Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài phát thanh truyền hình quảng ninh - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

VŨ THỊ MINH THẢO

TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH
PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƢỚC NGOÀI
TẠI ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH
QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội-2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

VŨ THỊ MINH THẢO

TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH
PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƢỚC NGOÀI
TẠI ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH
QUẢNG NINH
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thành Lợi


Vũ Thị Minh Thảo


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................. 2
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƢƠNG
TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƢỚC NGOÀI ............ 18
1.1. Một số khái niệm ..................................................................................... 18
1.2. Quan niệm về sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước
ngoài ........................................................................................................ 28
1.3.Quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với
nước ngoài ............................................................................................... 42
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƢƠNG
TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƢỚC NGOÀI TẠI ĐÀI
PT-TH QUẢNG NINH ................................................................................. 45
2.1. Tổng quan về hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền
hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh ............................................ 45
2.2. Phân tích hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền
hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh ............................................ 54
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TỔ CHỨC SẢN
XUẤT CHƢƠNG TRÌNH PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH VỚI NƢỚC
NGOÀI TẠI ĐÀI PT-TH QUẢNG NINH.................................................. 83
3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát
thanh, truyền hình với nước ngoài .................................................................. 83
3.2. Một số giải pháp ..................................................................................... 87
KẾT LUẬN .................................................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 98

1

Thực tiễn cho thấy, việc xã hội hóa sản xuất các chương trình phát
thanh truyền hình tại các Đài PT-TH từ trung ương cho đến địa phương đã
giúp cho những cơ quan này cắt giảm được giá thành chi phí sản xuất và chia
sẻ được rủi ro về mặt kinh tế. Bên cạnh đó, việc xã hội hóa sản xuất các
chương trình PT-TH còn góp phần làm phong phú thêm diện mạo của các
chương trìnhnày, giúp cho chất lượng chương trình được nâng cao, hoạt động
sản xuất chương trình chuyên nghiệp hơn. Từ đó, các cơ quan báo chí có thể
cho ra những sản phẩm hấp dẫn công chúng, không ít chương trình hợp tác
sản xuất với đối tác bên ngoài đã góp phần xây dựng lên thương hiệu cho cơ
quan báo chí đó.
Theo xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh việc cho các đối tác là
tổ chức, đơn vị, cá nhân là người Việt Nam tham gia vào hoạt động sản xuất
chương trình PT-TH thì các Đài còn hợp tác cả với các đối tác nước ngoài.
Ngày 18/2/2004, Tổng giám đốc Đài THVN ký quyết định số 190/QĐTHVN thành lập Ban hợp tác Quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng giúp đài phát
triển quan hệ nhiều mặt với các nước khác, mặt khác mở rộng hợp tác cùng
sản xuất, trao đổi, khai thác chương trình. Những năm qua đài đã duy trì, phát
huy các mối quan hệ và trao đổi chương trình truyền hình với gần 30 kênh
truyền hình quốc tế và các đối tác quốc tế. Năm 2013, Đài THVN và Công ty
Giải trí truyền thông CJ (CJ E&M), Hàn Quốc đã ký kết thỏa thuận hợp tác
sản xuất một bộ phim truyền hình dài tập về chủ đề các du học sinh Việt Nam
tại Hàn Quốc. Mới đây nhất, Đài THVN còn hợp tác với đài TBS của Nhật
Bản với các chương trình như : “Sắc màu Nhật Bản”, Bộ phim Người cộng sự,
dự án phim “Khúc hát mặt trời” và trò chơi truyền hình “Không giới hạn” –
Sasuke Việt Nam.
Cùng với đài THVN các đài địa phương cũng mở rộng hợp tác sản xuất
với các đối tác trong và ngoài nước để chương trình ngày càng phong phú. Là
3


một đài Phát thanh Truyền hình địa phương, đài PT-TH Quảng Ninh trong

thông tại đài Quảng Ninh đã mang lại nhiều hiệu quả.
Tuy nhiên, việc phối hợp sản xuất giữa các cơ quan báo chí với các đối
tác bên ngoài có nhiều khó khăn và phức tạp hơn so với việc chỉ một mình cơ
quan đó tự tổ chức sản xuất. Điều này còn khó khăn và phức tạp hơn khi hợp
tác sản xuất chương trình với nước ngoài. Một loạt các vấn đề đặt ra khi tiến
hành hợp tác sản xuất như: vấn đề chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, nhân lực, bản
quyền, quy trình tổ chức sản xuất…
Hoạt động hợp tác sản xuất với đối tác nước ngoài tại đài PT-TH
Quảng Ninh có từ năm 2007, duy trì và liên tục phát triển cho đến nay. Đây
cũng là một khoảng thời gian đủ dài để đài cần đánh giá lại hiệu quả của hoạt
động này. Hiện tại chưa có một nghiên cứu chính thức nào về việc hợp tác sản
xuất với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh. Điều này đặt ra yêu cầu cần
có một công trình nghiên cứu về vấn đề này để đánh giá thực trạng, chỉ ra
những ưu nhược điểm của hoạt động hợp tác sản xuất với nước ngoài tại đài
PT-TH Quảng Ninh, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục những vấn đề
tồn tại, nâng cao hiệu quả của hoạt động hợp tác sản xuất. Chính vì vậy,tác
giả chọn đề tài “ Tổ chức sản xuất chƣơng trình phát thanh, truyền hình
với nƣớc ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh” làm công trình nghiên cứu tốt
nghiệp khóa Đào tạo Thạc sĩ Báo chí của mình với mong muốn phần nào giải
đáp được những câu hỏi và những vấn đề đặt ra ở trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1.

Về chƣơng trình phát thanh, truyền hình và tổ chức sản xuất
chƣơng trình phát thanh,truyền hình

Báo phát thanh ra đời nhờ phát minh sóng điện từ với sự đóng góp của
các nhà bác học Maxwell, Faraday, Hertz…vào cuối thế kỷ XIX. Năm 1895,
nhà bác học Nga Alexandre S.Poppov đã công bố phát minh ra ăng ten vô
5



những kết luận khoa học để định hướng thực tiễn và đáp ứng được những yêu
cầu bức xúc của công tác nghiên cứu, giảng dạy, bồi dưỡng về phương thức
sản xuất các chương trình phát thanh trực tiếp ở nước ta hiện nay.
- Đinh Thị Thu Hằng (2013), Báo Phát thanh, Lý thuyết và kỹ năng cơ
bản, NXB Chính trị - Hành chính.
Cuốn sách gồm 7 chương, trình bày các nội dung đặc trưng, thể loại và
công chúng của báo phát thanh, cách viết và biên tập cho báo phát thanh, tổ
chức sản xuất chương trình phát thanh. Đây là cuốn sách mà học viên có thể
tham khảo phục vụ cho luận văn về quy trình tổ chức sản xuất chương trình
phát thanh.
- Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn
hóa Thông tin.
Cuốn sách này đề cập chủ yếu đến phương pháp sản xuất chương trình
truyền hình, các yếu tố cấu thành một sản phẩm truyền hình. Đặc biệt cuốn
sách trình bày tương đối kỹ lưỡng tới quy trình sản xuất các thể loại trong
truyền hình như: ký sự, phóng sự, cầu truyền hình, tin truyền hình…
- Phạm Thị Sao Băng (2005), Giáo trình Công nghệ sản xuất chương
trình truyền hình, NXB Khoa học và Kỹ thuật.
Giáo trình này trình bày về các nội dung: giới thiệu chung về chương trình
truyền hình, quy trình sản xuất một chương trình truyền hình, công nghệ sản
xuất các chương trình truyền hình, công nghệ phân phối các chương trình
truyền hình, một số thiết bị tiền kỳ và hậu kỳ trong công nghệ sản xuất
chương trình truyền hình.
- Dương Xuân Sơn (2009),Giáo trình Báo chí truyền hình, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Giáo trình tập trung trình bày các vấn đề của báo chí truyền hình như: vị trí,
vai trò, lịch sử ra đời phát triển của truyền hình; khái niệm, đặc trưng; nguyên
7


Đây là cuốn sách đầu tiên viết về hoạt động xã hội hóa hoạt động
truyền hình tại Việt Nam. Cuốn sách đã triển khai các mục tiêu nghiên cứu
một cách khoa học, bài bản với 3 nhiệm vụ cụ thể:
Thứ nhất, nghiên cứu hệ thống và khái quát hóa khung lý thuyết về hoạt động
xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình: (1) Làm rõ khái niệm về xã hội
hóa sản xuất chương trình truyền hình và một số khái niệm liên quan để so
sánh. (2) Tính tất yếu của hoạt động xã hội hóa. (3)Các hình thức xã hội hóa
sản xuất chủ yếu. (4)Những nguyên tắc để đảm bảo tính định hướng nhưng
vẫn khai thác, khuyến khích được các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt
động sản xuất chương trình truyền hình…
Thứ hai, điều tra, phân tích các hoạt động xã hội hóa ở một số đài truyền hình
ở Việt Nam hiện nay một cách toàn diện, chi tiết qua các yếu tố cơ bản: đối
tượng hợp tác, hình thức, nội dung xã hội hóa, các phương thức tổ chức, quản
lý hoạt động xã hội hóa, từ đó nhận định về thực trạng của hoạt động này trên
thực tế. Cuốn sách khẳng định tính tích cực của hoạt động xã hội hóa, đồng
thời chú trọng chỉ rõ những hạn chế cần sớm khắc phục đặc biệt là về nhận
thức cũng như quá trình quản lý của hoạt động này.
Thứ ba, trên cơ sở các kết luận khái quát đó, kết hợp với kinh nghiệm phát
triển lĩnh vực này của một số nước trên thế giới, cuốn sách dự báo một số vấn
đề đặt ra trong thời gian tới và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hiệu
quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Việt Nam.
Do đối tượng khảo sát rộng nên cuốn sách không đề cập cụ thể về thực
trạng xã hội hóa chương trình truyền hình ở một đài nào. Tại mục 2.2. “Đối
tượng tham gia hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở
Việt Nam” tác giả có đề cập tới đối tượng tham gia xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình là các đối tác nước ngoài. Tại mục này, tác giả đã
nói tới hoạt động trao đổi chương trình giữa đài PTTH Quảng Ninh với các
9



tại đài Truyền hình Việt Nam thông qua kênh truyền hình VTV1. Phân tích
thành công và hạn chế của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền
hình dưới các bình diện: về kinh tế báo chí, về chất lượng chương trình, về
việc đa dạng hóa sản phẩm truyền thông đáp ứng nhu cầu của công chúng
thông qua ba chương trình truyền hình “Năng lượng cho Phát triển đất nước”,
“S Việt Nam-Hương vị cuộc sống” và “7 ngày vui sống” trên kênh VTV1. Đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình ở đài truyền hình Việt Nam.
- Trần Thị Hồng Vân, Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
qua sản phẩm của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng
Vàng từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng Đài truyền hình Thành phố Hồ
Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Luận văn làm rõ vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình
với sự tham gia của các công ty truyền thông. Trong đó, làm nổi bật mối quan
hệ giữa đài truyền hình TPHCM và các công ty truyền thông tham gia sản
xuất chương trình truyền hình. Phân tích các chương trình do công ty truyền
thông sản xuất trên đài truyền hình TPHCM từ năm 2008 đến 2010. Đồng
thời, tiến hành khảo sát thực tế các chương trình đang phát sóng trên đài
truyền hình TPHCM của các công ty Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng.
Trình bày những giải pháp hữu dụng cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng
chương trình liên kết sản xuất trên đài truyền hình TPHCM trong thời gian tới.
- Trần Việt Hùng, Xã hội hóa chương trình truyền hình trên VTV4, Luận
văn thạc sĩ, Học viện báo chí tuyên truyền
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa chương
trình truyền hình trong mối quan hệ với các công ty truyền thông tại VTV4,
luận văn đề xuất giải pháp để hoạt động xã hội hóa chương trình truyền hình
trên VTV4 đi vào chuyên nghiệp, quy củ, có hiệu quả cao, phù hợp với định
11



+ Liên kết truyền hình : Đừng đánh mất khán giả, tác giả Lê Quốc Vinh,
đăng trên báo Tuổi trẻ online, ngày 21/5/2015
+ Kênh truyền hình xã hội hóa: Vất vả tồn tại, tác giả Như Hoa, đăng
trên báo Sài Gòn online, ngày 30/8/2015
+ Về những sai sót trong các chương trình truyền hình liên kết, tác giả
Chi Anh, đăng trên báo Nhân dân điện tử ngày 18/6/2015
+ Liên kết nhưng không thương mại hóa, tư nhân hóa báo chí, tác giả
Khánh Minh, đăng trên báo Nhân dân điện tử ngày 11/8/2016
+ Hàn Quốc, Nhật Bản, Hong Kong…ào ạt đầu tư vào truyền hình Việt,
đăng trên Báo điện tử Tuổi trẻ ngày 6/1/2017.
Những bài viết trên đều khẳng định quá trình xã hội hóa truyền hình
cũng góp phần làm khởi sắc đời sống truyền hình, thỏa mãn nhu cầu thông tin,
giáo dục, giải trí ngày càng phong phú của người dân, góp phần tăng cường
nguồn lực (tài chính, kỹ thuật, nhân lực...) cho ngành truyền hình. Bên cạnh
đó những bài viết cũng chỉ ra những mặt bất cập của hoạt động xã hội hóa sản
xuất chương trình truyền hình lâu nay: từ xu thế thương mại hóa, câu chuyện
“bán sóng”, cạnh tranh không lành mạnh, nhập siêu sản phẩm truyền hình...
đến những sơ sót, sai sót về nội dung, sai phạm những quy định (quảng cáo
dư thời lượng, quảng cáo không phù hợp...), bội thực các chương trình truyền
hình thực tế dạng giải trí...
Tất cả các luận văn và các bài viết trên chủ yếu tập trung nghiên cứu
hoạt động xã hội hóa, liên kết sản xuất chương trình truyền hình tại Việt Nam
nói chung và tại các đài, các kênh riêng biệt. Mặc dù các công trình nghiên
cứu này đã tập trung nghiên cứu về nhiều vấn đề khía cạnh liên quan tới hoạt
động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình từ cơ sở lý luận cho đến
thực tiễn và đã đưa ra nhiều giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động xã hội hóa nhưng chưa có công trình nào đề cập đến hoạt động xã hội
13


động này.
14


Ba là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động tổ
chức sản xuất chương trình phát thanh truyền hình với nước ngoài tại Đài
Quảng Ninh trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên của đề tài là hoạt động tổ chức sản xuất chương trình
phát thanh truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh.
4.2.

Phạm vi nghiên cứu

Các chương trình phát thanh truyền hình phối hợp sản xuất với đối tác
nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh bao gồm: Chương trình truyền hình
thực tế Nụ cười Hạ Long, chương trình phát thanh trên kênh QNR2. Thời gian
khảo sát từ năm tháng 6/2016 đến 6/2017.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1.

Cơ sở lý luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm, đường lối chính sách của
Đảng, Nhà nước về báo chí, một số lý thuyết báo chí nói chung và lý thuyết
về phát thanh, truyền hình nói riêng.
5.2.

Phương pháp nghiên cứu công cụ


Luận văn làm rõ và bổ sung những vấn đề lý luận về tổ chức sản xuất
chương trình PT-TH, đặc biệt là về tổ chức sản xuất chương trình PT-TH giữa
một đài PT-TH địa phương với nước ngoài.
6.2 . Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các đài địa phương, cơ
quan quản lý báo chí...
- Từ việc nghiên cứu đề tài này sẽ phân tích sâu sắc thực trạng tổ chức
sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH
Quảng Ninh, từ đó làm rõ những mặt tích cực cũng như những hạn chế tồn tại,
đưa ra đề xuất giải pháp thích hợp để nhằm thúc đẩy hoạt động tổ chức sản
xuất chương trình phát thanh truyền hình với nước ngoài của đài Quảng Ninh
trong thời gian tới. Từ đó góp phần vào việc nâng cao chất lượng các chương
16


trình phát thanh, truyền hình được tổ chức sản xuất với nước ngoài nói riêng
và chương trình của đài nói chung.
- Việc nghiên cứu đề tài này cũng là nhằm góp phần bổ sung xây dựng
những vấn đề lý luận mới về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền
hình với nước ngoài tại Việt Nam nói chung và tại đài Quảng Ninh nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 3 chương. Cụ thể:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền
hình với nước ngoài
Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh
Chƣơng 3:Giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất chương trình
phát thanh, truyền hình với nước ngoài tại đài PT-TH Quảng Ninh

18


động và các phương tiện, công cụ lao động thích hợp. Trong quá trình đó tìm
biện pháp phối hợp hài hòa giữa các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất
nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức sản xuất có vai trò quyết định
đối với hiệu quả của quá trình sản xuất.
1.1.2. Chương trình phát thanh
Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ
và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác
người tiếp nhận. Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói,
tiếng động và âm nhạc trong việc phản ánh cuộc sống. [6, tr.160]
Có hai loại hình phát thanh chính là :
- Phát thanh qua làn sóng điện (vô tuyến)
- Truyền thanh qua hệ thống dây dẫn (hữu tuyến)
Tùy theo mục đích, người ta chia phát thanh thành các loại: phát thanh
thương mại, phát thanh quảng cáo, phát thanh giáo dục, phát thanh chính trị xã hội.
Về phương diện kỹ thuật, phát thanh được chia làm hai loại: AM và FM.
AM (Amplitude Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong phát
thanh sóng dài, sóng trung và sóng ngắn. FM (Frequence Modulation) là kỹ
thuật điều tần được áp dụng trong phát thanh sóng cực ngắn.
Phát thanh là loại hình truyền sóng tức thì vì vậy trở thành một loại hình
báo chí thông tin nhanh nhất. Cũng do cách thức truyền sóng đơn giản nên
phát thanh có khả năng phủ sóng rộng, vì vậy thông tin của phát thanh đến với
công chúng rộng rãi. Do chi phí thấp từ khâu sản xuất, phát sóng đến thiết bị
nghe nên phát thanh là loại hình báo chí rẻ tiền nhất nhưng lại tiện lợi nhất
bởi người nghe có thể nghe đài ở bất cứ đâu và ở bất cứ thời gian nào. Phát
thanh là một loại hình báo chí hấp dẫn, nó tạo ra hình ảnh thông qua ngôn ngữ
nói, gợi cảm xúc cho người nghe và đặc biệt phát thanh có khả năng tương tác
19



bài, âm nhạc, lời dẫn, nhạc hiệu,...Những thành phần này không thể để một
cách rời rạc mà cần được liên kết, sắp xếp, tổ chức sao cho hợp lý. Sự sắp xếp
hợp lý được hiểu là giữa các thành phần này phải có sự kết nối cả nội dung và
hình thức thể hiện. Nội dung cũng như thời lượng của mỗi chương trình phát
thanh được quyết định bởi kế hoạch tuyên truyền của cơ quan truyền thông.
Từ những định nghĩa trên tác giả luận văn xin đưa ra định nghĩa về
chương trình phát thanh như sau:
Chương trình phát thanh là một sản phẩm hoàn chỉnh trong đó các
thành phần như tin, bài, âm nhạc, lời dẫn được kết nối sắp xếp hợp lý theo
thời lượng nhất định, mục đích nhất quán, phục vụ đối tượng công chúng cụ
thể nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan truyền thông.
1.1.3. Chương trình truyền hình
Truyền hình là loại hình phương tiện thông tin đại chúng mới xuất hiện
từ khoảng giữa thế kỷ XX, nhưng đã phát triển rất nhanh chóng, mạnh mẽ và
được phổ biến hết sức rộng rãi trong vòng vài ba thập niên trở lại đây.
Trong cuốn “Truyền thông đại chúng” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn có
viết:“ Truyền hình là một loại phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải
thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô
tuyến truyền hình (television) bắt nguồn từ hai từ tele có nghĩa là “ở xa” và
“vision” là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa.” [29, tr.127]
Trên phương diện kỹ thuật thì truyền hình là quá trình biến đổi năng
lượng ánh sáng thông qua ống kính máy thu hình thành năng lượng điện,
nguồn tín hiệu điện tử được phát sóng truyền đến máy thu hình và lại biến đổi
thành năng lượng ánh sáng tác động vào thị giác, người xem nhận được hình
ảnh thông qua màn hình.

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status