Giáo dục học Nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh tiểu học - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,
NGUYỄN THỊ THƠM

đưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Nhàn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Nhàn, người đã
luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và Phòng
Sau Đại học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều

NHÂN VẬT TRẺ THƠ TRONG TRUYỆN
CỔ TÍCH VÀ Ý NGHĨA GIÁO DỤC ĐỐI
VỚI HỌC SINH TIỂU HỌC

kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày

tháng

Tác giả

Chuyên ngành: Giáo dục học Bậc Tiểu học
Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC


Tác giả

năm 2013

1.1.2. Đặc điểm thể loại của truyện cổ tích ..................................................... 13
1.1.3. Phân loại truyện cổ tích ......................................................................... 20
1.2. Truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ (Trong kho tàng cổ tích của
Nguyễn Đổng Chi và Nguyễn Cừ) .................................................................. 26

Nguyễn Thị Thơm

1.2.1. Thống Kê ............................................................................................... 26
1.2.2. Nhận xét chung ..................................................................................... 27
Chương 2. THẾ GIỚI TRẺ THƠ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA
NGUYỄN ĐỔNG CHI VÀ NGUYỄN CỪ
2.1. Phân loại nhân vật trẻ thơ......................................................................... 30
2.1.1. Cơ sở phân loại...................................................................................... 30
2.1.2. Phân loại nhân vật trẻ thơ...................................................................... 33
2.2. Đặc điểm nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích........................................ 34
2.2.1. Hoàn cảnh xuất thân của nhân vật trẻ thơ ............................................. 34
2.2.3. Cuộc đời, số phận của nhân vật ............................................................ 42
2.3. Nghệ thuật thể hiện nhân vật trẻ thơ ........................................................ 48
2.3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trẻ thơ trong mối quan hệ với hoàn
cảnh ................................................................................................................. 48
2.3.2. Nghệ thuật khắc họa nhân vật qua hành động ...................................... 52
2.3.3. Nghệ thuật sắp xếp, gắn kết nhân vật ................................................... 55


1


thực. Con người được an ủi động viên vượt qua những trắc trở, khó khăn để

3.2.2. Giáo dục, bồi dưỡng năng lực văn – Tiếng Việt ................................... 75
3.2.3. Giáo dục đạo đức................................................................................... 82
3.2.4. Giáo dục thẩm mỹ ................................................................................. 85
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 92

kiên trì vượt lên trong cuộc sống... Những điều như thế khiến cổ tích là người
bạn đường của nhân dân xưa và nay.
Nghệ sĩ dân gian sử dụng phương thức hư cấu những yếu tố thần kì để
kiến tạo nên một thế giới cổ tích với bao điều kì diệu, bao niềm thương cảm.
Học sinh Tiểu học được các nhà tâm lí học gọi bằng một cái tên khác đầy ý
nghĩa: “lứa tuổi cổ tích”. Ở lứa tuổi này, các em nhìn đời bằng đôi mắt trong
trẻo và tin cậy. Các em “suy nghĩ bằng hình ảnh”, sống với thế giới của cái
đẹp. Trẻ cũng rất ưa thích sự phiêu lưu để khám phá và ngạc nhiên trước
những bí mật của xung quanh. Tất cả những điều đó đã đưa các em đến gần
với cổ tích. Chính vì thế mà V.A Xukhômlinxki - nhà giáo dục nổi tiếng
người Nga đã cho rằng: “Truyện cổ tích là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn
trẻ, là ngọn gió tươi mát thổi bùng ngọn lửa tư duy và ngôn ngữ của trẻ”. Quả
thực, rất khó tìm thấy một thế giới tràn đầy cái đẹp, những biểu tượng đượm
màu sắc huyền thoại như trong truyện cổ tích. Đến với cổ tích chính là cơ hội
cho trẻ nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm mĩ và phát huy trí tưởng tượng.
Như thế chính là trẻ đã được phát triển về mặt tâm hồn - một trong hai mục
đích chính của giáo dục trẻ ở bậc Tiểu học.


2

3


theo một hệ thống. Có thể nói, đây là những tác phẩm, những bài học cụ thể

– 1975, có nhận xét như sau: “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn

sinh động gắn liền với đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm nhận thức của trẻ thơ.

Đổng Chi đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác sưu tầm, giới

Hơn thế nữa, những bài học ấy có tác dụng to lớn trong việc giáo dục nhân

thiệu nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam, nó đạt được những thành tựu vững

cách và nhận thức của học sinh.

chắc hơn các truyện cổ tích đã xuất bản từ trước tới nay về cả nội dung và

Xuất phát từ thực tế ấy, sách Tiếng Việt Tiểu học đã bố trí “văn bản”

hình thức” [14, tr.1005]. Bàn về nghệ thuật kể chuyện cổ tích của Nguyễn

truyện cổ tích từ lớp 1 đến lớp 5 và được dạy học trong các phân môn: Tập

Đổng Chi, tác giả viết: “Về mặt ngôn ngữ truyện kể, tác giả đã cố gắng không

đọc và Kể chuyện. Điều đó chứng tỏ vị trí của mảng sáng tác này. Và dĩ

rơi vào hai xu hướng lệch lạc khá phổ biến xưa nay là tiểu thuyết hóa hoặc

nhiên, trong các truyện cổ tích góp mặt trên trang sách Tiếng Việt có những


Khánh đã chỉ rõ những thành công cơ bản của Kho tàng truyện cổ tích Việt

Nhìn một cách khái quát, các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học

Nam như: Tác giả Nguyễn Đổng Chi đã đưa ra một cái nhìn truyện cổ tích bớt

thường đưa ra nhận định về giá trị của cổ tích. Chúng góp phần mang lại cho

phần phiến diện, dân tộc hẹp hòi mà nhiều người trước đó và hiện tại đang


4

5

mắc phải, đó là cái nhìn đối chiếu so sánh truyện cổ tích; Nguyễn Đổng Chi

Tác giả Nguyễn Thị Huế với bài viết: “Nhân vật xấu xí mà có tài trong

phân loại truyện cổ tích như có ý đồ lần theo hướng đi của truyện cổ tích

truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam” – TCVH, số 5/1991 cho rằng: Yếu tố

trong tiến trình chuyển đổi hình thái dần dần của xã hội Việt Nam – Đây là

thần kỳ nằm ngay trong bản thân nhân vật chính như: Sọ Dừa, con cóc, ếch,...

cách phân loại thỏa đáng và đi trước nhiều người. Bàn về cách kể chuyện của


pháp luận nghiên cứu văn học dân gian cho các nhà folklore Việt Nam. Trong

nghe mà còn quen thuộc với họ: khung cảnh nông thôn và gia đình nông dân;

công trình này, từ khối tư liệu phong phú về những dị bản của kiểu

những truyện áp bức bóc lột và đời sống xã hội trong làng xã; kẻ buôn bán và

truyện Tấm Cám ở trong nước và trên thế giới, tác giả Đinh Gia Khánh đã đề

trong truyện lừa đảo; người học trò và truyện thi cử; chốn cửa quan và truyện

cập đến những vấn đề đặc trưng cơ bản của thể loại truyện cổ tích: “Đó là tính

kiện tụng. Câu chuyện như xảy ra không xa, mà cũng chưa lâu trong cuộc đời

dân tộc và tính quốc tế, tính địa phương và tính toàn dân của truyện cổ tích, là

hàng ngày” [23, tr.34].

vấn đề hình thái biểu hiện của nội dung đấu tranh xã hội trong thể loại này, là

Năm 1974, Cao Huy Đỉnh trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian

vấn đề phương pháp nghệ thuật trong truyện cổ tích, là vấn đề tâm lý của

(Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội), ở chương III, đã đề cập đến một số

nhân dân khi sáng tác và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian”.



7

đề cập đến truyện cổ tích của các dân tộc ít người, các tác giả chia thành 4

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

kiểu truyện. Nhìn vào cách chia, ta thấy tác giả chia các kiểu truyện theo

3.1. Mục đích nghiên cứu

nhân vật trung tâm và tính chất của truyện:

- Luận văn hướng tới khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật mảng

- Truyện những người dũng sĩ tài ba.

truyện cổ tích xuất hiện nhân vật trẻ thơ: đặc điểm nhân vật trẻ thơ, nghệ thuật

- Truyện người hiền lành.

xây dựng nhân vật (thuộc diện khảo sát của đề tài).

- Truyện người mồ côi.

- Tìm hiểu “văn bản” những truyện cổ tích có nhân vật trẻ thơ trong

- Truyện cười.

sách Tiếng Việt Tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh thông qua các


Tiếng Việt Tiểu học, đặc biệt truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ, hình tượng

qua kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi và truyện cổ tích

nhân vật trẻ thơ từ lớp 1 đến lớp 5; giá trị và tính giáo dục của chúng đối với

Việt Nam của Nguyễn Cừ)” nhưng những công trình này đã gợi ý và làm nền

học sinh.

tảng cho những hiểu biết của chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài luận văn.

4. Phạm vi nghiên cứu

Đặc biệt là sự lưu tâm đến các nhân vật của cổ tích trong đó có nhân vật là

4.1. Phạm vi tư liệu khảo sát

trẻ thơ. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khẳng định chưa có một đề tài nào đi sâu

Khảo sát khoảng 15 truyện cổ tích kể về nhân vật trẻ thơ trong: Kho

nghiên cứu vấn đề này. Đặc biệt những truyện cổ tích có những nhân vật trẻ

tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập) của Nguyễn Đổng Chi và Truyện cổ tích

thơ trong sách Tiếng Việt Tiểu học cũng chưa được quan tâm. Vì thế chúng

Việt Nam (4 tập) của Nguyễn Cừ sưu tầm, biên soạn.

7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai thành 3
chương:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Thế giới trẻ thơ trong truyện cổ tích của Nguyễn Đổng Chi
và Nguyễn Cừ

9

Chương 3. Truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ trong sách Tiếng Việt
Tiểu học và ý nghĩa giáo dục


10

11

NỘI DUNG

hành trong nhân dân, có mục đích giải trí người nghe, nội dung kể lại những

CHƯƠNG 1

sự kiện khác thường (những sự kiện tưởng tượng có tính chất thần kỳ hoặc thế

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

sự) và mang những nét đặc trưng về hình thức cấu tạo và phong cách thể
hiện”.


thế giới thần kì, những câu chuyện không có quan hệ với những điều kiện của
đời sống thực và làm thỏa mãn người nghe thuộc mọi tầng lớp xã hội ngay cả
dù cho họ tin hay không tin vào những điều được nghe kể”.
Theo ý kiến của V.Propp nhà nghiên cứu về motip, bước đầu ta có thể
định nghĩa truyện cổ tích: “Truyện cổ tích là một thể loại truyện kể, phân biệt
với các loại truyện kể khác do những nét đặc trưng về thi pháp của nó”. Trên
cơ sở những nguyên tắc, nhà nghiên cứu Folklore người Nga này cũng đưa ra
khái niệm như sau: “Truyện cổ tích là những truyện kể truyền miệng, lưu

là những xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi
gia đình và xã hội. Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi
là “Tưởng tượng và hư cấu cổ tích”), kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc
thù khác để phản ánh đời sống và ước mơ của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận
thức, thẩm mỹ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kỳ, những
hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở Việt Nam chủ yếu là xã
hội phong kiến)” [28, tr.61].
Tác giả Chu Xuân Diên trong cuốn Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam
cho rằng, trong hàng loạt định nghĩa đã có về truyện cổ tích, có thể nêu lên
mấy nội dung chung ít nhiều có sự thống nhất như sau:
“Truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thủy, do đó có những yếu tố
phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tượng tự nhiên và xã
hội có ý nghĩa ma thuật. Song, truyện cổ tích phát triển chủ yếu trong xã hội
có giai cấp nên chủ đề chủ yếu của nó là chủ đề xã hội, phản ánh nhận thức
của nhân dân về cuộc sống xã hội muôn màu muôn vẻ với những xung đột
đặc trưng cho các thời kỳ lịch sử khi đã có tư hữu tài sản, có gia đình riêng, có
mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp.


12


“Truyện cổ tích là loại sáng tác văn nghệ của nhân dân. Nó có đặc trưng nghệ

khoa học trong và ngoài nước về truyện cổ tích, ta có thể rút ra mấy vấn đề

thuật riêng biệt không giống với các loại truyện ngụ ngôn, khôi hài, tiếu lâm,

cần quan tâm sau:

cũng như có phần khác với thần thoại, truyện tôn giáo và truyện thời sự. Do

- Truyện cổ tích là một loại truyện kể chứ không phải truyện tả. Truyện

tính chất truyền miệng, nó mang hình thức truyện kể chứ không mang hình

mang tính chất truyền miệng, nó là loại sáng tác có tính tập thể của nhân dân.

thức truyện tả, và do đó cũng không đồng nhất với tiểu thuyết. Nhưng với khả

- Truyện cổ tích ra đời vào giai đoạn cuối của thể loại thần thoại, nó

năng hấp dẫn không kém gì tiểu thuyết, trong một thời kỳ mà tiểu thuyết chưa

ứng với quá trình tan rã của công xã nguyên thủy, sự hình thành của gia đình

phải là thứ nghệ thuật phổ cập, thì nó là một trong những loại hình nghệ thuật

phụ quyền và quá trình phân hóa giai cấp trong xã hội. Nó làm nhiệm vụ giải

quan trọng, làm nhiệm vụ giải trí cho dân chúng, đồng thời cũng thỏa mãn


cơ bản thuộc về đề tài, cốt truyện và nhân vật của cổ tích.

Thống nhất với các quan niệm trên, có ý kiến thì cho rằng, cổ tích là
một thể loại dân gian có tính chất phổ biến, hình thành từ thời cổ đại, phát

1.1.2.1. Đề tài

triển, tồn tại qua nhiều thời kì xã hội khác nhau, gắn chặt với quá trình tan rã

Phần lớn truyện cổ tích ra đời khi xã hội đã phân chia giai cấp. Điều đó

của công xã nguyên thủy, hình thành gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp

quyết định lớn tới vấn đề người kể chuyện quan tâm. Nếu thần thoại chủ yếu


14

15

phản ánh mối quan hệ con người – thiên nhiên, truyền thuyết phản ánh mối

+ Lý tưởng xã hội thẩm mỹ của nhân dân: Truyện cổ tích cho thấy sự

quan hệ con người và cộng đồng, dân tộc, quốc gia thì cổ tích hướng tới mối

bế tắc của tầng lớp nghèo khổ trong xã hội cũ. Trong cổ tích tác giả dân gian

quan hệ giữa con người và con người trong xã hội. Sáng tạo cổ tích, người


sống của cổ tích cũng chính vì hai mảng màu đó. Truyện cổ tích không chỉ
phản ánh những “cái đang có, hiện có mà còn những cái có thể có”.
1.1.2.2. Kết cấu truyện

giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ côi, người em út, người con riêng, người

Nói đến truyện không thể không lưu tâm đến kết cấu cốt truyện ra sao.

nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch

Kết cấu cốt truyện bao gồm chuỗi các sự kiện, hành động của nhân vật được

và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con

sắp xếp, gắn kết theo một ý tưởng nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nó là

người.

phương tiện cơ bản, tất yếu của khái quát nghệ thuật, đảm nhiệm nội dung

Những đề tài, chủ đề trong truyện cổ tích thường đề cập tới những vấn
đề sau phổ biến như sau:

chức năng như bộc lộ tốt chủ đề và tư tưởng của tác phẩm.
Truyện cổ tích thường được xây dựng theo một sơ đồ chung nhất định

+ Phản ánh và lý giải những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình và xã

nào đó và số lượng sơ đồ này là rất ít. Mọi vấn đề nội dung, nghệ thuật của



cũng chui vào lờ. Tuy vậy, nó không chui ra dễ dàng như lươn được. Cá cố

Dựa trên kết cấu của những truyện cổ tích truyền thống giới nghiên cứu

hết sức mà không thể thoát ra được ra. Nó quẫy xây sát cả vây, giập cả đuôi,

phác họa những kiểu sơ đồ phổ biến. Trong cuốn Văn học tập II (Giáo trình

khóc mãi cá đỏ cả mắt. Lươn ta thích chí vì lừa được bạn, cười đến nỗi híp cả

đào tạo giáo viên Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12+2, NXB Giáo

mắt. Mặc dù trước đó mắt nó cũng to.

dục, 1988), tác giả Đỗ Bình Trị đã giới thiệu những kiểu sơ đồ phổ biến làm
nên kết cấu của truyện cổ tích thần kỳ.

đã phác thảo bên trên.

Ở dạng thức phổ biến nhất, cổ tích thần kỳ thường có mô hình kết cấu
truyện như sau:

Kết cấu của truyện cổ tích truyền thống không nhiều sự kiện, đơn giản.
Đây cũng là dạng thức khá phổ biến trong truyện viết cho thiếu nhi. Đặc biệt

Lai lịch nhân vật (Trung tâm)
Gặp tai họa

Như thế là đã rõ, kết cấu của cổ tích loài vật như dạng thức chúng tôi


động tới đâu không gian mở rộng tới đó, nhưng không gian này không có

Ở cổ tích loài vật, thường có lời kể ngắn, ít sự kiện nhưng phần kết khá

quan hệ với không gian thực tại. Đó là không gian khép kín”.

linh hoạt. Nhằm mục đích lý giải những đặc điểm, thói quen, tính tình... của

Ngoài nhân vật, kết cấu cốt truyện, truyện cổ tích viết cho thiếu nhi còn

các loài nên truyện cổ tích loài vật thường “lựa” theo mục đích đó. Trên cái

có những yếu tố khác thuộc về hình thức như: Ngôn ngữ, các biện pháp nghệ

nhìn chung nhất truyện cổ tích loài vật thường có dạng thức sau:

thuật (miêu tả, so sánh, …). Điều đó giúp tác giả thể hiện tốt những nội dung

Giới thiệu nhân vật (là con vật)
Nhân vật hành động

Tình huống xảy ra với nhân vật
Kết quả của hành động.

Ví như truyện Lươn và cá gáy có thể tóm tắt như sau: Ngày xưa, Lươn
và cá gáy vốn là đôi bạn thân. Một lần vào đêm trăng, cả hai đi dạo. Chúng

muốn chuyển tới độc giả.
1.1.2.3. Nhân vật


đứa bé (người con) hiếu thảo, dân làng lại nhẫn tâm. Ở Cây khế hay Hà rầm

nghĩa này của tác giả Lại Nguyên Ân cũng được in trong mục từ “Nhân vật”

hà rạc, người anh gian tham, người em thật thà thơm thảo. Ở truyện Làm theo

của Từ điển văn học (Bộ mới) [tr. 1254].

lời vợ dặn, người vợ thông minh, người chồng ngốc nghếch…

- Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Nhân vật là đối

Kho tàng cổ tích có các kiểu truyện như: Kiểu truyện người em út (em

tượng (thường là con người) được miêu tả thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật

út là nhân vật chính); kiểu truyện người con côi (nhân vật mồ côi là nhân vật

[tr. 711].

chính); kiểu truyện nhân vật đội lốt xấu xí mà tài ba (nhân vật đội lốt xấu xí

- Cuốn Lý luận văn học tập 2 (Trần Đình Sử chủ biên) quan niệm nhân
vật văn học “là nhân vật dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong
tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo thể hiện bằng các
phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [tr. 114].

mà tài ba là nhân vật chính); kiểu truyện chàng ngốc (chàng ngốc là nhân vật
chính)…

cậu giàu có là nhân vật phản diện, cậu bé nghèo là chính diện; trong Sự tích

với kết thúc có hậu. Đó có thể là Tiên, Bụt, loài chim, Lươn… Không có lực
lượng này, nhân vật trung tâm bế tắc và khó có thể đổi đời, đi về phía cuộc
đời tốt đẹp.


20

21

Nhân vật cổ tích có thể thuộc các lứa tuổi: già, trẻ thơ và thiếu nữ,

Xét từ góc độ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, và nhất là trên cơ sở của

chàng trai. Họ có mặt trong các lời kể tùy theo cốt truyện. Các nhân vật trẻ

chương trình tiểu học cùng những căn cứ của các nhà nghiên cứu ta thấy, việc

thơ đề tài luận văn khảo sát là một loại nhân vật như thế.

phân chia theo Nguyễn Đổng Chi là tương đối hợp lý. Ông chủ yếu dựa trên

Nhân vật cổ tích có thể không phải là con người mà là loài vật: con vật

các đặc trưng loại hình của truyện, được biểu hiện ở một số tiêu chí có giá trị

hay hoa lá cỏ cây. Loại nhân vật này làm nên một biến thể sinh động của cổ

khu biệt thành một số kiểu truyện. Ông viết: “Thực ra đối với truyện cổ tích


đời xưa”, chúng ta sẵn có quan niệm rằng, đấy là một danh từ chung bao gồm

Truyện cổ tích thần kỳ, được xem là bộ phận phong phú nhất trong các

hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các

tiểu loại truyện cổ tích. Như tên gọi của nó, yếu tố thần kỳ đóng vai trò quan

thời đại. Chính vì đứng trước một kho tàng truyện cổ tích đồ sộ, nên việc xác

trọng trong kết cấu và quá trình dẫn dắt câu chuyện. Yếu tố thần kỳ này có cội

định đặc trưng từng loại truyện khác nhau để đi đến phân loại chúng là việc

nguồn trong tín ngưỡng của nhân dân. Người kể chuyện mượn yếu tố thần kỳ

làm hết sức khó khăn, nhưng lại vô cùng cần thiết, nhất là trong việc giảng

để làm phương tiện hỗ trợ cho hoạt động của con người, truyện đến với con

dạy thể loại này ở nhà trường. Trên cơ sở này, ông đã đưa ra cách phân loại

người mang một bài học giáo huấn nào đó trong xã hội thời bấy giờ.

truyện cổ tích thành 3 loại:

Các tác giả đã giải quyết các mâu thuẫn bằng cách tạo ra truyện để

1. Truyện cổ tích thần kỳ

tham lam; ở truyện Thạch Sanh, Lí Thông đã bị trời đánh chết hóa thành con

đặt vào trung tâm. Các nhân vật dù nhiều hay ít, mạnh hay yếu đều là đối

bọ hung.

tượng chính phản ánh trong truyện. Ngay việc đặt tên cho tác phẩm cũng phản

Truyện cổ tích thần kỳ có thế giới riêng của mình. “Thế giới của truyện

ánh rất rõ điều đó, hầu hết các truyện cổ tích thần kỳ đều mang tên của nhân

cổ tích” được tồn tại trong trí tưởng tượng của người kể, người nghe truyện

vật chính, là người hoặc một cái tên nói về thế giới thực tại của con người chứ

cổ tích. Trong thế giới đó, con người, loài vật và các lực lượng thần kỳ ở cõi

không lấy tên các nhân vật thần kỳ. Ví như truyện: Tấm Cám, Thạch Sanh,

khác nhau nhưng lại có quan hệ và chi phối lẫn nhau một cách thường xuyên

Chử Đồng Tử, Cây Khế, ...

và chặt chẽ, nhất là tác động chi phối thường xuyên và mạnh mẽ của các lực

Việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột giữa người với người trong

lượng thần kỳ đối với con người và cõi đời. Ở cõi trần có người thiện - kẻ ác;


cái thực và cái ảo, duy vật và duy tâm, …). Truyện cổ tích thần kỳ xây dựng

không thể nào phát triển và giải quyết được. Hầu hết, các vấn đề xã hội được

trên nguyên tắc nhất quán và chặt chẽ, là dùng tưởng tượng và hư cấu để nối

nêu lên trong truyện cổ tích thần kỳ đều được giải quyết chi phối trực tiếp

tiếp hiện thực với lý tưởng, cõi trần với cõi tiên, con người với thần thánh…,

hoặc gián tiếp của các lực lượng thần kỳ (phương pháp tưởng tượng hư cấu

tạo thành một thể thống nhất. Tuy đó là sự thống nhất kỳ ảo, nhưng nó đã

mang tính chất thần kỳ, kỳ ảo).

thực sự tồn tại như một thực thể vốn có và cần phải có trong tâm niệm, quan

Trong truyện cổ tích thần kỳ, khi nào xung đột xã hội phát triển đến độ

niệm, niềm tin của tác giả gửi gắm trong mỗi truyện.

căng thì lực lượng thần kỳ, kỳ ảo mới xuất hiện rồi sau đó lại biến đi để cho

Về thế giới nghệ thuật, không một bộ phận truyện dân gian nào có số

con người và việc đời lại diễn ra bình thường theo quy luật nội tại của nó. Khi

lượng và nhân vật đông đảo, đa dạng và phức tạp như truyện cổ tích thần kỳ.



đời sống và cái lí của cảm xúc thẩm mỹ, của hư cấu nghệ thuật.

người nghe, người đọc bằng cách đem lại thế giới không thực thay thế cho thế

Thời gian và không gian trong truyện cổ tích thế sự được tác giả quan

giới thực. Mà thế giới không thực đó lại bao gồm những cái đang xẩy ra, đáng

niệm, diễn tả gần giống với thời gian và không gian thực tại, trong quan niệm

lẽ phải xẩy ra; cho nên, chính nó còn giúp người ta thực hiện, hiện thực hóa

thông thường của nhân dân. Trong truyện cổ tích thế sự, không có hiện tượng

những ước mơ không tưởng. Nghĩa là, chỉ trong khoảnh khắc có thể quên

thời gian kéo dài, thời gian đứng yên. Cuộc đời của các nhân vật chính diện

bẵng những cái đang xảy ra giữa cõi đời thực để nhập thân vào một thế giới

thường được nói tới trong một phạm vi thời gian và không gian hạn chế, với

hoàn toàn xa lạ nhưng vốn có những điểm đồng cảm về lý tưởng thẩm mỹ với

những sự việc và hành động được tập trung hóa. Các vấn đề về nhân vật, tính

chính mình. Điều đó giải thích, vì sao người nông dân xưa kia có thể tạm

chất thẩm mỹ... rất phong phú và đa dạng. Nó vừa có yếu tố của cổ tích thần

27

c) Truyện cổ tích loài vật

1.2. Truyện cổ tích về nhân vật trẻ thơ (Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của

Cổ tích loài vật là những sáng tác dân gian lấy nhân vật trung tâm của

Nguyễn Đổng Chi và Truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Cừ)

truyện là con vật. Đó có thể là con thỏ, con rùa, con cò, con sói, con mèo, con

1.2.1. Thống kê

hổ, gà... Ví như truyện Sự tích vết rạn trên mai con rùa, Mèo và cò, Trâu và
Ngựa, Hươu và Rùa, Chú Thỏ tinh khôn..
Thế giới loài vật trong loại cổ tích này có thể là loài sống hoang dã ở
rừng như Sư tử, Voi, chim chóc; có khi ở dưới nước như cá, tôm, ba ba, rùa,
ốc; có khi là các con vật gần gũi với con người như gà, mèo, trâu, ...

Khảo sát Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập) của Nguyễn Đổng
Chi và Truyện cổ tích Việt Nam (4 tập) truyện cổ tích của Nguyễn Cừ sưu
tầm, biên soạn, chúng tôi có các con số thống kê sau đây về những truyện cổ
tích xuất hiện trẻ thơ là nhân vật trung tâm của truyện:
STT

Tên truyện

Tên tác giả


2

Lấy con vật là nhân vật chính, loại cổ tích này gần với truyện ngụ ngôn.

4

Sự tích tiếng kêu ác ác

,,

2

Tuy vậy, chúng có sự khác biệt. Ngụ ngôn chỉ mượn các con vật, là cái cớ để

5

Lươn thần và cậu bé nghèo khổ

,,

4

giử vào đó những bài học về đạo đức, về cách sống thì truyện cổ tích loài vật

6

Hai ông trạng nhỏ

,,


1

(Lươn và cá chép)...

10

Sự tích chim Hít Cô

,,

1

11

Con mối làm chứng

,,

2

12

Em bé thông minh

,,

2

13



truyện có nhân vật trẻ thơ là nhân vật trung tâm chiếm số lượng không nhiều:

đứa trẻ bất hạnh, nghèo khổ có cuộc sống tốt đẹp hơn (Chiếc bật lửa thần,

15 truyện. Điều này cho thấy tác giả dân gian chưa lấy nhân vật trẻ thơ làm

Lươn thần và cậu bé nghèo khổ)

đối tượng cho lời kể.
Thứ hai, nhân vật trẻ thơ chỉ xuất hiện trong hai biến thể cổ tích thần kỳ
và cổ tích sinh hoạt.

Tiểu kết chương 1
Truyện cổ tích là một loại truyện kể chứ không phải truyện tả. Truyện
mang tính chất truyền miệng, nó là loại sáng tác có tính tập thể của nhân dân.

Thứ ba, những truyện về nhân vật trẻ thơ cũng hòa chung trong dòng

Thuộc loại hình tự sự dân gian, cổ tích có những đặc điểm riêng so với các thể

chảy cổ tích. Truyện thể hiện giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, giá trị thẩm

loại tự sự khác. Truyện cổ tích khai thác những mảng đề tài khác nhau trong

mỹ, giá trị giáo dục của truyện đối với các em học sinh.

đời sống nhân sinh.

Dù gắn với đề tài gia đình hay đề tài xã hội thì ý nghĩa xã hội (nội

Ngoài ra, truyện cổ tích còn nói lên triêt lý sống, đạo lý làm người và
ước mơ công lý của nhân dân. Triết lý sống trước hết đó chính là lòng yêu
thương quý trọng con người, từ đó yêu đời, tin vào cuộc đời cho dù cuộc sống

Thông qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, truyện cổ tích có nhân vật trẻ
thơ là nhân vật trung tâm chiếm số lượng không nhiều. Điều này cho thấy tác
giả dân gian chưa lấy nhân vật trẻ thơ làm đối tượng cho lời kể.


30

CHƯƠNG 2
THẾ GIỚI TRẺ THƠ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA
NGUYỄN ĐỔNG CHI VÀ NGUYỄN CỪ

31

- Truyện cười.
Năm 1981, trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước
cách mạng tháng 8/1945), Nhà xuất bản văn hóa – Hà Nội, Phan Đăng Nhật
khi bàn đến văn học kể, cụ thể là truyện cổ tích, ông đã dựa trên tiêu chí: Mâu

2.1. Phân loại nhân vật trẻ thơ

thuẫn xã hội và những nhân vật trung tâm của truyện cổ tích tiêu biểu cho

2.1.1. Cơ sở phân loại

mâu thuẫn. Tác giả đã tiến hành phân loại truyện cổ tích các dân tộc thiểu số


- Người dũng sĩ – chàng trai khỏe.

- Người em út.

- Người khổng lồ.

Phan Đăng Nhật, Nông Quốc Chấn trong cuốn Lịch sử văn học Việt

- gười thông minh, tài trí và sức khỏe.

Nam, tập 1 (Nhà xuất bản Khoa học xã hội – Hà Nội, 1980), ở chương VI, khi

- Người đội lốt xấu xí.

đề cập đến truyện cổ tích của các dân tộc ít người, các tác giả chia thành 4

- Nhân vật thần kỳ.

kiểu truyện. Nhìn vào cách chia, ta thấy tác giả chia các kiểu truyện theo nhân

- Nhân vật nửa thần kỳ.

vật trung tâm và tính chất của truyện:

- Nhân vật là người.

- Truyện những người dũng sĩ tài ba.

- Nhân vật thiện.


lõm

mạnh, người khổng lồ, người thông minh tài trí và sức khỏe). Các tác giả dựa

2

Chiếc bật lửa thần

trên tiêu chí về phẩm chất để phân loại.

3

Chú bé thông minh

4

Sự tích tiếng kêu ác ác

+ Nhóm thứ 3: Cũng lấy tiêu chí phẩm chất làm cơ sở để phân loại, các
tác giả chia nhân vật làm hai loại (nhân vật thiện và nhân vật ác).
+Nhóm thứ 4: Xuất phát từ tiêu chí hình thức, các tác giả chia nhân vật

5

Lươn thần và cậu bé nghèo
khổ

Thành phần

Phẩm chất nhân


Gốc tích cái nốt dưới cổ con

Nhìn một cách khái quát, các nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa ra những

8

cách phân loại nhân vật của mình dựa trên những tiêu chí khác nhau. Đó là

9

Sự tích chim Hít Cô

điều đáng ghi nhận về mặt khoa học. Sự phân loại đó đều diễn ra theo hai

10

Con mối làm chứng

hướng: Một là, phân loại ở cấp độ cụ thể, chi tiết; hai là, phân loại ở cấp độ

11

Người hóa dế

Thiện

khái quát. Tuy nhiên, không một cách phân loại nào có khả năng bao quát

12


Mồ côi
Thông minh, tài trí


34

2.2. Đặc điểm nhân vật trẻ thơ trong truyện cổ tích
2.2.1. Hoàn cảnh xuất thân của nhân vật trẻ thơ

35

Các nhân vật giàu có (trưởng giả, phú ông, phú trưởng...) xuất hiện khá
thường xuyên trong truyện cổ tích nhưng ít khi có tên riêng, phần lớn là nhân

Nhân vật trong truyện cổ tích khá phong phú và đa dạng. Đặc biệt, các

vật phản diện, tham lam, độc ác. Như truyện Lươn thần và cậu bé nghèo khổ,

nhân vật là người bao gồm nhiều loại nhân vật thuộc các giới tính, các lứa

người ông cậu rất giàu có nhưng bản tính lại tham lam, độc ác. Khi đứa trẻ

tuổi, các thành phần giai cấp khác nhau trong xã hội người Việt thời kì Hùng

(người cháu) bần cùng, trong nhà không còn gì ăn, tới vay người cậu lúa

Vương dựng nước đến cuối thời kì phong kiến tự chủ (trước cách mạng tháng

nhưng không cho và còn suỵt chó ra đuổi đi. Hay khi người cháu trở nên giàu


một thời gian người mẹ đi lấy chồng. Em theo mẹ ở với người bố dượng độc

cơm không đủ ăn, chăn không có đắp, nhà dột nát tứ tung…

ác. Đứa trẻ bị đánh đập, bị lừa vào rừng sâu để rồi phải nhận lấy cái chết.

Ví như trong truyện Sự tích bàn chân người bị lõm cậu bé là một đứa

Truyện Sự tích chim Hít cô, đứa bé mồ côi cha mẹ ở với người cô đã già, nhà

trẻ sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, mồ côi cha từ khi bé; truyện Sự tích

bần khổ, đứt bữa.

tiếng kêu ác ác, hai cậu bé Sim và Sam là con nhà nghèo khổ nhất làng. Khi

Các nhân vật bề trên, đàn anh (chị) trong gia đình phụ quyền, dù xuất

Sam lên tám, Sim lên năm thì bố mẹ mất. Hai đứa nhỏ sống ở một cái lều chỉ

thân trong gia đình giàu hay nghèo họ cũng đều giống nhau ở tính tham lam,

che được nắng, khi trời mưa thì lều của chúng giống như bên ngoài trời vậy;

độc ác. Như truyện Thạch Sanh, mẹ con Lý Thông lừa Thạch Sanh để cướp

cậu bé trong Chiếc bật lửa thần cũng mồ côi, không anh em, không có họ

công. Hay trong truyện Hai ông trạng nhỏ, ông vua luôn kiêu ngạo cho rằng

tính tình hiền lành, hiếu thảo với cha mẹ; ...).

cảnh khá giả. Tuy nhiên, số đó rất ít, chỉ có hai nhân vật. Đó là cậu bé trong

+ Người mồ côi như Chử Đồng Tử trong truyện Chử Đồng Tử, hiếu

truyện Người hóa dế. Em có cha làm cai tổng. Chú bé thông minh trong

thảo với cha; Thạch Sanh trong truyện Thạch Sanh – thật thà, chất phác, tin

truyện cùng tên được sinh ra trong một gia đình vua chúa. Người mẹ là con

tưởng vào người khác, có lòng vị tha và bao dung, dũng cảm và tài năng; ...

gái của vua. Những em bé này không phải lo lắng về miếng cơm manh áo như

Mảng truyện cổ sinh hoạt có một số kiểu nhân vật chính sau:

những em bé ở các truyện trên. Em bé có một cuộc sống sung túc, đầy đủ mà

+ Nhân vật đức hạnh: người mẹ trong Mẹ hiền dạy con, thương con,

rất nhiều em bé mơ ước muốn có được.

hiền từ, thông minh, nghiêm khắc, kiên quyết, là tấm gương sáng về tình

2.2.2. Phẩm chất của nhân vật

thương và cách dạy con.


thương chịu khó, nhẫn nại trong tình cảnh cơ khổ. Ở cuộc đời để kiếm sống

đều mang những phẩm chất tốt đẹp: hiền lành, tốt bụng, chịu khó, thông minh

nuôi thân và người ruột thịt.

tài trí, ... Những phẩm chất đó biểu hiện khác nhau ở những nhân vật trong
truyện.
Chẳng hạn, trong mảng truyện cổ tích thần kỳ có một số kiểu nhân vật
chính như:

Cậu bé trong truyện Lươn thần và cậu bé nghèo khổ lâm vào bước
đường cùng: người bà ốm nặng, trong nhà không còn cái gì để ăn, đi vay tạm
người ông cậu không được. Vậy là, cậu bé đã “lấy rổ, ra suối xúc cá. Cậu xúc
mãi, vẫn chẳng được gì”. Nhưng em cứ nhẫn nại rồi được một con lươn thần.
Để duy trì sự sống, em bé trong Chiếc bật lửa thần, đã nhẫn nhịn lang thang
mưu sinh bằng việc đi ăn mày qua các làng quê.


38

39

Tự mưu sinh kiếm sống, hai đứa trẻ trong Sự tích tiếng kêu ác ác, hàng

có thuốc chữa bệnh cho mẹ, không ngại gió rét, khi trên người chỉ “phong

ngày làm vất vả. Chỉ với một con dao cùn và chiếc cuốc mẻ, Sim và Sam “lên

phanh một manh áo mỏng”, em vẫn vào rừng tìm thuốc. Đau xót, khi biết mẹ

bé có đức tính hiếu thảo, thật thà, giàu tình thương yêu.

Chú bé mồ côi trong Chiếc bật lửa thần có một tấm lòng nhân ái cao
cả. Bản thân Mồ Côi đã trải qua cuộc sống nghèo khổ, không có một bữa cơm

Em bé trong Sự tích bàn chân người bị lõm, có lòng hiếu kính, xót

no. Vì vậy, khi có nhiều vàng bạc, cậu bé đã cùng chiếc bật lửa thần đi khắp

thương cha mẹ. Trước tục lệ của làng (khi có người chết đi thì họ hàng, làng

thiên hạ giúp đỡ mọi người có cuộc sống cơ cực đỡ tối tăm hơn. Những em bé

xóm đến xẻo thịt người chết mang về ăn), và thấu hiểu được nỗi vất vả của

có cuộc sống như Mồ Côi trước kia, lang thang xin ăn, đều được em giúp đỡ:

cha mẹ nuôi dạy mình, cậu bé luôn trăn trở và tìm cách để sau này khi mẹ mất

“Hễ thấy các em bé đói rách, bao giờ cậu cũng mua quần áo và cho ăn uống”.

không cho ai ăn thịt. Ngày mẹ cậu bé mất cũng đã đến, thương mẹ, cậu còn

Đứa trẻ mồ côi này trở thành ân nhân của rất nhiều người.

xẻo cả thịt ở bàn chân mình cho người làng chưa nhận được phần, rồi ngày
đêm túc trực bên thi hài của mẹ để canh giữ.

Bên cạnh những em bé hiện lên trong truyện với phẩm cách ngoan
hiền, chăm chỉ thì còn có những em bé thông minh, lanh lợi, mưu trí khiến



40

Nhà vua thấy đứa bé nói có lý, bế cháu lên lòng khen giỏi. Đứa bé được
ông bế lại hỏi:

41

trước câu hỏi của cụ Bá, em đáp lời như một câu hỏi chất vấn lại: “Bố tôi đi
chém cây sống trồng cây chết. Mẹ tôi đi bán gió mua que”. Trước sự thông

- Ông ơi ông! Thiên hạ ai to nhất?

minh đó, cụ Bá tò mò, đánh đổi món nợ của nhà cậu bé để biết được lời giải.

Vua nói: - Ông làm vua, ông không to thì còn ai to?

Trước sự “lật lọng” của cụ, em cũng vẫn bình tĩnh để đòi lại công bằng. Tài

Đứa bé lại cho rằng:

trí của em còn được thể hiện khi đi hầu kiện trên công đường. Chỉ với một

- Ông bảo ông to, sao ông lại còn bế cháu.

mẹo nhỏ trong cách kể lại câu chuyện giữa em và cụ Bá cho mọi người nghe,

Vua lại trả lời:


lợp nhà nước không thấm qua?”.

Nếu như truyền thuyết thường quan tâm đến số phận của dân tộc, đến
những nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử thì cổ tích lại quan tâm đến số phận
con người.
Truyện cổ tích là truyện kể về cuộc đời, số phận của một số kiểu nhân
vật quen thuộc (người mồ côi, người mang lốt xấu xí mà người tài năng,

Qua đoạn đối thoại giữa hai nhân vật, trí thông minh của chú bé đã bộc

người dũng sĩ, người nghèo khổ, ...). Cổ tích kể lại những sự việc xảy ra trong

lộ rõ. Người làm vua phải chịu thua con trẻ. Không chỉ đối đáp giỏi, cậu bé

đời sống gia đình và xã hội của con người. Những nhân vật trung tâm chịu

còn có những hành xử khác thường trước sự thách đố của người ông trong

nhiều bất hạnh, họ bị ngược đãi, bị chà đạp. Những nhân vật tài giỏi, dũng sĩ

những công việc khó làm. Ví như: Cậu bện được dây thừng bằng tro bếp, cậu

(có tài đặc biệt, phi thường về một lĩnh vực nào đó) thì cuộc đời, số phận của

uốn được sừng trâu thẳng ra. Những “mẹo nhỏ” ấy đã khiến đứa cháu chiến

họ gắn với chiến công, diệt cái ác, bảo vệ cái thiện, mưu cầu hạnh phúc cho

thắng, nhà vua thua cuộc.


nương tựa mà tiếp tục sống. Sim và Sam, trong Sự tích tiếng kêu ác ác, là hai

thường, ta gọi là có hạnh phúc. Vậy mà, những đứa trẻ xuất hiện trong lời kể

đứa trẻ thật đáng thương, bố mẹ mất hết. Chúng không có họ hàng thân thích.

cổ tích dường như không thể có một cuộc sống khiêm nhường, giản dị như

Hai đứa trẻ bơ vơ không người nương tựa, tự mưu sinh.

thế. Các em có những cuộc đời thật bất hạnh.

Không chỉ nỗi bất hạnh côi cút, mà những đứa trẻ còn chịu cuộc sống

Trước hết là nỗi bất hạnh khi còn thơ dại đã côi cút: cha hoặc mẹ mất

cơ cực, nghèo khổ. Những thiếu thốn về tình thương chưa dứt thì vấn đề cuộc

sớm. Cũng có khi còn bé các em đã không còn cha, không còn mẹ. Nhân vật

sống (miếng cơm manh áo hay nơi ăn chốn ở) quả thực là môt gánh nặng đối

con côi này đã làm nên một kiểu truyện trong cổ tích thần kỳ: kiểu truyện

với các em, khi tuổi còn quá nhỏ phải gánh chịu.

người mồ côi. Thân phận của nhân vật trở thành tên gọi của nhiều truyện.

Hai đứa trẻ trong Sự tích tiếng kêu ác ác, cha mẹ mất nên những công


thật thê thảm: “Lúc còn nhỏ, bố chết, hàng xóm cũng đến xẻo thịt ăn” (Theo

khi mưa ướt thì không có áo để thay, khi áo rách không có người mẹ bên cạch

lời kể phong tục của người cổ xưa), thì ở vùng quê đó, người ta không mai

để vá cho. Trong nhà chỉ có một con dao cùn và chiếc cuốc đã mẻ.

táng người chết mà “nhà nào có người chết thì họ hàng, làng xóm kéo đến
chia nhau xẻo thịt về ăn”.

Truyện Lươn thần và cậu bé nghèo khổ, ngay từ tên câu chuyện đã cho
biết cuộc sống của cậu bé. Cái “nghèo” ngày càng đe dọa tới cuộc sống của

Cậu bé ở buôn làng nọ, trong lời kể Lươn thần và cậu bé nghèo khổ, là

hai bà cháu khi người bà ngày càng già yếu. Bình thường, “cơm không đủ ăn,

đứa trẻ “mồ côi sống với bà”. Người già và bé thơ yếu ớt, cô đơn không thể

mềm không có mà đắp”. Dù cậu bé có cố gắng chăm chỉ đi xúc cá, nhưng với


44

45

tuổi còn nhỏ nên cả buổi “xúc được một con lươn nhỏ xíu”. Đứa trẻ có một

bố dượng muốn giết đứa trẻ thêm dữ dội. Lừa em vào rừng sâu, nơi không


Cũng có cuộc sống hạnh phúc, cậu bé trong Chú bé thông minh, lớn lên

Cuộc sống côi cút, nghèo khổ đã là một bất hạnh lớn đối với những đứa

trong sự bao bọc của người mẹ và người ông. Mẹ là công chúa, còn người ông

trẻ còn thơ dại. Vậy mà, các em còn phải chịu thêm những tai họa, bị chà đạp

là vua một nước. Tuy không có cha nhưng những bù đắp từ mẹ và ông dành

không một chút thương xót. Cậu bé Mồ Côi trong Chiếc bật lửa thần là một

cho khiến cậu bé không cảm thấy bị thiệt thòi. Cuộc sống luôn có sẵn mọi

đứa bé mồ côi, lang thang sống nhờ sự bố thí của mọi người. May mắn, cậu

thứ, mọi điều cậu muốn. Có người hầu hạ, cơm bưng nước rót, ở trong ngôi

đã có được chiếc bật lửa thần, cuộc sống thay đổi, đứa trẻ có nhiều vàng bạc.

nhà không những kiên cố, vững chắc mà còn được trang hoàng lỗng lẫy. Tuy

Nhưng sự yên ổn đó không được bao lâu, chuyện tới tai vua. Ông vua tham

vậy những số phận may mắn của trẻ thơ được tái hiện trong truyện cổ tích

lam, độc ác đó dùng mọi mưu đồ “bắt nhốt, đánh đập rất đau” đứa trẻ tội

như vệt sáng thoáng qua. Chút màu tươi tắn ấy thật hiếm hoi. Điều đó cho


nắng chứ không che được mưa. Tuy đời sống côi cút nhưng hai anh em biết
đâu là điều hay, điều tốt, khi đói khát mưa gió không xin ai cái gì. Và chính



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status