BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Kim Chung
NHÂN VẬT PHÒ TRỢ TRONG TRUYỆN
CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Kim Chung
NHÂN VẬT PHÒ TRỢ TRONG TRUYỆN
CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở GIA LAI
Chuyên ngành
Mã số
: Văn học Việt Nam
: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.2.2. Tư liệu điền dã......................................................................................... 17
1.2.3. Nhận xét chung ....................................................................................... 18
1.3. Những vấn đề lí thuyết của Propp được vận dụng trong đề tài ............... 21
1.4. Những vần đề về típ và mô típ liên quan đến đề tài.................................. 24
Tiểu kết chương 1: .................................................................................................. 26
Chương 2. CÁC KIỂU NHÂN VẬT PHÒ TRỢ TRONG TRUYỆN CỔ
TÍCH CỦA TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ Ở GIA LAI ......................................... 27
2.1. Các tiêu chí phân loại nhân vật phò trợ ...................................................... 28
2.2. Phân loại nhân vật phò trợ ........................................................................... 32
2.2.1. Nhóm nhân vật phò trợ có chức năng giải quyết những nhiệm vụ khó
khăn ..................................................................................................................... 32
2.2.2. Nhóm nhân vật phò trợ có chức năng phò trợ về việc thay đổi về không
gian ...................................................................................................................... 39
2.3. So sánh nhân vật phò trợ trong truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Gia
Lai và truyện cổ tích người Việt.............................................................................. 46
2.3.1. Sự tương đồng ......................................................................................... 47
2.3.2. Sự khác biệt ............................................................................................. 47
Tiểu kết chương 2: .................................................................................................. 53
Chương 3. MỘT SỐ MÔ TÍP LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN VẬT PHÒ TRỢ
TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ Ở GIA LAI54
3.1. Mô típ uống rượu và hút thuốc của nhân vật phò trợ................................ 55
3.2. Mô típ hóa thân của nhân vật phò trợ ......................................................... 57
3.3. Mô típ vật thiêng của nhân vật phò trợ ....................................................... 59
3.4. Mô típ đánh nhau của nhân vật phò trợ ...................................................... 61
4
3.5. Mô típ kết hôn của nhân vật phò trợ ........................................................... 63
Tiểu kết chương 3: .................................................................................................. 67
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................. 68
đề cần được quan tâm. Từ nhân vật phò trợ, chúng ta có thể mở rộng nghiên cứu các
mô típ liên quan tới nhân vật này, cấu tạo cốt truyện, kiểu truyện…Đồng thời so sánh
các nhân vật trợ thủ, cấu tạo truyện…giữa các vùng miền trong một đất nước để từ đó
tìm ra những nét tương đồng, dị biệt.
Với tất cả những lí do trên nên chúng tôi quyết định lựa chọn lựa đề tài: Nhân
vật phò trợ trong truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai. Chúng tôi
hi vọng góp một phần công sức nhỏ vào quá trình nghiên cứu văn học dân gian ở
một vùng đất đỏ ba dan đầy nắng gió.
2. Mục đích nghiên cứu và phạm vi đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đặt ra những mục tiêu nghiên cứu sau:
Thứ nhất: Khảo sát sự xuất hiện của nhân vật phò trợ được phân bố truyện cổ
tích của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai.
Thứ hai: Thông qua việc khảo sát nhân vật phò trợ trong truyện cổ của các dân
tộc thiểu số ở vùng này, chúng tôi muốn tìm hiểu cách tổ chức, cấu tạo của thể loại
7
truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai.
Thứ ba: Thử so sánh nhân vật phò trợ của các dân tộc thiểu sốở Gia Lai và dân
tộc Việt.
Đề tài được giới hạn trong phạm vi truyện cổ của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai
trong đó chỉ xin trình bày truyện cổ của hai các dân tộc là Jơ rai và Ba na. Vì đây là
hai cộng đồng lớn nhất và lâu đời ở khu vực này. Việc chọn hai dân tộc này theo
chúng tôi là phù hợp về mặt khoa học.
3. Lịch sử vấn đề
Những công trình chuyên viết về nhân vật phò trợ của truyện cổ tích các dân tộc
ít người ở Gia Lai hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy. Tuy nhiên một số công trình ở
nhiều mức độ khác nhau có liên quan đến đề tài, xin dẫn ra đây:
Trần Đức Ngôn: Nghiên cứu kết cấu truyện cổ tích thần kì Việt theo lí
thuyết hình thái học của Vladimia Iacoplevich Prop, tiểu luận cấp I, bản đánh
dân tộc thiểu sốở Gia Lai hầu như chưa thấy.
Dẫn những công trình trên, chúng tôi muốn thử vận dụng một số thao tác để tiến
hành phân loại, mô tả các chức năng, các mô típ liên quan để tìm hiểu cấu tạo nhân
vật phò trợ trong truyện cổ các dân tộc thiểu sốở Gia Lai.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: Được sử dụng để thống kê số lượng truyện cổ tích các
dân tộc thiểu số ở Gia Lai có sự xuất hiện của nhân vật phò trợ. Đồng thời khảo sát
tần số xuất hiện của nhân vật phò trợ thông qua ba bảng thống kê.
Phương pháp nghiên cứu văn học dân gian theo vùng văn hóa: Quá trình
sinh sống, môi trường sống tác động không nhỏ tới văn hóa của các dân tộc này.
Nghiên cứu văn học các dân tộc thiểu sốcho chúng ta thấy nét đặc trưng riêng của các
dân tộc thiểu số tác động vào quá trình xây dựng, tổ chức các kiểu nhân vật và kiểu
truyện.
Phương pháp so sánh: Thông qua hình ảnh nhân vật phò trợ, phương pháp này
được sử dụng để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa truyện cổ của người
Việt và truyện cổ của các dân tộc thiểu sốở Gia Lai.
Phương pháp điền dã: Thông qua cuộc điền dã, chúng tôi sẽ bổ sung thêm
những câu chuyện liên quan tới đề tài. Việc sưu tầm này bước đầu cho chúng tôi một
cái nhìn thực tế, toàn diện hơn về nhân vật phò trợ.
9
Phương pháp cấu trúc: Được sử dụng để nghiên cứu chức năng nhân vật theo
phương pháp nghiên cứu của Propp.
5. Đóng góp của luận văn
Từ những cố gắng nhất định, tác giả luận văn mong muốn góp phần nhỏ trong
việc giải quyết được các nội dung sau:
Thứ nhất: Thống kê, phân loại, mô tả kiểu nhân vật phò trợ trong truyện cổ
người Ba na, Jơ rai.
Một là, cơ cấu các dân tộc thiểu số ở Gia Lai và tập tục, đặc trưng văn hóa liên
quan đến nhân vật phò trợ trong truyện cổ tích ở Gia Lai.
Hai là, tình hình tư liệu có ảnh hưởng quyết định tới việc khảo sát nhân vật phò
trợ. Việc đặt ra những tiêu chí và lựa chọn những tiêu chí là nhiệm vụ quan trọng
trong việc xử lí tài liệu. Ngoài ra, qua quá trình điền dã, chúng tôi đã sưu tầm được 4
câu chuyện liên quan đến đề tài. Nội dung các câu chuyện được chúng tôi trình bày
trong phần phụ lục của luận văn.
Ba là, vận dụng cách phân chia nhân vật theo chức năng của Propp, chúng tôi
nhận thấy có nhiều điểm khác biệt về chức năng của nhân vật phò trợ trong truyện cổ
của thế giới và truyện cổ các dân tộc thiểu số ở Gia Lai.
1.1. Cơ cấu tộc người
Tình hình cơ cấu và phân bố các dân tộc chính là cơ sở quan trọng để hình
thành nên các văn bản truyện cổ của các dân tộc thiểu số ở nơi đây. Từ sự phân bố
khác nhau của các dân tộc thiểu sốđã tạo nên sự khác biệt trong lối sống của họ.
Thậm chí ngay trong từng bộ phận của cùng một các dân tộc cũng ảnh hưởng tới
nhận thức, văn hóa ứng xử của họ. Điều này được lí giải một phần nào khi nghiên
cứu văn bản truyện cổ của các dân tộc ở vùng đất Gia Lai.
Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên với hai dân tộc chính
là Jơ rai và Ba na, chiếm gần 1/2 dân số toàn tỉnh với khoảng 600.000 người. Các di
sản văn hóa dân tộc ở Gia Lai đã được các cấp chính quyền địa phương và ngành
chức năng gìn giữ và phát huy giá trị, đặc biệt là không gian văn hóa cồng chiêng Tây
nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân
loại. Theo điều tra dân số (01/04/2009) bao gồm nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh
sống. Trong đó, người Kinh chiếm 52% dân số. Còn lại là các dân tộc Jơ rai (33,5%),
Ba na(13,7%). Các nhóm các dân tộc khác như Giẻ triêng, Xơ đăng, Cơ ho, Thái,
Mường,… chiếm tỉ lệ nhỏ và có bộ phận mới đến tụ cư vài thập niên gần đây.
11
Nhìn chung kho tàng văn học dân gian có giá trị lớn hầu như tập trung ở hai các
Jơ rai chor có nghĩa là người Jơ rai vùng thung lũng, hay người Jơ rai khu vực đèo
Cheo Reo.
Hđrung có nghĩa là hàm rồng, là tên ngọn núi lửa lớn đã tắt cách thành phố
Playku chừng 3km về phía Đông Nam. Người Jơ rai Hđrung xưa kia họ sống tập
trung quanh ngọn núi Hđrung rồi sau đó mới tỏa đi các nơi khác. Hiên nay Jơ rai
Hđrung sống chủ yếu ở thành Phố Pleiku, Chư Pah, Chư Prông và Măng Yang (Gia
Lai).
Aráp cũng là tên gọi của một ngọn núi. Núi này nằm ở phía đông của thành phố
Kon Tum và là nơi giáp ranh giữa nơi cư trú của người Jơ rai và Ba na. Ngoài ra
Aráp còn tên của một con Voi của câu chuyện huyền thoại. Nhóm này cư trú ở phía
bắc thành phố Pleiku, bắc huyện Chư Pah, xã Hbau Đak Đoa (Gia Lai), thành phố
Kon Tum và một số xã thuộc huyện Sa Thầy (Kon Tum).
Nhóm Jơ rai Tpuan (hay Puôn) chủ yếu sống ở vùng dọc biên giới Việt Nam –
Campuchia, tức là phía tây huyện Chư Pah và ở huyện Chư Prong (Gia Lai). Ở bên
Campuchia, người Jơ rai Tpuan sống dọc theo dòng sông Xê xan (khúc sông ở Việt
Nam gọi là Pô Cô). Do sống ở biên giới nên gọi là Tpuan (nghĩa là người Jơ rai vùng
ven hay người Jơ rai ngoại vi).
Nhóm M’thur (hay Mdhur) có nghĩa là nghèo.Nhóm Jơ rai này sống giáp với
các dân tộc Ê đê, Chăm, sống chủ yếu ở vùng Krông Pa (Gia Lai). Do ít nhiều bị
tách biệt và sống gần các dân tộc khác nhau nên nếp sống thường ngày của từng
nhóm người Jơ rai cũng khác nhau.
Về dân tộc Ba na
Người Ba na còn có các tên gọi khác: Ba na dưới Núi, Ba na Đông, Ba na Tây,
Ba na trên Núi, Tơ Lộ, Bơ Nâm, Glơ Lâng, Rơ Ngao, Krem, Roh, Con Kde, A la
công, Krăng, Bơ Môn, Kpăng Công, Y Lăng) có dân số 174.456 người (đến năm
2003), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.
Người Ba na có hai nhóm chính, nhóm sống từ đèo Mang yang về phía thấp là
nhóm Hla Kông (người Ba na ở dưới chân núi) và nhóm từ đèo Mang yang lên trên
nhóm người có nguồn gốc tại chỗ, lúc đầu cư trú ở phần đất phía đông tỉnh Gia Lai,
một phần đồng bằng và phía đông tỉnh Bình Định, về sau di cư sang Kon Tum. Từ
thế kỉ X về trước, người Ba na sống trong vùng đất tương đối ổn định và đóng kín.
Trong hơn 300 năm, từ 1150-1470 người Ba na cùng với các dân tộc Tây Nguyên
chịu sự thống trị của Vương quốc Chăm Pa. Năm 1471 dưới sự lãnh đạo của vua Lê
14
Thánh Tông, người Ba na thoát khỏi ách đô hộ của người Chăm. Sau đó, khu vực này
thường xuyên chịu ảnh hưởng ít nhiều của các cuộc gây hấn của Lào và Thái Lan. Từ
thế kỉ XX, đồng bào ở đây sống chung cùng với các dân tộc thiểu sốkhác trong sự
hòa hiếu, đoàn kết xây dựng cuộc sống mới. Dấu ấn rõ ràng nhất về việc chịu ảnh
hưởng của văn hóa Chăm Pa là hình ảnh Thần Rắn trong văn học dân gian của các
dân tộc này. Ngày nay, các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy những vết tích hình Thần
Rắn còn sót lại trên các họa tiết trang trí của chum, vòng đeo tay, ghè rượu…
Điều đáng lưu ý giữa hai các dân tộc này là sự phân bố phạm vi sinh sống của
họ. Người Jơ rai thường phân bố dọc ven núi cho nên những câu truyện cổ của họ
thường xuất hiện các vị thần như: núi, trời và thường hướng ra phía biển. Còn người
Ba na sống chủ yếu ở dọc bờ sông, đời sống gắn liền với nước. Ở hai các dân tộc
này, họ sống bằng nghề trồng trọt nương rẫy; lúa tẻ là cây lương thực chính. Công cụ
canh tác của họ giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và
cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống. Cho nên chúng ta rất dễ dàng bắt gặp những công
cụ này trong các sáng tác dân gian. Đối với họ, mỗi công cụ là một vị thần linh cứu
trợ, phù giúp cho con người có được miếng cơm, miếng nước. Cũng như vậy, nhưng
người Ba na lại có thêm vật dụng cần thiết cho lao động nữa, đó là cái lò rèn. Chúng
ta không mấy xa lạ khi bắt gặp hình ảnh cái lò rèn có phép thuật được nhân vật chính
diện trong truyện cổ sử dụng để sáng tạo ra công cụ lao động và diệt trừ yêu tinh.
Chính vì vậy, trong những câu chuyện của người Ba na chúng ta thấy có xuất hiện
kiểu truyện người anh hùng sử dụng cái lò rèn thần được Thần ban để tiêu diệt yêu
tinh nhưng trong truyện của người Jơ rai thì ta lại không thấy xuất hiện.
đất này sinh sống. Có thể do tính chất manh mún, thiếu ổn định nên các nhà nghiên
cứu chưa chú tâm khảo sát. Trên thực tế, chúng tôi thấy được rằng các dân tộc thiểu
số khác họ sinh sống rải rác theo từng cụm nhỏ, số lượng dân cư không nhiều, mức
độ tập trung cũng không cao cho nên việc tạo ra những dấu ấn về văn học dân gian là
khá ít. Mặt khác, các dân tộc thiểu số này di cư tới vùng đất đỏ ba dan này, họ đã
mang theo những nét văn hóa bất biến của các dân tộc mình, dường như họ không
thay đổi lối sống hay tập tục của mình khi tới đây. Sự ảnh hưởng của vùng miền này
không quá mạnh mẽ để họ có thể làm thay đổi hoặc là ảnh hưởng tới cuộc sống riêng
của họ. Các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Mông, Mường, Mán…có một nhỏ sống
rải rác trong môi trường cùng với người Kinh ở các huyện, thị trấn,các vùng trung
tâm của vùng, số còn lại sống tập trung và tách biệt nên việc giao lưu văn hóa và sự
16
ảnh hưởng của nó tới vùng miền là không đáng kể. Bởi vậy nên nghiên cứu văn hóa
dân gian ở các dân tộc thiểu sốnày cũng không hề dễ dàng. Cần phải nói thêm, Gia
Lai không phải là địa bàn cố hữu của những các dân tộc này vì họ mới bắt đầu di cư
tới từ đầu thế kỉ XX. Do đó chưa có điều kiện để khảo cứu.
Tiến trình sưu tầm và nghiên cứu đã khẳng định vốn folklore Gia Lai vừa đa
dạng lại vừa phong phú hay nói chính xác hơn là “ Các tư liệu thu thập được cho
phép khẳng định rằng fôn- clo của người Ba na Tơ lô vùng đất này trước đây ít nhất
năm mươi năm là một nền nghệ thuật dân gian đồng bộ, giàu có và có chất lượng
nghệ thuật” [48, tr.252]
1.2.1. Tư liệu đã được công bố
Qua quá trình tìm kiếm, chúng tôi thu thập được những nguồn tài liệu vô cùng
quan trọng về truyện cổ tích của các dân tộc thiểu sốở Gia Lai như sau:
Theo khảo sát bước đầu từ các cuốn sách hiện có: Vũ Ngọc Bình (chủ biên),
Văn học dân gian Gia Lai, (Sở văn hóa thông tin thể thao), năm 1996.
Trong tư liệu này, các tác giả đã thu thập tài liệu từ thư tịch, kế thừa kết quả sưu
tầm nghiên cứu của những người đi trước. Trong nguồn tư liệu này ghi rõ xuất xứ của
Lai kể.
Chúng tôi xin tạm dịch và trình bày nội dung của bốn truyện này trong phần Phụ
lục 1b của luận án.
Nhìn chung kho tàng văn học dân gian của các dân tộc thiểu số ở đây khá
phong phú về thể loại, đa dạng về nội dung, cách thể hiện nhưng chưa được sưu tầm
hết. Riêng về truyện cổ theo đánh giá của chúng tôi thì số người biết kể chuyện hiện
giờ còn rất ít. Một lí do khách quan là những người biết kể chuyện thì không còn
nhiều, một số còn lại thì tuổi tác của họ khá cao, họ đều tầm trên 70 tuổi, số lượng
này chỉ tính trên đầu ngón tay. Mặt khác lối sống hiện đại hóa bắt đầu du nhập vào
trong làng bản nên hầu như lớp trẻ bây giờ ít quan tâm tới kho tàng truyện cổ hơn.
Đây là một khó khăn lớn trong việc lưu giữ những nét văn hóa nói chung của nền văn
hóa nước ta và truyện cổ của các dân tộc thiểu sốở nước ta nói riêng. Chúng ta sẽ hi
vọng trong một thời gian gần nhất chúng ta sẽ nhận được sự quan tâm nhiều hơn của
các ban nghành tới kho tàng văn học dân gian nơi đây.
1.2.3. Nhận xét chung
Việc xác lập một tiêu chí cho quá trình lựa chọn văn bản là hết sức cần thiết. Từ
lâu trong việc nghiên cứu về văn học dân gian đã từng có ý kiến khác nhau về vấn đề
18
thể loại. Có một thực tế là khi kể chuyện, người kể chuyện không có ý thức về thể
loại. Ngay cả người sưu tầm vẫn dùng khái niệm duy nhất là truyện cổ dân gian. Tuy
nhiên theo chúng tôi, truyện cổ dân gian là một khái niệm chỉ một bộ phận của văn
học dân gian, bộ phận này gồm nhiều thể loại trong đó có cả thể loại truyện cổ tích.
Truyện cổ tích là khái niệm được dùng với hai nghĩa chủ yếu: nghĩa thứ nhất là chỉ
một bộ phận của văn học dân gian, nghĩa thứ hai là một thể loại của bộ phận truyện
cổ dân gian trong văn học dân gian.
Dựa trên những nền tảng nói chung, chúng tôi sẽ khoanh vùng và lựa chọn
những câu truyện mang đậm tính chất “cổ tích” nhất. Đó là một thể loại chính của
sáng tác tự sự dân gian có tâm thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt
truyện cổ tích về loài vật, về sinh hoạt. Chẳng hạn như truyện Đăm Dông đánh
thần sét, Cha con Đăm Bông Pha, Chiếc sáo thần kì,…Tính chất thể loại là một
vấn đề khó phân biệt rạch ròi và không thuộc phạm vi khảo sát của đề tài tuy nhiên
nhìn chung có thể đánh giá được rằng: Tính chất bay bổng cùng với những đặc trưng
văn hóa các dân tộc làm người ta ngờ rằng chúng mang hơi thở của những truyện
mang cốt lõi của tư duy cổ tích, đôi khi ngờ rằng truyện ca ngợi về người anh hùng
bộ lạc cho nên nó lại mang bóng dáng của những truyện truyền thuyết.
Những nhận thức trên hoàn toàn dựa vào văn bản, nếu đi sâu vào văn bản sẽ
thấy cách kể truyện cổ tích không giống như kể trường ca, mỗi câu chuyện được kể
chỉ khoảng mười phút, một đêm kể chừng từ năm đến bảy câu chuyện và không cần
tập trung đầy đủ mọi người trong bản làng để kể mà người trong nhà ai lớn tuổi nhất
và biết kể chuyện thì kể lại cho con cháu nghe. Với cách lưu giữ như vậy, truyện cổ ở
đây được truyền từ đời này sang đời khác, họ nhớ như in và cách kể rất diễn cảm.
Từ tình hình tư liệu trên chúng tôi có thể đưa ra các nhận xét sau:
Thứ nhất: Quá trình thu thập không chỉ dừng lại ở những văn bản truyện cổ tích
mà ngay cả những truyện được xem là “nghi án cổ tích” cũng được xem xét vì những
sự phân định, giới thuyết về chúng như:truyện cổ tích, truyện cổ, truyện kể…không
phải lúc nào cũng đầy đủ và rõ ràng. Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn những truyện nào
mang đậm tính cổ tích để phục vụ cho nghiên cứu của đề tài này.
Thứ hai: Trong thực tế số lượng truyện kể còn khá nhiều nhưng nhớ nhiều nhất
vẫn là các già làng, các vị lớn tuổi trong làng. Những văn bản truyện cổ này được
dịch ra từ tiếng địa phương cho nên khó bộc lộ hết được cái thần thái của chúng. Tuy
20
nhiên người nghe sẽ dễ dàng cảm nhận được tính “thiêng” của những câu chuyện
thông qua cách kể của người kể.
1.3. Những vấn đề lí thuyết của Propp được vận dụng trong đề tài
Lí thuyết của Vladi mir Iakovlevits Propp – nhà khoa học lỗi lạc Xô Viết ( 1895
năng của nhân vật trong truyện cổ tích. Tuy nhiên trên thực tế, ông vẫn gắn vấn đề
chức năng với vấn đề nhân vật. Ông không thể giới thiệu chức năng mà không nói
đến nhân vật (chương III), đặc biệt trong chương VI, tác giả trình bày những kết quả
khảo sát chung về “Sự phân bố chức năng theo các nhân vật”.
Theo đó sự phân bố chức năng theo các nhân vật – “ sơ đồ 7 nhân vật” được tác
giả phân tích khá kĩ càng. Như đã nói ở trên, tuy đối tượng nghiên cứu của Propp chỉ
là các chức năng chứ không phải người thực hiện chúng, nhưng vấn đề “Các chức
năng được phân bố như thế nào theo các nhân vật” vẫn được ông khảo sát kĩ lưỡng.
Kết quả thu được không chỉ soi sáng thêm ý nghĩa của chức năng trong tiến trình
hành động mà còn góp phần làm rõ bản chất truyện cổ tích thần kì. Điều đó càng
khẳng định tầm quan trọng của chức năng nhân vật trong truyện cổ tích.
Propp nhận thấy nhiều chức năng được tập hợp một cách logic theo những nhóm
nhất định. Những nhóm này, nói chung cũng tương hợp với người thực hiện. Đó là
các nhóm hành động, truyện cổ tích thần kì có bảy nhóm hành động.
Từ kết quả khảo sát sự phân bố chức năng theo các nhân vật, tác giả rút ra kết
luận: Truyện cổ tích có 7 nhân vật. Từ kết luận này, khi trở lại với vấn đề phân loại
truyện cổ tích thần kì (sản phẩm của cách phân loại dựa vào một nhóm đặc trưng về
nội dung là yếu tố kì diệu, mà ông coi là không chính xác) bằng thuật ngữ truyện cổ
tích theo sơ đồ 7 nhân vật được Propp đánh giá là “tuy khá bất tiện nhưng rất chính
xác”, phù hợp với quan điểm phân loại dựa vào cấu trúc của ông căn cứ vào những
dấu hiệu là hình thức, kết cấu.
Vấn đề nằm ở sự phân bố chức năng theo các nhân vật: nhiều chức năng đã
được tập hợp một cách logic thành những nhóm hành động nhất định, xét chung,
tương ứng với những nhân vật thực hiện.
Dựa vào các chức năng đưa nhân vật vào tiến trình hành động tác giả khẳng
định, mỗi loại nhân vật đều có hình thức xuất hiện riêng của nó, đối với mỗi loại,
người ta đều sử dụng những cách thức riêng để đưa nhân vật vào tiến trình hành
động.
22
nhân vật chính vượt qua được thủ thách. Dựa trên chức năng hai nhân vật có chức
năng là cung cấp phương tiện thần kì hoặc trợ thủ thần kì. Sơ đồ 7 nhân vật thực hiện
23
các nhóm chức năng có nhân vật người ban tặng thực hiện chức năng thử thách nhân
vật chính để trao phương tiện thần kì hay giúp đỡ nhân vật thần kì. Chúng ta lưu ý
điều này hoàn toàn khác với nhân vật người giúp đỡ thần kì hay là trợ thủ. Ngoài ra
phương tiện thần kì không phải là người giúp đỡ thần kì. Phần này chúng tôi sẽ lí giải
rõ hơn trong phần phân loại nhân vật phò trợ của luận văn.
Qui trình này sẽ được chúng tôi vận dụng thực hiện trong các phần tiếp theo của
luận văn.
Như vậy, nếu vận dụng lí thuyết Propp trong các câu chuyện cổ về nhân vật phò
trợ ở Gia Lai có thể cho phép chúng ta khẳng định vai trò của lí thuyết Hình thái học
trong việc nghiên cứu nhân vật phò trợ dựa trên chức năng. Đồng thời có những chức
năng của nhân vật phò trợ vượt ngoài mô hình cấu tạo của Propp là điều rất đáng suy
nghĩ. Phải chăng đó là cái riêng của truyện cổ các dân tộc thiểu số ở Gia Lai mà lí
thuyết chưa bao quát đến?
1.4. Những vần đề về típ và mô típ liên quan đến đề tài
Trong nghệ thuật dân gian, có mô típ của hình phác họa là những hình mẫu
thường lặp lại hoặc kết hợp với những hình mẫu khác theo một cách riêng biệt nào
đó.
Trong văn học dân gian, mô típ được hiểu như là một đơn vị nhỏ nhất, là những
đơn vị tế bào hạt nhân để xây dựng nên cốt truyện, là một thành tố tạo nên truyện. Nó
rất linh động, bởi trong truyện kể nó có thể tách rời ra hoặc lắp ghép lại được. Mô típ
truyện kể có thể là những khái niệm đơn giản thường gặp trong kho tàng văn học dân
gian như: những tạo vật khác thường bao gồm thần tiên, phù thủy, yêu tinh, con vật
biết nói,...; những thế giới kì diệu mà ở đó có những hiện tượng tự nhiên khác
thường, ma thuật luôn có hiệu lực,... Mô típ cũng có thể là một mẩu kể ngắn, đơn
giản, một sự việc đủ gây ấn tượng và thích thú đối với người nghe.