đƣợc nghiên cứu một cách thấu đáo dƣới các góc độ: nguồn gốc, tính
Propp trong Cổ tích thần kì người Việt- đặc điểm cốt truyện (1994) [35].
Loại phƣơng pháp thứ ba đƣợc các nhà văn học dân gian áp dụng trong lĩnh
vực nghiên cứu là thi pháp học trên cơ sở so sánh văn học viết và văn học dân gian.
Trƣớc hết, Hoàng Tiến Tựu với công trình Bình giảng truyện dân gian (1996) đã
tiến hành bình một số truyền thuyết, truyện cổ tích tiêu biểu [51]. Năm 2010,
Nguyễn Định với Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở
Nam Trung Bộ đã tiến hành thống kê và lí giải về yếu tố thần kì trong truyền thuyết
và truyện cổ tích của ngƣời Việt ở khu vực này [17]. Đến năm 2011, Nguyễn Xuân
Đức đã đóng góp cho làng nghiên cứu khoa học về truyện cổ tích công trình Thi
pháp truyện cổ tích thần kì người Việt. Công trình này chủ yếu đề cập đến những
đặc điểm thi pháp của truyện cổ tích thần kì ngƣời Việt trong quan hệ đối sánh với
văn học viết là chủ yếu [19]. Công trình Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
của Nguyễn Xuân Đức vào năm 2011 cũng có nhiều đóng góp về mặt thi pháp văn
học dân gian nói chung và thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích nói riêng. Công
trình đã đề cập nhiều vấn đề nhƣ tiêu chí phân loại thần thoại, truyền thuyết và
truyện cổ tích dựa theo chức năng, đặc trƣng thi pháp của chúng [20].
Ngoài ba phƣơng pháp trên, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng phƣơng pháp
cấu trúc - chức năng để nghiên cứu truyện cổ tích. Đặc biệt, nhà nghiên cứu Chu
Xuân Diên với chuyên luận Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học (1989) đã
từng bƣớc khái quát các trào lƣu nghiên cứu truyện cổ tích của các nhà folklore thế
6
giới và Việt Nam nhằm tiến tới khẳng định một cách nhìn toàn diện về lịch sử
nghiên cứu và phân loại truyện cổ tích. Trong chuyên luận này, tác giả đi vào các
vấn đề cơ bản của thể loại này nhƣ khái niệm, vấn đề nguồn gốc và nghiên cứu lịch
sử truyện cổ tích, mối quan hệ của truyện cổ tích với hiện thực và việc nghiên cứu
thi pháp truyện cổ tích [10].
Các công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc trang bị
NXB Khoa học xã hội, 1997; Đỗ Bình Trị với Những đặc điểm thi pháp của các thể
loại văn học dân gian, NXB Giáo dục, 1999, v.v… cũng đều nói đến yếu tố kỳ ảo
mà trong đó có nhân vật kỳ ảo.
Trong số các tác giả kể trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến ý kiến: “…yếu tố
kỳ diệu, siêu nhiên chính là một thủ pháp nghệ thuật gắn với nội dung lãng mạn của
truyện…” [30] của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh. Cao Huy Đỉnh cho rằng: “Bút
pháp nghệ thuật phổ biến ở giai đoạn đầu là yếu tố thần kỳ. Tiên, bụt, vật báu thần
kỳ, các hình thức biến hóa thần kỳ của con ngƣời và thiên nhiên là những lực lƣợng
phù trợ cho nhân vật chính đạt tới hạnh phúc. Phù thủy, ma quỷ, những con vật và
đồ vật quái dị của chúng…là những lực lƣợng thù địch, tàn ác, ngăn cản và hãm hại
nhân vật chính” [18, tr.67]. Đỗ Bình Trị nhấn mạnh: “Lực lƣợng thần kỳ bao gồm:
1/ những nhân vật thần kỳ (Thần, Bụt, Tiên…), 2/ những vật có phép màu (cung tên
thần, gƣơm thần, đàn thần, bút thần, sách ƣớc…), 3/ sự biến hóa siêu tự nhiên
(ngƣời hóa thành vật, vật hóa thành ngƣời, vật này hóa thành vật khác, ngƣời thế
này hoá thành ngƣời thế khác …)” [44, tr.14]. Ông cho rằng: chỉ có một kiểu nhân
vật chính nhƣ: ngƣời con riêng, ngƣời em út, ngƣời mồ côi, ngƣời mang lốt vật,
ngƣời đi ở, ngƣời dũng sĩ, ngƣời có tài lạ … là xuất hiện trong truyện cổ tích mà
thôi.
Vào năm 2008, trong Luận án tiến sỹ: Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và
truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ [17], tác giả Nguyễn Định đã chia yếu tố
thần kỳ làm hai dạng: Theo dạng biểu hiện, yếu tố thần kỳ đƣợc chia thành các dạng
nhỏ sau: Dạng hữu hình gồm: dạng ngƣời (Tiên, Bụt, bà Chằng, Ngọc hoàng, mụ
phù thuỷ…), dạng loài vật (đại bàng, phƣợng hoàng, trăn tinh…), dạng đồ vật (cung
thần, đàn thần, niêu cơm thần…), ngoài ra, còn có dạng vật thể (giếng nƣớc, hồ
nƣớc…); dạng vô hình gồm: ma quỷ, câu thần chú, lời nói thần kỳ…Theo bản chất
xã hội, yếu tố thần kỳ có hai tuyến: tuyến thiện và tuyến ác. Sau khi phân loại yếu tố
8
9
Hà với: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam
Á, NXB Giáo dục, 1998 và bài viết: “Vận dụng lý thuyết văn học so sánh, tìm hiểu
kiểu truyện “ngƣời em” trong truyện cổ tích Việt Nam và châu Âu”, Tạp chí nghiên
cứu Văn học, số 4/2005; Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) với cuốn: Tổng tập văn học
các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 2 – truyện cổ dân gian, NXB Đà Nẵng, 2002;
Nguyễn Tấn Đắc với: Truyện kể dân gian, đọc bằng type và môtíp, NXB Khoa học
xã hội Hà Nội, 2001 và bài viết: Ai xung đột với ai trong type truyện Tấm Cám ở
Đông Nam Á, Tiểu ban 4 – Viện Văn học, Hội thảo Văn học quốc tế, 2006 v.v…
Các công trình nghiên cứu nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt
Nam
Về nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt Nam, đã có một vài nhà
nghiên cứu đề cập tới khi phân loại truyện cổ tích, nhƣ trong Luận án tiến sỹ của
Nguyễn Định Yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam
Trung Bộ, trong luận án này tác giả đã chia yếu tố thần kỳ làm hai dạng: Theo dạng
biểu hiện, yếu tố thần kỳ đƣợc chia thành các dạng nhỏ sau: Dạng hữu hình gồm:
dạng ngƣời (Tiên, Bụt, bà Chằng, Ngọc Hoàng, mụ Phù Thuỷ…), dạng loài vật (đại
bàng, phƣợng hoàng, trăn tinh…), dạng đồ vật (cung thần, đàn thần, niêu cơm
thần…), ngoài ra, còn có dạng vật thể (giếng nƣớc, hồ nƣớc…); dạng vô hình gồm:
ma quỷ, câu thần chú, lời nói thần kỳ…Theo bản chất xã hội, yếu tố thần kỳ có hai
tuyến: tuyến thiện và tuyến ác. Trong công trình nghiên cứu này thì nhân vật Thần,
Tiên đƣợc xếp vào dạng hữu hình cùng với Phật, Phù Thủy… Luận án tiến sĩ Thế
giới nhân vật kỳ ảo trong truyện cổ tích thần kỳ các dân tộc Việt Nam của Nguyễn
Thị Dung đã đề cập và nghiên cứu nhân vật Thần – Tiên trong hệ thống các nhân
vật thần kỳ, từ cơ sở hình thành, khảo sát tất cả các loại nhân vật thần kỳ xuất hiện
trong truyện cổ tích thần kỳ các dân tộc Việt Nam… và nhân vật Thần, Tiên cũng
đƣợc đề cập tới, nhƣng chƣa nghiên cứu sâu trên các phƣơng diện phƣơng thức biểu
hiện, chức năng, tác động, nghệ thuật truyện, giá trị văn hóa trong tín ngƣỡng thờ
3. Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu nhân vật Thần – Tiên nói riêng, nhân vật trong truyện cổ
tích Việt Nam nói chung, một mặt giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn một thể loại hết
11
sức phong phú và đa dạng trong kho tàng văn học dân tộc, mặt khác giúp ta hiểu
đƣợc tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhân dân lao động trong sự đối sánh với
thành tựu của những ngƣời sáng tạo chuyên nghiệp trong văn học viết.
Luận văn chỉ ra đặc điểm của nhân vật Thần – Tiên: số lƣợng, tần xuất,
nguồn gốc, dạng thức xuất hiện, diện mạo, tính cách, hành động v.v…. Xác định
đƣợc chức năng của nhân vật Thần – Tiên tham gia trong truyện cổ tích; đồng thời
so sánh các nhân vật Thần – Tiên với nhau, nhân vật Thần – Tiên với các nhân vật
thần kỳ khác trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Nhận xét, đánh giá về sự
tƣơng đồng, sự khác biệt giữa các nhân vật là Thần, là Tiên, nhân vật Thần – Tiên
với các nhân vật kỳ ảo khác trong truyện cổ tích.
Tìm hiểu phƣơng thức nghệ thuật biểu hiện nhân vật Thần – Tiên trong
truyện cổ tích Việt Nam về các mặt: xây dựng nhân vật, cốt truyện, không gian,
ngôn ngữ,... Đồng thời thông qua việc tìm hiểu cơ sở hình thành nhân vật Thần –
Tiên, chúng tôi khẳng định đƣợc chức năng, giá trị của văn hóa, tôn giáo, tín
ngƣỡng (thờ cúng các vị thần…) trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật của tác
giả dân gian về thế giới và con ngƣời.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ nghiên cứu các truyện cổ tích
Việt Nam có xuất hiện nhân vật Thần – Tiên. Nghiên cứu về đặc điểm, phƣơng thức
biểu nghệ thuật biểu hiện, giá trị văn hóa của các nhân vật Thần – Tiên trong truyện
cổ tích Việt Nam.
Về tƣ liệu nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn cuốn sách Kho tàng truyện cổ tích
đƣợc số lƣợng, tần số, hành động, chức năng, giới tính, tính chất… của nhân vật
Thần – Tiên, tạo thành hệ thống thế giới nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích
Việt Nam.
Chỉ ra các dạng thức và phƣơng thức nghệ thuật của nhân vật Thần – Tiên
trong truyện cổ tích Việt Nam: xây dựng cốt truyện; tổ chức không gian, thời gian,
tổ chức sự kiện và tạo ra các thủ pháp,….
Luận văn khẳng định đƣợc giá trị văn hóa của nhân vật Thần – Tiên trong
truyện cổ tích Việt Nam: phản ánh trí tƣởng tƣợng phong phú, hóa giải những vấn
13
đề xã hội, phản ánh đời sống tâm linh trong tín ngƣỡng thờ cúng (thờ Thần , Tiên)
của ngƣời Việt.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc
chia ra làm bốn chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quát về đề tài
Chƣơng 2: Diện mạo và đặc điểm của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ
tích Việt Nam
Chƣơng 3: Phƣơng thức nghệ thuật biểu hiện nhân vật Thần – Tiên trong
truyện cổ tích Việt Nam
Chƣơng 4: Giá trị văn hóa của nhân vật Thần – Tiên trong truyện cổ tích Việt
Nam.
14
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
tích ở nƣớc ta gắn liều với sự nhận thức về thể loại đƣa đến sự phân biệt các thể loại
truyện dân gian khác nhau.
Trong thực tế, sự lẫn lộn nội dung hai khái niệm truyện cổ và truyện cổ tích
không chỉ ở nƣớc ta mà đó gần nhƣ một hiện tƣợng của nhiều dân tộc trên thế giới.
Trong quá trình đi tìm một định nghĩa đúng đắn cho thể loại này, các nhà nghiên
cứu folklore đã xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau. Một khuynh hƣớng cho rằng,
có thể định nghĩa truyện cổ tích thông qua việc nhận biết những cốt truyện; khuynh
hƣớng khác lại nhấn mạnh khả năng tin hoặc không tin của ngƣời nghe vào “tính
khác thƣờng” của cốt truyện cổ tích. Ngƣời khác lại coi trọng sự phản ánh hiện thực
một cách có ý thức của truyện cổ tích, v.v…
Trƣớc cách mạng tháng Tám, truyện cổ tích thƣờng đƣợc gọi là “truyện đời
xƣa”, dùng để chỉ chung các loại truyện dân gian, truyền miệng. Về sau, phạm vi
truyện cổ tích đƣợc thu hẹp dần, dùng để chỉ một loại riêng biệt. Việc xác định thể
loại truyện cổ tích ở nƣớc ta càng ngày càng khó khăn vì bản thân truyện cổ tích
Việt Nam mang tính chất phức tạp và có xu hƣớng đan xen vào các thể loại khác
nhƣ thần thoại, truyền thuyết. Những năm gần đây, các nhà khoa học có xu hƣớng
tách riêng truyện cổ tích thành một thể loại độc lập, ra khỏi nhóm truyện dân gian.
Nhƣng nhiều khi quan niệm cũ vẫn ảnh hƣởng đến cách trình bày của các tác giả.
Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên chủ biên)
vẫn xếp truyền thuyết vào loại truyện cổ tích lịch sử. Khi định nghĩa truyện cổ tích
tác giả cũng không đƣa ra định nghĩa cụ thể mà hiểu nó thông qua cách đối chiếu
với thần thoại: “Thần thoại là những truyện mà nhân vật là thần, còn truyện cổ tích
thì nhân vật là ngƣời; Thần thoại là sáng tác dân gian thời nguyên thủy; còn truyện
cổ tích là sản phâm của xã hội thị tộc đã tan rã, phản ánh đấu tranh xã hội; Thần
thoại hấp dẫn bằng những hình tƣợng mỹ lệ, táo bạo, còn truyện cổ tích lôi cuốn
chúng ta vào những nỗi niềm vui khổ, không khí đâu tranh chống cƣờng quyền…”
[28].
Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã khái quát từ hàng loạt định nghĩa về truyện
cổ tích: