Quan niệm của n a berdyaev về con người trong tác phẩm con người trong thế giới tinh thần - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------------

NGUYỄN THỊ LEN

QUAN NIỆM CỦA N.A. BERDYAEV VỀ
CON NGƢỜI TRONG TÁC PHẨM
CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI TINH THẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

NGUYỄN THỊ LEN

QUAN NIỆM CỦA N.A. BERDYAEV VỀ
CON NGƢỜI TRONG TÁC PHẨM
CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI TINH THẦN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60220301

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trịnh Văn Toàn

HÀ NỘI – 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 2
Chƣơng 1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG
N.A. BERDYAEV VỀ CON NGƢỜI TRONG TÁC PHẨM CON
NGƢỜI TRONG THẾ GIỚI TINH THẦN ............................................... 10
1.1.Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa - chính trị ..................................... 10
1.2. Tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời quan niệm của N.A. Berdyaev về
con ngƣời ........................................................................................................ 15
1.3. N.A. Berdyaev và tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần .. 19
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp của N.A. Berdyaev ................................... 19
1.3.2. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm ........................................................... 25
1.3.3. Kết cấu và nội dung chính............................................................. 28
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 31
Chƣơng 2. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA
N.A. BERDYAEV VỀ CON NGƢỜI QUA TÁC PHẨM CON NGƯỜI
TRONG THẾ GIỚI TINH THẦN ................................................................. 33
2.1. Triết học “bản diện cá nhân” - cơ sở của quan niệm Berdyaev về
con ngƣời trong tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần .................. 33
2.2. Các trạng thái nô lệ và giải phóng tinh thần con ngƣời ............... 43
2.2.1. Trạng thái nô lệ của con người..................................................... 43
2.2.2. Giải phóng tinh thần con người.................................................... 62
2.3. Giá trị và hạn chế của tƣ tƣởng N.A. Berdyaev về con ngƣời ..... 67
2.3.1. Giá trị quan niệm của N.A. Berdyaev về con người .................... 67
2.3.2. Hạn chế quan niệm của N.A. Berdyaev về con người ................. 71
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 80

1

2


kẻ khác, nhưng chính mình còn bị nô lệ hơn” [trích theo18, 213]. Như vậy,
theo Rousseau, do bản tính tự nhiên mà tất cả mọi người sinh ra đều tự do,
ngay cả khi một người có thể từ bỏ tự do của mình thì người đó cũng không
thể đem cho tự do của con cái họ. Bởi vì, chúng được sinh ra là những con
người tự do. Không ai có quyền xâm phạm đến tự do của con người.
Bước sang thời kì hiện đại đã có nhiều triết gia quan tâm đến vấn đề
con người đặc biệt là sự ra đời các tác phẩm của các nhà triết học hiện sinh đã
làm cho vấn đề này trở nên nổi bật. Một trong số đó là các tác phẩm của N.A.
Berdyaev (1874 - 1948) đã góp phần làm cho vấn đề con người đặc biệt là tự
do của con người trở nên sâu sắc hơn. Ông bàn về con người trong thế giới
tinh thần, xem mỗi con người là một tiểu vũ trụ với tính cá biệt, ông tin vào
tính hiện thực tiên khởi của tinh thần, hiện thực ấy được phản ánh lại thông
qua các biểu tượng và kí tự của thế giới bên ngoài vốn được người ta xem là
hiện thực khách quan. Thông qua tư tưởng được thể hiện trong nhiều tác
phẩm của mình, N.A. Berdyaev đã tạo nên tiền đề căn bản của triết học hiện
sinh hiện đại.
Qua cuốn sách Con người trong thế giới tinh thần thấy rằng N.A.
Berdyaev luôn hướng về con người hiện thực, khi nhận ra con người sống
trong xã hội mà luôn bị kìm kẹp về cả tinh thần và thể xác. Cho nên trên con
đường đi tìm tự do cho con người, ông đặt ra yêu cầu cần đòi hỏi tự do trong
tinh thần là trước tiên. Hơn thế nữa khi nhận xét về chính bản thân con người,
ông cho rằng con người có lẽ là tên bạo chúa với bản thân mình, bạo ngược
với bản thân mình bằng những đức tin giả trá, những dị đoan, những huyền
thoại, bạo ngược bản thân bằng nỗi sợ hãi, bằng những ám ảnh, bằng lòng
ghen tị, lòng tự ái, lòng thù hận. Do đó, với ông cuộc đấu tranh giải phóng
con người là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn và gian nan. N.A. Berdyaev


4


Cuốn sách Con người trong thế giới tinh thần bao gồm 2 tác phẩm của
N.A. Berdyaev là: Vấn đề con người (1936) và Bàn về nô lệ và tự do của con
người (1939), các tác phẩm trên được xuất bản không ít lần bằng tiếng Nga và
đã nhận được sự chú ý, nghiên cứu của nhiều học giả Phương Tây. Các công
trình đó bao gồm:
- Christopher (2005) trong cuốn sách Dilemmas of reaction in leninist
Russia: The Christian response to the revolution in the works of N. A.
Berdyaev, (Các phản ánh của phản ứng trong nước Nga: Phản hồi Christian
đến cuộc cách mạng trong tác phẩm của N.A. Berdyaev), Nxb. Blackwell, đã
cho rằng: những vấn đề xã hội, con người N.A. Berdyaev đưa ra ngày càng
trở nên có chiều sâu và được giới học giả tin theo. Điều này cho thấy
Christopher không chỉ chia sẻ quan điểm triết học hiện sinh về con người của
Berdyaev mà cả các giá trị phổ quát của các tác phẩm khác của Berdyaev.
- E. L. Allen Paperback (1950), trong cuốn sách Freedom in God: a
guide to the thought of Nicholas Berdyaev (Tự do phụ thuộc vào Thiên Chúa:
một hướng dẫn đến những suy nghĩ của Nicholas Berdyaev), Nxb. Gollacz, đã
nêu lên tầm ảnh hưởng quan điểm lệ thuộc của con người vào Thượng đế.
Điều này đã tạo nên sự mất tự do của con người để trôi dạt về một thế giới hư
ảo, làm mờ đi những định hướng, suy tư có tính độc lập của cá nhân. Theo tác
giả cần thoát khỏi những suy nghĩ đó, giải phóng chính bản thân, dẫn con
người trở lại với chính mình. Đây cũng là suy nghĩ hướng đến tư tưởng của
N.A. Berdyaev mà E. L. Allen Paperback đã tiếp thu từ Berdyaev.
- Fuad Nucho (1966 - 1967) trong tác phẩm Berdyaev’s philosophy:
The Existential Paradox of Freedom and Necessity (Triết lý của Berdyaev: Sự
cần thiết chủ nghĩa hiện sinh tự do - một nghiên cứu quan trọng), Nxb.
Gollacz, đã cho rằng: tự do của con người đã được nâng lên một tầm cao như
triết lý quan trọng trong triết học của Berdyaev. Fuad Nucho đặc biệt đề cao

đã có tìm hiểu, nghiêm cứu và đánh giá về các tư tưởng của N.A. Berdyaev.

6


Tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần mới ra mắt độc giả Việt
Nam nên chưa có nhiều tài liệu trong nước nghiên cứu tác phẩm này một cách
chuyên sâu. Luận văn này, có thể là một nghiên cứu bước đầu về tư tưởng của
N.A. Berdyaev dựa vào tác phẩm và các tài liệu liên quan đến ông nêu trên.
Chúng tôi hy vọng, nghiên cứu của mình về triết học con người của N.A.
Berdyaev sẽ có những đóng góp mới, góp phần tìm hiểu sâu hơn và giới thiệu
ra công chúng Việt Nam tư tưởng triết học của ông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Làm rõ những tư tưởng cơ bản của N.A. Berdyaev về con
người, từ đó chỉ ra những giá trị và hạn chế của chúng.
* Nhiệm vụ
+ Chỉ rõ các điều kiện và tiền đề cho sự đời quan niệm của N.A.
Berdyaev về con người trong tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần.
+ Trình bày và phân tích nội dung cơ bản của quan niệm N.A.
Berdyaev về con người trong tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần.
+ Đánh giá giá trị và hạn chế của quan niệm N.A. Berdyaev về con người
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nhân cách luận, trong đó phân tích sự nô lệ và con đường giải phóng
của con người trong quan niệm của N.A. Berdyaev.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu các nội dung cơ bản về con người trong
tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận

Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 6 tiết.

8


Chƣơng 1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG
N.A. BERDYAEV VỀ CON NGƢỜI TRONG TÁC PHẨM
CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI TINH THẦN
1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa - chính trị
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Đầu thế kỷ XX, đế quốc Nga là một trong những đế quốc lớn nhất thế
giới. Sau khi Nga hoàng Aleksandr II thực hiện cuộc cải cách năm 1861, chủ
nghĩa tư bản Nga phát triển nhanh chóng. Tuy phát triển sau các nước tư bản
Tây Âu nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cũng như các nước Tây
Âu khác, đế quốc Nga cũng chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Tư bản
nước ngoài đầu tư mạnh mẽ vào Nga như Anh, Pháp, Đức đặc biệt là Pháp
với 5 tỉ Rupee. Các ngành công nghiệp nặng phát triển như luyện kim, cơ
khí, hoá dầu,… với nhiều thành tựu như từ năm 1860 đến 1890, sản
lượng thép tăng lên 3 lần, than đá tăng 19 lần, chiều dài đường xe lửa tăng
gấp đôi. Năm 1913, sản lượng công nghiệp Nga chiếm 5,5% sản lượng công
nghiệp thế giới, đứng thứ 5 thế giới.
Khi đó Nga có 150 công ty độc quyền thao túng toàn bộ nền kinh tế
cũng như ngân hàng. Về trình độ công nghiệp của Nga thua kém các nước
khác nhưng mức độ tập trung công nghiệp rất cao. ¾ công nhân Nga tập trung
ở các thành phố lớn như Petrograd, Moskva, khu khai thác than Donetsk, khu
khai thác dầu Baku.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng nhưng muộn màng của chủ nghĩa
tư bản Nga vẫn không thể thay đổi 1 thực tế là nước Nga là vẫn là 1
nước nông nghiệp với mối quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu. Tàn tích của

đường sắt lan rộng cả nước, đã đẩy nhanh sự phát triển của các ngành khai
mỏ, luyện kim và thương nghiệp. Việc cơ khí hoá sản xuất được tăng cường.

10


Từ năm 1852 đến năm 1900, số xí nghiệp sử dụng máy móc tăng lên 9 lần, số
động cơ chạy bằng hơi nước tăng lên 12 lần.
Bên cạnh đó, ở Pháp vẫn còn nhiều xí nghiệp vừa và nhỏ. Năm 1896,
trong tổng số 3,3 triệu công nhân, thì trên 1 triệu làm việc trong các xí nghiệp
có từ 10 đến 100 công nhân và trên 1,3 triệu lao động ở các xí nghiệp có từ 1
đến 10 công nhân.
Nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong kinh tế Pháp vì phần
đông dân cư sống bằng nghề nông. Tiểu nông chiếm đa số nông hộ. Tình
trạng đất đai phân tán, manh mún không cho phép sử dụng máy móc và kĩ
thuật canh tác mới. Nghề nấu rượu nho bị cạnh tranh gay gắt, nên nghề trồng
nho - một nguồn lợi kinh tế quan trọng, cũng bị sa sút.
Trong thời kì này, ở Pháp cũng hình thành nhiều tổ chức độc quyền,
dần dần chi phối nền kinh tế đất nước.
Điểm nổi bật của tổ chức độc quyền ở Pháp là sự tập trung ngân hàng
đạt mức cao: 5 ngân hàng lớn ở Pa-ri nắm 2/3 tư bản của các ngân hàng trong
cả nước. Pháp là nước đứng thứ hai (sau Anh) về xuất khẩu tư bản nhưng hình
thức khác Anh ở chỗ phần lớn số vốn đem cho các nước vay với lãi suất nặng.
Năm 1908, 38 tỉ phrăng được xuất khẩu trong khi chỉ có 9,5 tỉ đầu tư
vào công nghiệp trong nước, còn lại là cho vay nặng lãi. Tổng số lãi do vốn
xuất khẩu năm 1913 lên tới 2,3 tỉ phrăng. Năm 1914, số vốn xuất khẩu lên 50
- 60 tỉ phrăng, trong đó 13 tỉ cho nước Nga vay, chỉ có 2 - 3 tỉ được đưa vào
thuộc địa. Do vậy, đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc Pháp là chủ nghĩa đế quốc
cho vay lãi.
Như vậy sau những nỗ lực và hành động phục hồi nên kinh tế, cuối

Giai đoạn từ khi củng cố Cách mạng Bolshevik năm 1917 tới năm 1921
được gọi là giai đoạn cộng sản thời chiến. Ruộng đất, toàn bộ ngành công
nghiệp và doanh nghiệp nhỏ đều bị quốc hữu hoá và nền kinh tế tiền tệ bị hạn

12


chế. Sự đối lập mạnh nhanh chóng phát triển. Nông dân muốn được trả bằng
tiền mặt cho các sản phẩm của mình và bực tức vì phải nộp thặng dư mùa
màng cho chính phủ như một phần chính sách nội chiến. Đối đầu với sự phản
đối của nông dân, V.I. Lênin (1870 - 1924) bắt đầu chiến lược rút lui khỏi
cộng sản thời chiến được gọi là Chính sách Kinh tế Mới (NEP). Nông dân
được miễn thuế bán buôn và được phép bán lương thực thặng dư ra thị trường
tự do. Thương mại phát triển khi bán lẻ tư nhân được hoạt động. Nhà nước
tiếp tục nắm ngân hàng, vận tải, công nghiệp nặng và các ngành công cộng.
Trong khi nền kinh tế đang chuyển đổi, đời sống xã hội của nhân dân
đã trải qua những thay đổi lớn. Sau khi Lenin qua đời, I.V. Stalin (1879 1953) chiến đấu giành quyền kiểm soát Liên bang Xô Viết với các phe phái
đối thủ bên trong Bộ chính trị, đặc biệt là phe của Leon Davidovich Trotsky.
Tới năm 1928, khi những người theo chủ nghĩa Trotsky hoặc đã bị lưu đày
hoặc đã mất quyền lực, Stalin đã sẵn sàng đưa ra một chương trình cực đoan
đưa quá trình công nghiệp hoá vào thực hiện. Sau những cải cách của Stalin
nước Nga đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn và chiến thắng trong cuộc
chiến thanh thế giới thứ hai.
Bên cạnh đó, trong những thập niên cuối của thế kỉ XIX, nước Pháp ráo
riết chạy đua vũ trang để trả mối thù với Đức, tiến hành những cuộc chiến
tranh xâm chiếm thuộc địa, chủ yếu ở khu vực châu Á và châu Phi. Nửa cuối
thế kỉ XIX, Pháp lần lượt thôn tính ba nước Đông Dương. Cùng với các đế
quốc khác, Pháp tham gia xâu xé Trung Quốc, lập tô giới ở đảo Hải Nam
(1898), có khu vực ảnh hưởng ở nhiều thành phố và tỉnh thành ở miền Nam
Trung Quốc. Những năm 90, Pháp chinh phục nhiều nước châu Phi (Xê-nêgan, Tây Xu-đăng, Ghi-nê, một phần Công-gô, Đa-hô-mây...).


14


1.2. Tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời quan niệm của N.A. Berdyaev
về con ngƣời
Các nhà tư tưởng đi trước đã có ảnh hướng lớn đến quan điểm của N.A.
Berdyaev, đặc biệt phải kể đến: Thomas Aquinas (1225 - 1274), G.W.F.
Hegel (1770 - 1831), J.J. Rousseau (1712 - 1778), I. Kant (1724 - 1804),
Franc Baader (1765 - 1841), A. Schopenhauer (1788 - 1860), J.S. Mill (1806 1873), S. Kierkegaard (1813 - 1855), K. Marx (1818 - 1883), N.L. Tolstoy
(1828 - 1910), T. Jaspers (1883 - 1969), F.W. Nietzsche (1844 - 1900), M.
Heiderger (1889 - 1976)…
I. Kant và A. Schopenhauer có ý nghĩa rất to lớn trong khởi đầu con
đường của N.A. Berdyaev. Ông không phải là triết gia theo trường phái và
trước khi cũng không như hiện nay không thuộc về trường phái nào cả. A.
Schopenhauer là triết gia đầu tiên mà ông tiếp nhận sâu sắc. N.A. Berdyaev
đã đọc cuốn sách triết học từ khi còn là một cậu bé. Mặc dù những năm tháng
tuổi trẻ ông gần gũi với tư tưởng của I. Kant, nhưng chưa bao giờ ông tiếp
nhận hoàn toàn, một cách trọn vẹn triết học của I. Kant, cũng như A.
Schopenhauer. Thậm chí trên một phương diện nào đó N.A. Berdyaev còn
đấu tranh với I. Kant. Nhưng có những tư tưởng có ảnh hưởng nhất định, xuất
hiện dưới hình thức này hay hình thức khác trong suốt con đường triết học
của ông. N.A. Berdyaev đặc biệt gần gũi với nhị nguyên luận của I. Kant,
phân biệt của I. Kant với quốc vương tự do và quốc vương tự nhiên, học
thuyết của I. Kant về tự do tính cách khả dĩ thấu hiểu được, duy chí luận của
I. Kant và cái nhìn thế giới các hiện tượng như là thế giới khác biệt với cái thế
giới chân thực mà ông gọi là thế giới của các vật tự thân.
N.A. Berdyaev vẫn còn gần gũi với tư tưởng của A. Schopenhauer đối
với ý chí và biểu tượng. Học thuyết của A. Schopenhauer về việc khách thể
hóa ý chí trong thế giới tự nhiên tạo ra một thế giới không chân thực và ông

nghĩa chủ quan lẫn chủ nghĩa khách quan, ở chỗ đã không xuất phát từ con

16


người, những ràng buộc và ước vọng của nó, đã kéo con người ra khỏi bản
thân nó bằng một thái độ điều tra triết học theo ý đồ sở hữu tri thức và
phương pháp khoa học. Tương đồng với đó, N.A. Berdyaev cho rằng triết học
cần được nhận thức trong hiện hữu của con người, con người sáng tạo ra tất
cả theo hình tượng của mình và tương đồng với mình và tổng hơp các sức
mạnh tinh thần của mình. N.A. Berdyaev cho rằng triết học hiện sinh của M.
Heidegger, K.T. Jaspers đã tiến gần tới điều đó.
Tiếp nối sự ảnh hưởng của các nhà hiện sinh phải kể đến S.
Kierkegaard được coi là cha đẻ của triết học hiện sinh và là một nhân vật
quan trọng tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của triết học Châu Âu. S.
Kierkegaard quan tâm đến con người trong tình huống hiện sinh. Ông phân
biệt giữa hai tình trạng hiện tại của một người, nghĩa là bây giờ họ đang là gì,
và họ phải là gì. Ông cho rằng có một chuyển động trong đời sống một người
từ tình trạng bản chất sang tình trạng tồn tại. Tóm lại, con người trong quan
niệm của S. Kierkegaard là con người hiện sinh bị “ném vào thế giới này”,
nhưng được thúc đẩy đi tìm ý nghĩa của cuộc đời. Đức tin là hậu quả của tình
huống hiện sinh, là ân sủng và là nhu cầu giúp con người vượt qua được giới
hạn của tình huống hiện sinh là cái chết, sự không hiện hữu, sự không tồn tại.
Ngoài ra còn nói thêm rằng, đâu là cú hích đầu tiên và quan trọng đối
với thái độ ban đầu của N.A Berdyaev với thực tại xã hội và trong những
đánh giá đạo đức của ông về thế giới xung quanh. Đó chính là những năm
tháng N.A Berdyaev còn là cậu bé ông đã tiếp thu nhiều thức từ L. Tolstoy nhà văn, nhà triết học Nga lỗi lạc. Trong tâm niệm của N.A Berdyaev dối trá
nằm trong nền tảng của văn minh, trong lịch sử có tội lỗi với nguyên thủy,
trong toàn bộ xã hội xung quanh được xây dựng trên dối trá và bất công. Mặc
dù ông chưa bao giờ là tín đồ của học thuyết L. Tolstoy và thậm chí rất không

Tuy nhiên thực chất N.A. Berdyaev đặt cơ sở cho chủ nghĩa xã hội một cách
duy tâm mặc dù ông thừa nhận nhiều luận điểm của cách hiểu duy vật luận về

18


lịch sử. Và thái độ của ông đối với chủ nghĩa Marx mang tính phân đôi, chưa
bao giờ tiếp thu được chủ nghĩa Marx một cách toàn diện.
Triết gia nổi tiếng người Đức, M. Heiderger đã không dưới ba lần N.A.
Berdyaev nhắc đến trong tác phẩm của mình. Điều này cũng cho thấy sự ảnh
hưởng lớn của M. Heiderger đến N.A. Berdyaev. Bản thể luận của M.
Heidegger là học thuyết về tồn tại con người, về cấu trúc của tồn tại con
người. Ông cho rằng tồn tại người là xuất phát điểm, là hiện thực đầu tiên có
tính thứ nhất. Khác các hiện hữu khác, tồn tại người là một hiện hữu ý
thức được sự hiện hữu của chính mình, tức là có khả năng nhận thức, khả
năng tự hỏi về vấn đề hiện hữu. Tồn tại không phải là các sự vật và nó cũng
khác hiện hữu. Tồn tại người là nền tảng, là nguồn gốc của toàn bộ hiện hữu.
Vốn là một một giáo sư giảng dạy triết học cùng với sự không đồng
tình trước thế cuộc của nước Nga lúc đấy giờ. Lúc đầu N.A. Berdyaev bị trục
xuất khỏi Nga, sau đó ông đến Đức và Pháp. Chính những thực tại xã hội ở ba
nước này đã khiến ông suy nghĩ về tình trạng nô lệ trên nhiều phương diện
của con người và đưa ra quan điểm giải phóng con người của ông. Cùng với
đó N.A. Berdyaev được tiếp xúc ngay từ nhỏ với cha của mình, người cũng có
tư tưởng tự do. Cho nên những tiền đề tư tưởng trên đã giúp hình thành quan
điểm hiện sinh về con người của N.A. Berdyaev - một trong những nhà triết
học có đóng góp nhất định đến sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Pháp.
1.3. N.A. Berdyaev và tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp của N.A. Berdyaev
* Cuộc đời.
Nước Nga - và cùng với nó là toàn bộ thế giới văn minh – hiện nay lại

văn học, y học đã thành lập tạp chí Những vấn đề của cuộc sống nhằm tập
hợp những trào lưu mới trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng.

20


Một bài báo năm 1913, do chỉ trích Thượng Hội Thánh của Giáo hội
Chính Thống Nga, khiến ông bị buộc tội báng bổ Giáo hội và do vậy bị trừng
phạt, lưu đày đến Siberia suốt đời. Chiến tranh Thế giới và Cuộc Cách mạng
Bolshevik đã ngăn cản vấn đề này được đưa ra xét xử. Sau cuộc Cách mạng
tháng 10 năm 1917, tư tưởng của ông và nhiều nhà trí thức khác có phần
khác với chế độ Bolshevik vì chủ nghĩa toàn trị và sự thống trị của nhà nước
về quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, ông được phép trong thời gian này vẫn
được tiếp tục giảng dạy và viết.
Với sự băn khoăn luôn thường trực và quan điểm cá nhân của mình,
vào năm 1919 ông mở diễn đàn riêng, mang tên Học viện Văn hóa Tinh thần
tự do. Đây là một diễn đàn để ông diễn thuyết về các chủ đề nóng trong ngày
và trình bày chúng theo quan điểm của Kito giáo. Bên cạnh đó ông cũng trình
bày quan điểm của mình trong các bài giảng công đồng này. Và vào mỗi thứ
ba, học viện đã tổ chức một cuộc họp tại nhà vì hoạt động chống tôn giáo của
Liên Xô rất căng thẳng vào thời điểm đó và chính sách chính thức của chính
phủ Bolshevik, với luật chống tôn giáo Xô viết.
Năm 1920, N.A. Berdyaev trở thành giáo sư triết học tại Đại học
Moscow, Nga. Trong cùng năm đó, ông bị buộc tội: Tham gia vào một âm
mưu chống lại chính phủ, sau đó ông đã bị bắt và bỏ tù. Sau đó ông được đưa
ra tham vấn, ông không cầu xin, ông đã tuyên bố vững chắc về các nguyên tắc
đạo đức và tôn giáo nhờ đức hạnh mà ông không tuân theo Đảng cầm quyền.
Sau cùng họ không có lý do gì để đưa ông ra xét xử, và ông được trả tự do.
Sau đó các nhà chức trách của Liên Xô cuối cùng đã trục xuất ông khỏi
Tổ quốc của mình vào năm 1922. Ông trở thành một trong số 160 nhà văn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status