ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------
HOÀNG MINH TRANG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ TRẺDƢỚI 6 TUỔI
BỊ KHUYẾT TẬT TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------
HOÀNG MINH TRANG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ TRẺ DƢỚI 6 TUỔI
BỊ KHUYẾT TẬT TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số
mọi điều kiện để em hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng cảm ơn các thành viên trong Hội đồng đã đóng góp
nhiều ý kiến quý báu để em hoàn thành đề cương, tiến hành nghiên cứu đề tài.
Em cũng xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới:
Ban Giám đốc, Khoa Phục hồi chức năng, Phòng Truyền thông và
Chăm sóc khách hàng Bệnh viện Nhi Trung ương đã tạo những điều kiện tốt
nhất cho em trong suốt quá trình thu thập thông tin – xác định vấn đề nghiên
cứu đến quá trình hoàn thiện đề cương, tiến hành thu thập số liệu và hoàn
thành đề tài.
Tác giả xin dành tình cảm đặc biệt và sự cảm ơn chân thành đến 203 bà
mẹ, mặc dù còn rất nhiều khó khăn, bận rộn nhưng đã tự nguyện, nhiệt tình
tham gia nghiên cứu để tôi có đựợc bộ số liệu của đề tài này.
Mặc dù đã rất cố gắng song đề tài không tránh khỏi những mặt còn hạn
chế, sai sót rất mong nhận được sự tham gia, góp ý của thầy cô, bạn bè để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2017
Tác giả
Hoàng Minh Trang
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
DANH MỤC VIẾT TẮT ............................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ ................................................................... vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
2.3.1. Nghiên cứu lý luận và xây dựng công cụ nghiên cứu................... 44
2.3.2. Điều tra thực trạng ........................................................................ 44
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 45
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu: ...................................................................... 45
2.4.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: ............................................. 45
2.4.3. Phương pháp thu thập số liệu:....................................................... 46
2.4.4. Thông tin và các yếu tố trong nghiên cứu: .................................. 48
2.4.5. Phương pháp phân tích số liệu. ..................................................... 52
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu. ....................................................................... 53
2.6. Hạn chế của nghiên cứu, các sai số có thể gặp và cách khắc phục.......... 53
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 54
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................... 55
3.1.Thông tin chung: ....................................................................................... 55
3.1.1. Các yếu tố nhân khẩu xã hội học của bà mẹ. ................................ 55
3.1.2. Tuổi của bà mẹ khi sinh con bị khuyết tật. ................................... 56
3.1.3. Lựa chọn hình thức chăm sóc PHCN cho trẻ khuyết tật. ............. 57
3.1.4. Tuổi của trẻ bị khuyết tật .............................................................. 58
3.1.5. Các yếu tố thuộc về gia đình. ........................................................ 59
3.1.6. Yếu tố thuộc về môi trường xã hội. .............................................. 60
iv
3.2.Tỷ lệ trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật ................................................ 61
3.2.1. Tỷ lệ có hay không bị trầm cảm ở bà mẹ theo thang điểm BECK61
3.2.2. Tỷ lệ trầm cảm theo mức độ. ........................................................ 62
3.2.3. Tỷ lệ trầm cảm theo số con và tình trạng khuyết tật của trẻ. ........ 64
3.2.4. Tỷ lệ trầm cảm theo thời gian chăm sóc trẻ/ngày của các bà mẹ. 65
3.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật .......... 66
3.3.1. Phân tích 2 biến. ............................................................................ 66
NNDC : Người nuôi dưỡng chính
PHCN : Phục hồi chức năng
QĐ : Quyết định
RLCX : Rối loạn cảm xúc
TC : Trầm cảm
SDDV : Sử dụng dịch vụ
SKTT : Sức khoẻ tâm thần
STT : Số thứ tự
TCYTTG : Tổ chức y tế thế giới
TĐHV : Trình độ học vấn
TTYTDP : Trung tâm y tế dự phòng
UNICEF : Quỹ nhi đồng liên hợp quốc
WHO : Tổ chức y tế thế giới
VSKTT : Viện sức khoẻ tâm thần
YHCT : Y học cổ truyền
vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1. Yếu tố nhân khẩu – xã hội học ....................................................... 55
Bảng 3.2. Lựa chọn dịch vụ PHCN................................................................. 57
Bảng 3.3. Yếu tố thuộc về gia đình ................................................................. 59
Bảng 3.4. Yếu tố môi trường xã hội................................................................ 60
Bảng 3.5. Tỷ lệ trầm cảm theo thang BECK .................................................. 62
Bảng 3.6. Yếu tố thuộc về con của bà mẹ ....................................................... 64
Bảng 3.7. Thời gian chăm sóc trẻ ................................................................... 65
Bảng 3.8. Mối liên quan nhân khẩu – xã hội học ........................................... 67
Bảng 3.9. Mối liên quan với các yếu tố về trẻ khuyết tật ............................... 68
ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội, năng suất lao động cũng như sự phát
triển cá nhân nói chung. Đặc biệt hơn với đối tượng là phụ nữ, họ vừa tham gia
đóng góp cho xã hội, vừa đảm nhận vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình.
Đối với người phụ nữ, gia đình và con cái luôn là ưu tiên hàng đầu. Chính
những đứa con khỏe mạnh, ngoan ngoãn sẽ là nguồn động lực giúp cho người
phụ nữ có thể hoàn thành tốt các vai trò của mình. Nhưng trong một số trường
hợp không may mắn, người phụ nữ lại rơi vào hoàn cảnh có con bị khuyết tật.
Theo Beck và cộng sự (1974) , cảm nhận tuyệt vọng đã được xác định là
một trong những đặc điểm cốt lõi của trầm cảm, Một biểu hiện thường gặp của
trầm cảm là những cách nhìntiêu cực về tương lai. Việc sinh nở, có em bé gây
1
ra hy vọng và kỳ vọng tích cực ở tương lai ở người mẹ. Tuy nhiên, đứa con họ
sinh ra lại mang khuyết tật, đây chính là cú sốc với người mẹ dẫn đến tình trạng
trầm cảm. Khi họ phải đối mặt với tình huống đó trong cuộc sống, sẽ xảy ra rất
nhiều cảm xúc tiêu cực như : đau buồn, mất mát, sự hoài nghi, tội lỗi, từ chối, bất
lực, phủ nhận, giả dối, lo lắng, tức giận và trầm cảm trong một thời gian dài[26].
Cuộc sống của gia đình trẻ khuyết tật bị thu hẹp, hầu hết xoay quanh
việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ khuyết tật, các hoạt động tương tác của gia đình
trẻ với xã hội bên ngoài bị hạn chế. Thêm vào đó là sự lo lắng của gia đình về
tương lai,sự hòa nhập sau này của trẻ[39].
Khi trong gia đình có sự hiện diện của trẻ khuyết tật,gánh nặng kinh tế
gia tăng,trách nhiệm chăm sóc trẻ nhiều hơn, cả gia đình phải thay đổi để
thích nghi với hoàn cảnh mới, dẫn đến các xung đột trong mối quan hệ giữa
các thành viên trong gia đình. Gia đình trẻ cũng gặp nhiều vấn đề về tâm lý
khi phải chấp nhận và chung sống với trẻ khuyết tật đồng thời là cầu nối giúp
trẻ hòa nhập với gia đình và xã hội.
Người mẹ phải dành phần lớn thời gian để chăm sóc trẻ khuyết tật, họ
- 203 bà mẹ có con bị khuyết tật đến khám và điều trị ngoại trú tại bệnh
viện Nhi Trung ương. Các loại khuyết tật ở trẻ bao gồm : KT về vận
động, KT về nhìn, KT về nghe nói , KT về học , các hành vi bất
thường, động kinh.
6. Phạm vi và địa bàn nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu là các rối loạn loạn trầm cảm của các bà mẹ ở
những mức độ khác nhau như : trầm cảm mức độ nặng, mức độ vừa,
mức độ nhẹ và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm trên 203 bà mẹ
có con khuyết tật dưới 6 tuổi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Nhi
Trung ương.
- Địa bàn nghiên cứu là tại khoa Phục hồi chức năng, tầng 1 nhà 8 tầng,
Bệnh viện Nhi Trung ương ; Số 18/879 La Thành, Láng Thượng,
Đống Đa, Hà Nội.
4
- Khoa phục hồi chức năng là khoa lâm sàng, tiếp nhận khám, chẩn đoán,
điều trị vật lý trị liệu và phục hồi chức năng toàn diện cho bệnh nhi .
7. Giả thuyết khoa học
- Bà mẹ có con khuyết tật có các rối loạn trầm cảm theo các mức độ khác
nhau: trầm cảm ở mức độ nhẹ, trầm cảm ở mức độ vừa, trầm cảm ở
mức độ nặng. Trong đó, các bà mẹ có mức độ trầm cảm nặng và vừa
chiếm ưu thế trong ba mức độ trầm cảm : trầm cảm ở mức độ nặng ,
trầm cảm ở mức độ vừa , trầm cảm ở mức độ nhẹ.
- Một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm của bà mẹ: Học vấn
của bà mẹ, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế gia đình, số con bị khuyết
tật, niềm tin của bà mẹ và một số stress gặp phải trong thời gian gần
đây. Trong đó, yếu tố điều kiện kinh tế, số con bị KT và niềm tin của
bà mẹ được xem như các yếu tố có tác động mạnh đến việc mắc trầm
cha mẹ, gắn kết với nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận
thức về bản thân[12].
Tác giả Nguyễn Văn Siêm (2010) với đề tài nghiên cứu dịch tễ lâm
sàng rối loạn trầm cảm tại một xã đồng bằng sông Hồng đưa ra tỷ lệ mắc rối
loạn trầm cảm là 8,35% dân số ≥ 15 tuổi. Tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là 5/1. Tỷ
lệ mắc trầm cảm ở độ tuổi 30-59 là 58,21%, từ 60 tuổi trở lên là 36,9%. Tỷ lệ
mới mắc trầm cảm là 0,48%. Đại đa số bệnh nhân (94,24%) mắc bệnh trầm
6
cảm trên 1 năm. Số ca mắc bệnh trên 4 năm có tỷ lệ 70,3%. Tính chất tiến
triển mạn tính của trầm cảm rất rõ rệt (93,6% là trầm cảm tái diễn). Các giai đoạn
trầm cảm đơn độc chiếm 6,3% số ca. Trầm cảm tái diễn có loạn thần có tỷ lệ 2,3%
và rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 3,46%. Các yếu tố tâm lý - xã hội ảnh hưởng đến
bệnh trầm cảm được xếp theo thứ tự tăng dần: sống độc thân, ly thân, góa bụa,
stress cường độ mạnh, đông con, stress trung bình, bệnh cơ thể [13].
Theo tác giả Nguyễn Thanh Cao và cộng sự (2011) , nghiên cứu cho
thấy tỷ lệ mắc trầm cảm người trưởng thành ở phường Sông Cầu thị xã Bắc
Kạn là 4,3% trong đó: nam là 1,6%, nữ là 8,3% ; tỷ lệ mắc trầm cảm ở nữ giới
cao gấp 5 lần so với nam giới [5].
Đối với các nghiên cứu ở đối tượng đặc biệt như người cao tuổi, phái
nữ,phụ nữ sau sinh cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn nhiều :
Trầm cảm ở đối tượng đặc biệt như phụ nữ sau sinh, theo tác giả Lương
Bạch Lan (2009) có tỷ lệ mắc trầm cảm ở các bà mẹ sau sinh là 11,6%, các
yếu tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm như thời gian nằm viện của con
trên 30 ngày, không khỏe khi mang thai, tử vong sơ sinh[10].
Theo Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008), tỷ lệ mắc trầm cảm ở phụ nữ quanh
tuổi mãn kinh lên tới 37,9% [9].
Trần Viết Nghị và cộng sự đã điều tra dịch tễ cho thấy các tỷ lệ bệnh phân
với trẻ tàn tật do đặc điểm của các khiếm khuyết cơ thể, tâm trí nên trẻ phải
phụ thuộc nhiều hơn vào người chăm sóc trẻ tại gia đình. Điều này khiến cho
gia đình trẻ KT tăng thêm gánh nặng nuôi dưỡng, chi phí dành cho trẻ KT
cũng tăng cao do phát sinh thêm chi phí khám chữa bệnh, những nguyên nhân
này còn làm gia tăng các vấn đề về tâm lý cho gia đình trẻ KT [3],[19].
Tóm lại, khuyết tật ở trẻ là yếu tố quan trọng dẫn đến tình trạng lo âu,
phiền muộn kéo dài ở bà mẹ, đó là lý do làm cho tỷ lệ trầm cảm ở bà mẹ có
con khuyết tật tăng cao.
8
1.1.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trầm cảm là một tình trạng bệnh lý có tỷ lệ gặp cao ở các nước trên
thế giới. Nhiều nghiên cứu đã được triển khai nhằm xác định bệnh lý này.
Theo thống kê của một số nước châu Âu, rối loạn trầm cảm dao động từ 3 4% dân số. Theo Fredéric Rouillon(2000) tiến hành nghiên cứu của tại Paris Pháp năm 2000 cho thấy trầm cảm là một rối loạn thường gặp trên thế giới
ngay cả những vùng mà người ta chưa nhận thức được rối loạn này, bất chấp sự
khác biệt về nhóm tuổi, văn hoá, tầng lớp xã hội ở cả nam và nữ, trẻ, già nhưng ở
những nhóm tuổi khác nhau thì tỷ lệ mắc khác nhau theo bảng số liệu sau[41].
Tỷ số mắc chung trong 6 tháng ở mỗi độ tuổi trong cộng đồng
tại Paris – Pháp năm 2000
Độ tuổi
25-34
35-44
45-54
55-64
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm nhìn chung ở nữ cao
hơn nam giới, trong đó ở nam mắc cao nhất ở độ tuổi 55-64 còn ở nữ tỷ lệ
mắc cao lại ở độ tuổi từ 25-54[41].
Một nghiên cứu ở Ucraina của tác giả Tintle N (2011) cho kết quả như
sau: 14,4% phụ nữ và 7,1% nam giới độ tuổi từ 50 trở lên bị trầm cảm[62].
Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc trầm cảm trong dân số theo nhiều nghiên cứu vào
khoảng 5- 6%. Theo Laura A. Pratt (2006), trong vòng 2 tuần lễ có 5,4%
người từ 12 tuổi trở lên bị trầm cảm. Khoảng 80% người bị trầm cảm đã báo
cáo bị ảnh hưởng đến khả năng làm việc, duy trì cuộc sống gia đình và các
9
hoạt động xã hội khác của họ. Tổng thiệt hại ước tính khoảng 2/3 trong tổng
80 tỷ USD trong năm 2000 vì khả năng sản xuất kém và hay nghỉ việc [55].
Ở Canada, theo Scott B Patten (2006), tỷ lệ trầm cảm chung trong cả
cuộc đời là 12,2%, trầm cảm trong năm qua là 4,8%, trầm cảm trong 30 ngày
qua là 1,8%. Trầm cảm chủ yếu phổ biến ở phụ nữ (5%) cao hơn ở nam giới
(2,9%). Tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm tuổi từ 15 đến 25 tuổi. Tỷ lệ
mắc trầm cảm nặng không liên quan đến trình độ học vấn nhưng có liên quan
đến tình trạng bệnh mãn tính (4,9% so với người không có bệnh là 1,9%), thất
nghiệp (4,6% so với người không thất nghiệp là 3,5%), và thu nhập (TC ở
người nghèo nhất là 8,5%, người giàu nhất 3,2%). Người kết hôn có tỷ lệ thấp
nhất (2,8% so với người không kết hôn là 5,3%, người ly dị là 6,5%). Phương
trình hồi quy cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm hàng năm có thể tăng theo tuổi tác
ở nam giới chưa bao giờ kết hôn[53].
Ở các nước châu Á – Thái Bình Dương, theo tác giả Chiu E (2004), tỷ
lệ mắc trầm cảm trong vòng 1 tháng từ 1,3% đến 5,5%, trong vòng 1 năm qua
từ 1,7% đến 6,7% và tỷ lệ mắc trầm cảm trong cả cuộc đời từ 1,1% đến
đề tài “Tác động về mặt tâm lý –xã hội đối với các cha mẹ có con chậm phát
triển trí tuệ ở quận Anand”, Choudhary và cộng sự đã xác định không có mối
liên quan giữa tâm lý chậm phát triển của trẻ và sự ảnh hưởng tới anh chị em
của trẻ. Kết quả cho thấy 70% bà mẹ có kết quả trầm cảm từ mức độ nhẹ tới
trung bình[43].
Theo tác giảSousa, A.D, & Singhvi, S (2011) với đề tài “Triệu chứng
trầm cảm ở bà mẹ trẻ em bị bại não”. Nghiên cứu chỉra có tới 71% bà mẹ có con
bại não mắc trầm cảm. Các yếu tố góp phần gây ra trầm cảm cho các bà mẹ được
báo cáo là trợ cấp xã hội ít, trình độ học vấn thấp và thất nghiệp tăng cao [36].
Theo các tác giả J.W.Hung, Y.H.Wu, Y.C.Chiang ,W.C.Wu, C.H.Yeh,
vớinghiên cứu: “Các vấn đề liên quan tới sức khỏe tâm thần ở cha mẹ có con
11
khuyết tật”. Nghiên cứu này chỉ ra rằngsự đau khổ, tuyệt vọng của cha mẹ khi
có con khuyết tật ở mức cao, chỉ số PSI (Chỉ số trầm cảm ở cha mẹ)
=97.11(SD=20.71). Sự đau khổ,tuyệt vọng của cha mẹ trẻ khuyết tật là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ tinh thần của cha mẹ. Tỷ lệ cha mẹ của trẻ
khuyết tật gặp các vấn đề tinh thần trong nghiên cứu này vào khoảng 44% [47].
Đề tài nghiên cứu “Rối loạn trầm cảm ở một số phụ huynh có con khuyết
tật” của nhóm giả J. Aaron Resch, Timothy R. Elliott, Michael R. Benzkiểm
tra tỷ lệ trầm cảm trên 110 phụ huynh của trẻ khuyết tật và thử nghiệm một
mô hình để xác định các yếu tố liên quan đến trầm cảm của cha mẹ. Phân tích
hồi quy cho thấy các đánh giá về mối đe dọa, sức khoẻ thể chất kém hơn và
mức độ hài lòng của gia đình thấp hơn có liên quan đến tình trạng trầm cảm
với độ chính xác ~ 83,3%. Những kết luận này nhấn mạnh đến sự hài lòng của
gia đình trẻ, khả năng giải quyết vấn đề, sức khoẻ thể chất có mối liên quan
đến rối loạn trầm cảm ở cha mẹ của trẻ khuyết tật. Khoảng 53% cha mẹ của
trẻ khuyết tật mắc các vấn đề liên quan đến rối loạn trầm cảm[59].
mẹ có điểm cao hơn về lo lắng, trầm cảm và các vấn đề tổng thể khi đo bằng
Bảng câu hỏi Y tế Tổng quát [56].
Gia đình là nguồn hỗ trợ chính cho trẻ khuyết tật trong bất kỳ xã hội
nào. Chính vì vậy, cha mẹ luôn phải đối mặt với sự căng thẳng về cả thể chất
lẫn tinh thần trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, hỗ trợ trẻ có khuyết tật.
Việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ khuyết tật cần nhiều thời gian, công sức
và tiền bạc, điều này dễ dẫn đến những căng thẳng trong cuộc sống gia đình,
bố mẹ có xu hướng đổ lỗi cho nhau và tạo ra những vấn đề trong hôn nhân.
Thêm vào đó người mẹ thường phải đảm nhận việc chăm sóc chính cho trẻ bị
khuyết tật nên người mẹ thường cảm thấy lẻ loi, cô độc, không có sự chia sẻ
từ gia đình so với những bà mẹ có con bình thường.
Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu trong thời gian từ tháng 11 năm
2009 đến tháng 2 năm 2010 trên 75 bà mẹ có con khuyết tật và 35 bà mẹ có
13
con bình thường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bà mẹ ở nhóm có con khuyết
tật có chỉ số lo âu và trầm cảm cao hơn nhóm các bà mẹ có con bình thường:
chỉ số lo âu (p=0.027), chỉ số trầm cảm (p=0.032) và tổng số bệnh nhân lo âu
theo Thang trầm cảm (HADS) (p = 0,022). Nhóm tác giả báo cáo những bà
mẹ có con khuyết tật ở nước Ả Rập Saudi đạt điểm cao hơn nhiều trên thang
điểm HADS ở mục trầm cảm và lo âu[24].
Theo tác giả Hill & Rose (2009), nghiên cứu của tác giả dựa trên phân
tích hồi quy dự đoán tỷ lệ stress ở phụ huynh có trẻ mang khuyết tật vào
khoảng 61%[45].
Trong nghiên cứu của Olsson (2001) chỉ ra rằng các cha mẹ của trẻ
khuyết tật có trải nghiệm nhiều stress hơn các cha mẹ của trẻ bình thường, nhưng
tỷ lệ stress ở các bà mẹ lại cao hơn các ông bố có trẻ khuyết tật[52].
Các tác giả Sloper và Turner (1993) cũng đưa kết luận: các ông bố có
trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm
thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ
biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời
gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”.
Tóm lại, trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc được biểu hiện rõ
rệt bởi khí sắc, hành vi, ứng xử thể hiện sự buồn rầu, kèm theo cảm giác chán
chường, bi quan thậm chí có ý nghĩ tự sát, ức chế gần như toàn bộ các mặt
hoạt động thể chất và tâm lý.
Như vậy, trầm cảm là trạng thái giảm khí sắc, giảm năng lượng hoạt
động , rối loạn cảm xúc kéo dài ít nhất hai tuần. Gọi “trầm cảm” là “Rối loạn
trầm cảm” để thể hiện rõ tính chất bệnh lý của trạng thái cảm xúc này. Vì vậy
trong luận văn này tôi xin phép được đồng nhất hai khái niệm “trầm cảm” và
“rối loạn trầm cảm”.
15
1.2.2. Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm:
* Biểu hiện về mặt cơ thể và sinh hoạt hàng ngày:
-
Nhiều bệnh nhân luôn than phiền đau đầu, đau khớp , đau bụng, đau
ngực trái…có khi chính xác các triệu chứng đau này là nguyên nhân
khiến bệnh nhân đi khám bệnh. Họ thường đến khám ở các bác sỹ
chuyên khoa không tâm thần (thần kinh, khớp, tiêu hóa, tim mạch…).
Khi không phát hiện được tổn thương thực thể và điều trị không có kết
quả, họ lại tìm đến các bác sỹ khác. Quá trình này có thể diễn ra trong
nhiều năm khiến bệnh nhân tốn kém nhiều tiền bạc và thời gian.
-