Quan niệm của Phan Bội Châu về bản tính của con người - Pdf 60

Quan niệm của Phan Bội Châu về bản tính của con người
Trong truyền thống tư tưởng của dân tộc Việt Nam, vấn đề con người luôn gắn liền với vấn
đề dân tộc. Đặc biệt, mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy thì sự cố kết đó càng trở nên bền chặt
hơn bao giờ hết. Bởi lẽ, con người là yếu tố quyết định trong cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp nối và phát huy truyền thống đó, Phan Bội Châu - nhà tư tưởng
tiêu biểu của dân tộc Việt Nam trong khoảng hai chục năm đầu của thế kỷ XX đã để lại dấu
ấn khá đậm nét về vấn đề con người trong lịch sử tư tưởng của dân tộc.
"Cùng thời với Phan Bội Châu, không thấy ai đả động tới vấn đề con người nhiều bằng Sào
Nam, riêng điều ấy cũng chứng tỏ rằng tư tưởng của cụ Phan rõ cao hơn tư tưởng nhiều bạn
đồng chí của mình".
Một nội dung có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề con người là vấn đề bản tính của con
người. Vấn đề này đã được đặt ra từ thời cổ đai. Là nhà Nho yêu nước thấm nhuần truyền
thống nhân nghĩa của dân tộc, Phan Bội Châu cơ bản nhất trí với quan điểm của Mạnh Tử về
vấn đề bản chất của con người, đó là: "Bản tính con người là thiện", là "thiên lương". Tuy
thống nhất với Mạnh Tử như vậy, nhưng không phải Phan Bội Châu không có cách kiến giải
độc đáo riêng của mình về vấn đề đó. Khi đưa ra căn cứ để lý giải tính bản thiện của con
người, Phan Bội Châu cũng nêu ra bốn thuộc tính bẩm sinh vốn có hay bốn đầu mối của
thiện, đó là: lòng thị phi (biết phải, trái), lòng tu ố (biết hổ thẹn), lòng tự nhượng (biết cung
kính), lòng trắc ẩn (biết xót thương). Bốn thuộc tính đó được gọi là "tứ đoan", hay "thiện
đoan” để giải thích bản tính của con người. Điều đáng quý là cách lý giải của Phan Bội Châu
chứa đựng một tấm lòng yêu nước thiết tha, một khát vọng cháy bỏng vì độc lập, tự do cho
đất nước, một niềm tin mãnh liệt vào lương tâm và trí tuệ của con người Việt Nam mỗi khi
nó được đánh thức bởi nghĩa lớn của quốc gia. Ở Phan Bội Châu, bốn đầu mối của thiện luôn
luôn hướng đến nghĩa lớn. Bởi thế, vì một lý do nào đó mà chúng ta đau thương nhất, vì
lòng thiện mất thì nghĩa lớn không thành và nước sẽ mất. Phan Bội Châu viết: “Vì lợi ích
chăm đua riêng để quên người khác mà lòng thị phi chế! Vì cầu an nhịn nhục mà lòng tu ố
chết. Tranh nhau từng sợi tơ tóc mà lòng tự nhượng chết. Quên cái vạ chủng tộc mà lòng
trắc ẩn chết. Mà mỗi khi lòng đã chết rồi thì đoàn thể làm sao có thể kết được? Nghĩa lớn
làm sao có thể nêu cao được? Quyền công do lợi riêng mà phá hoại. Cái lo xa do lợi gần
nước mắt che đậy".
Theo Mạnh Tử, bản tính của con người là thiện, vì ai cũng có tâm. Tâm là cái chủ đạo điều

những tư tưởng của Môngtexkiơ và Rútxô.
Đối với Phan Bội Châu, lòng yêu nước không phải là một cái gì hư vô, trừu tượng, mà nó
được bắt nguồn từ những cái rết gần gũi, rất cụ thể và rất đỗi chân thật đối với mỗi người.
Chính ông dã tự đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi đó một cách tự nhiên và giản dị như mạch
sống của chính mình: "Ôi! Nước là gì? Là họp người mà thành, họp ức triệu người lại mà
thành.
Yêu nước là tính gì? Là suy cái lượng yêu mình, yêu nhà mà thành vậy.
Nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhà mất. Nước vốn là đầu não của mình ta, nền tảng
của ta vậy...
Người biết có mình thì ắt yêu mình, yêu nước tức là cái hình ảnh yêu mình phóng đại ra vậy.
Người đã có mình, có nhà thì đều có trách nhiệm yêu nước”.
Như vậy, yêu người là cơ sở nền tảng của yêu nước, yêu mình, yêu nhà. Chúng gắn bó chặt
chẽ với nhau, hoà nhập vào nhau một cách tự niên. Chúng vừa đồng nghĩa với nhau, lại vừa
là nguyên nhân và kết quả của nhau. Vì thế, triết lý của cuộc sống là nước mất thì nhà tan,
cứu nước cũng là cứu nhà và cũng là tự cứu lấy mình, giải phóng dân tộc thoát khỏi gông
xiềng nô lệ cũng chính là tự giải phóng cho mình. Lòng yêu thương con người đến mức như
thế quả là đặc sắc và thấm đẫm tinh thần nhân văn cao cả trong truyền thống dân tộc Việt
Nam. Quan điểm này có tác dụng kích thích tính năng động chủ quan của mỗi con người và
củng cố thêm những giá trị bền vững, những tinh hoa vun đắp nên qua hàng ngàn năm lịch
sử của dân tộc.
Từ lòng yêu thương phát triển thành lòng yêu nước thương nòi cũng là vì nghĩa cả của dân
tộc. Phan Bội Châu viết: "Hiểu được nghĩa đồng bào thì quốc gia càng thêm đầy đủ, mà
ngày càng mạnh thêm. Đã biết đồng quốc là đồng bào thì biết hạnh phúc của người cùng
nước, tức là hạnh phúc của đồng bào ta, tức là hạnh phúc của bản thân ta. Hạnh phúc của
bản thân ta, chỉ khi nào tất cả đồng bào đều sung sướng, khi đó mới có thể nói hạnh phúc
chân chính của ta được. Vì cả đồng bào mà mưu hạnh phúc thì dù có hy sinh bản thân cũng
không nên tiếc. Không phải như thế lả không thương tiếc thân ta, mà chính ra rất thương
tiếc thân ta đấy. Vì hạnh phúc đã khắp đồng bào thì bản thân ta khoái lạc và vinh quang
mới rất mực vậy. Bởi thế cho nên những người đã rất yêu bản thân thì rất yêu đồng bào, mà
đã rất yêu đồng bào tất yêu quốc gia, mà đã thật yêu quốc gia tất hy sinh vì quốc gia mà bỏ

diệt vì đó là những kẻ nát nhân tính, phi đạo lý. Với Phan Bội Châu, tự do vừa là đạo lý, vừa
là khát vọng của con người, nên lẽ đương nhiên là người Việt Nam không bao giờ chấp nhận
làm thân phận của kẻ nô lệ, mà trái lại, phải vùng dậy đấu tranh vì độc lập, tự do của dân
tộc. Có thể nói rằng tư tưởng về tự do như vậy đã góp phần thắp sáng lên niềm tin mãnh
liệt và tinh thần quật cường của dân tộc, vào sức mạnh của chính nghĩa và làm bùng lên
khát vọng tự do vốn âm ỉ, nung nấu trong tâm hồn của mỗi con người Việt Nam. Tuy nhiên,
do ảnh hưởng của Nho giáo nên Phan Bội Châu thường nhấn mạnh tự do là hành động theo
các quy tắc, chuẩn mực đạo đức - gần với khuôn phép của lễ giáo phong kiến.
Đến đây, chúng ta có thể thấy rõ nội hàm của khái niệm "thiên lương" trong quan niệm của
Phan Bội Châu không chỉ bó hẹp trong chuẩn mực nhân, nghĩa, lễ , trí, mà nó được mở
rộng, đào sâu và được nâng lên bởi các chuẩn mực giá trị mới trên cơ sở tiếp thu những yếu
tố tích cực của tư tưởng tư sản phương Tây, của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam
và của Nho giáo. Bên cạnh con người cộng đồng, còn có con người cá nhân. Giữa con người
cộng đồng và con người cá nhân có quan hệ mật thiết với nhau. Quan niệm này đã có ý
nghĩa tích cực trong việc phát hiện và huy động sức mạnh vốn có của con người Việt Nam
vào sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc. Song, đáng tiếc là Phan Bội Châu chưa đủ điều
kiện để vươn lên tiếp nhận ánh sáng của quan điểm macxít về bản chất của con người, mà
trong "Luận cương về phoiơbắc", C.Mác đã viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hoà những quan hệ xã hội”. Phan Bội Châu chưa lý giải được bản chất xã hội
của con người, chưa vạch ra được nguyên nhân xã hội là nguyên nhân sâu xa nhất, cơ bản
nhất tạo ra nỗi bất hạnh của con người, hay chưa thấy đấu tranh giai cấp là để đi đến giải
phóng loài người thoát khỏi áp bức và là một trong những động lực thúc đây sự phát triển
của xã hội có giai cấp. Cũng qua đầy, chúng ta nhận thấy: "Thuyết thiên lương của Phan Bội
Châu phản ánh lòng tin mãnh liệt vào tinh thần dân tộc của đồng bào, vào khả năng cách
mạng của nhân dân. Nhưng đây cũng là một nhược điểm của Phan Bội Châu: cụ không biết
hay không muốn biết rằng nếu có những tầng lớp xã hội triệt để yêu nước và cách mạng
nào cũng có những tầng lớp xã hội khác lừng chừng đối với kẻ xâm lược, và lại còn kẻ dù là
người Việt Nam vẫn ôm chân bọn thực dân ngoại quốc. Cụ không biết giai cấp và đấu tranh
giai cấp là gì, quan hệ với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc như thế nào, cho đến đỗi cụ
cho rằng bọn Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân "cũng còn có lương tâm yêu nước". Dưới góc độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status