ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH VÀ MÁY THU THANH
THEO CÔNG NGHỆ SỐ
MÃ SỐ KC.01.01/06-10
Chủ nhiệm đề tài: THS. ĐÀO DUY HỨA
2.2. Bài học kinh nghiệm qua tìm hiểu công nghệ sản xuất chương trình
phát thanh của một số đài trên thế giới 24
2.3. Những vấn đề đặt ra và những vấn đề được nghiên cứu, giải quyết trong sản
xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số.
2.3.1. Khái niệm về công nghệ phát thanh hiện đại 28
2.3.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 28
2.3.3. Những vấn đề được nghiên cứu, giải quyết 29
Chương 3. LƯU TRỮ ÂM THANH THEO CÔNG NGHỆ SỐ
3.1. Tổng quan về hiện trạng và xu hướng lưu trữ âm thanh theo công nghệ số.
3.1.1. Một số trung tâm lưu trữ tiêu biểu trên thế giới 33
2
3.1.2. Thông tin lưu trữ 37
3.1.3. Vật liệu lưu trữ 38
3.1.4. Chuyển đổi vật liệu lưu trữ 42
3.1.5. Các vấn đề khác 45
3.1.6. Sơ đồ quá trình lưu trữ tư liệu phát thanh theo công nghệ số tại
Đài Tiếng nói Việt Nam 45
3.2. Những vấn đề đặt ra và những vấn đề được nghiên cứu, giải quyết trong
lưu trữ âm thanh theo công nghệ số.
3.2.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 50
3.2.2. Những vấn đề được nghiên cứu, giải quyết 52
Chương 4. PHÁT SÓNG PHÁT THANH SỐ VÀ ĐA PHƯƠNG TIỆN
4.1. Tổng quan về phát sóng phát thanh số và đa phương tiện.
4.1.1 Phát sóng phát thanh số 55
4.1.2. Phát thanh đa phương tiện 57
4.2. Những vấn đề đặt ra và những vấn đề được nghiên cứu, giải quyết đối với
phát sóng phát thanh số và đa phương tiện
4.2.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 61
4.2.2. Những vấn đề được nghiên cứu, giải quyết 63
và phát kỹ thuật số hay theo thuật ngữ hiện tại là phát thanh số thay thế các hệ thống analog
trên nhiều lĩnh vực. Nhưng vì sự không tương thích của các hệ thống phát thanh số này với
các hệ thống phát sóng AM và FM hiện tại, do vậy cần phải có các máy thu thanh mới. Phát
thanh số hiện tại với nhiều tiêu chuẩn và xu hướng khác nhau đang là một vấn đề nghiên cứu
triển khai của tất cả các đài phát thanh trên thế giới và trong khu vực.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lĩnh vực sản xuất chương trình, quá trình số hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ.
Tại Đài Tiếng nói Việt Nam, số hóa sản xuất chương trình hiện nay đã chuyển sang lĩnh vực
lưu trữ và xây dựng mạng trao đổi thông tin diện rộng. Trong lĩnh vực truyền dẫn phát sóng,
việc chuyển sang kỷ nguyên số và đa phương tiện là xu hướng không thể tránh khỏi đối với
các đài phát thanh. Nhưng trước khi chuyển đổi, chúng ta phải trả lời câu hỏi chuyển như thế
nào, cách chuyển, lộ trình chuyển đổi ra sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế và xã hội của
Việt Nam v.v. Các vấn đề đặt ra đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách khoa học.
Hiện nay, Đài Tiếng nói Việt Nam và nhiều đài phát thanh truyền hình địa phương đã
và đang số hoá các khâu sản xuất chương trình và truyền dẫn phát sóng của mình, bắt đầu từ
việc đầu tư trang thiết bị hiện đại, khai thác an toàn. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, chúng
ta chưa có một quy trình sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ mới- công nghệ số.
Để có th
ể ứng dụng thành công công nghệ hiện đại , việc xây dựng một quy trình sản xuất
chương trình phát thanh theo công nghệ hiện đại là hết sức cần thiết.
Chính vì yêu cầu đó, trong năm 2004- Đài Tiếng nói Việt Nam đã tiến hành thực hiện
nghiên cứu xây dựng các quy trình kỹ thuật sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ
hiện đại. Đề tài cấp Đài đã bước đầu đưa ra một quy trình công nghệ sản xuất chương trình
phát thanh theo công nghệ hiện đại nhưng đồng thời cũng mở ra rất nhiều nội dung cần thiết
phải nghiên cứu trên một phạm vi rộng hơn, toàn diện hơn và sâu hơn mà chỉ có thể thực hiện
được như một đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước.
Về lưu trữ tư liệu, trong năm 2003, một đề tài nghiên cứu cấp Đài đã đượ
c thực hiện
để chọn phương tiện, vật liệu lưu trữ theo công nghệ số. Trong năm 2005 Đài Tiếng nói Việt
Nam bắt đầu triển khai Dự án Trang bị Hệ thống thiết bị kỹ thuật số hoá kho băng. Sau khi dự
Khác với phát thanh số, hiện nay trên thị trường Việt Nam đã có những thiết bị thu được các
chương trình đa phương tiện ( các điện thoại di động thế hệ sau theo công nghệ GSM của
Nokia như Nokia N90, N96, N97 ), theo công nghệ CDMA của Samsung, LG. Vì vậy việc
nghiên cứu lựa chọn tiêu chuẩn phát thanh đa phương tiện cho phát thanh Việt Nam là một
yêu cầu cấp thiết.
Chính vì các lý do nêu trên, năm 2007 – Đ
ài Tiếng nói Việt Nam đã được Bộ Khoa
học Công nghệ qua quá trình tuyển chọn và xét duyệt cho tiến hành thực hiện đề tài nghiên
cứu “ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT ÂM THANH VÀ MÁY THU
THANH THEO CÔNG NGHỆ SỐ ”
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
* Đối tượng nghiên cứu:
Dây chuyền phát thanh bao gồm sản xuất chương trình, lưu trữ âm thanh truyền dẫn
phát sóng, máy thu thanh trong quá trình chuyển sang công nghệ số, những vấn đề đặt ra và
h
ướng giải quyết.
* Phạm vi nghiên cứu :
- Sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số.
- Lưu trữ âm thanh theo công nghệ số.
- Phát sóng phát thanh số và đa phương tiện.
5
- Máy thu thanh theo công nghệ số.
3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
* Nghiên cứu hồi cứu : tổng quan các nghiên cứu có liên quan.
* Nghiên cứu cắt ngang :
- Lựa chọn các nội dung tiêu biểu trong dây chuyền phát thanh để tiến hành nghiên
cứu chi tiết và thiết lập giải pháp cụ thể.
- Xây dựng chương trình phần mềm tương ứng
- Thử nghiệm kết quả nghiên cứu.
6
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :
Ngoài những quy trình, chiến lược và lộ trình phát triển được xây dựng để làm cơ sở
phát triển cho kỹ thuật phát thanh Việt Nam; trong quá trình thực hiện, nhiều sản phẩm của đề
tài đã được ứng dụng vào thực tiễn. Đó là:
- Quy trình sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số.
- Quy trình lưu trữ âm thanh theo công nghệ số.
- Các hệ thống chương trình phần mềm trao đổi thông tin, đào tạo trực tuyến .
- Hệ thống tiếng động mẫu.
- Mô hình các hệ phát thanh.
- Phát thanh đa phương tiện qua hệ phát thanh có hình.
- Thử nghiệm phát sóng phát thanh số theo chuẩn HD Radio trên hai băng tần AM và
FM tại Hà nội từ tháng 6.2007 đến nay.
7. Cấu trúc của báo cáo tổng hợp đề tài :
Báo cáo tổng hợp của đề tài gồm 5 chương ( không kể Mở đầu và Kết luận ) trình bày
trong 95 trang và 8 sản phẩm kết quả nghiên cứu của đề tài .
Chương I : Tổng quan về dây chuyền phát thanh Việt Nam .
Chương II : Sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số.
Chương III : Lưu trữ âm thanh theo công nghệ số.
Chương IV : Phát sóng phát thanh số.
Chương V : Máy thu thanh theo công nghệ số.
Sản phẩm kết quả nghiên cứu của đề tài.
1. Thiết kế mẫu máy thu thanh số rẻ tiền theo tiêu chuẩn HD-Radio.
2. Băng lưu trữ chuyển đổi từ công nghệ analog sang công nghệ số.
3. Băng lưu trữ tư liệu đã xuống cấp được khôi phục lại theo công nghệ số.
4. Tiếng động mẫu cho các chương trình phát thanh.
5. Quy trình công nghệ sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số.
6. Lộ trình ứng dụng phát thanh đa phương tiện cho Đài Tiếng nói Việt Nam.
7. Quy trình công nghệ lưu trữ tư liệu phát thanh theo công nghệ số.
triển thành các chương trình :
- VOV5 - Chương trình phát thanh đối ngoại dành cho người nước ngoài sống tại Việt
Nam, chủ yếu được phát bằng sóng cực ngắn (FM) ở các thành phố lớn, nơi có đông người
nước ngoài sinh sống, làm việc và du lịch.
- VOV6 : Chương trình phát thanh đối ngoại dành cho người Việt Nam sống xa tổ
quốc cũng như người nước ngoài. Với những khu vực gần, chương trình VOV6-1 và VOV6-2
được phát bằng sóng ngắn (SW) và sóng trung (MW) công suất lớn phát từ trong nước. Đối
với các khu vực xa như Tây Âu, Bắc Âu, Nam Âu, Bắc Mỹ và vùng Caribê, Đài TNVN thuê
các hãng phát thanh lớn phát lại chương trình VOV6-3.
- Hiện nay Đài TNVN đã sắp xếp lại Hệ phát thanh đối ngoại là VOV5 cho cả trong
nước và quốc tế.
8
Tổng công suất phát sóng của các đài phát sóng phát thanh do Đài TNVN trực tiếp
quản lý là 7055kW trong đó sóng trung là 5400kW, sóng ngắn là 1450kW, sóng FM là
205kW (tính đến 6 tháng cuối năm 2009).
Về sản lượng phát sóng, hiện nay hàng ngày Đài TNVN đang thực hiện phát sóng với
sản lượng 1066 giờ 35 phút trên 76 làn sóng (29 sóng phát thanh AM-FM đối nội, 27 sóng
phát thanh FM khu vực, 4 sóng phát thanh AM khu vực, 16 sóng phát thanh đối ngoại).
Từ ngày 7/9/2008, Đài TNVN có thêm kênh phát thanh có hình VOVTV truyền qua
vệ tinh và phat sóng mặt đất trên kênh 38. Và từ 19/5/2009, có thêm kênh VOV giao thông
phát trên tấn số 91MHz do Trung tâm quảng cáo và dịch vụ phát thanh VOVas thực hiện.
1.1.2. Tổng quan về hệ thống thiết bị kỹ thuật tại Đài Tiếng nói Việt Nam.
Để có thể đạt được những thành quả như trên, Đài TNVN đã trang bị khá đầy đủ các
thiết bị kỹ thuật, điển hình như:
- Hệ thống phòng thu được đầu tư mới và nâng cấp các phòng thu cũ với việc ứng
dụng công nghệ số và công nghệ tin học hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực và trên
thế giới.
- Hệ thống mạng máy tính và phần mềm sản xuất chương trình phát thanh được trang
bị ở Đài TNVN là hệ thống thiết bị đồng bộ và hiện đại.
Máy chủ
VOV-
online
Tường
thuật
trực
ti
ếp
Truyền
dẫn DTH
Mạng
Internet
Truyền âm
Phò
ng
th
Biên tập
(Pha âm)
Hệ thống
phòng thu
Phóng
viên thu
th h
Kho băng
tư liệu
Thu thanh
lưu động
Tư liệu
trao đổi
vấn đề tương thích với các đài khác trong nước và quốc tế.
10
Bên cạnh đó, bài toán về quản lý cũng như phối hợp giữa các đơn vị phát thanh truyền
hình và viễn thông hướng tới một nền công nghệ đa phương tiện lại càng đòi hỏi một tầm
nhìn mang tính chiến lược cũng như cách giải quyết triệt để hơn so với công nghệ analog.
Với sự phát triển nhanh chóng, nhưng vẫn mang tính chất trăm hoa đua nở trong việc
số hoá và hiện đại hệ thống thiết bị phát thanh truyền hình, các cơ quan quản lý nhà nước của
Việt Nam như Bộ Thông tin Truyền thông đã phải thành lập những cơ quan cấp cục để đẩy
mạnh công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực phát thanh truyền hình và Internet cũng như
hỗ trợ cho các đài phát thanh truyền hình trong quá trình chuyển đổi. Vì mới thành lập, các
đơn vị này cũng chưa đóng góp được nhiều, nhưng hy vọng sẽ có những bước thúc đẩy mới
trong việc xây dựng chiến lược phát triển chung cho ngành phát thanh - truyền hình - viễn
thông cũng như lộ trình chuyển đổi.
1.2.1.2. Về tiêu chuẩn.
Như đã phân tích ở trên, với quá nhiều các tiêu chuẩn hiện tại trong lĩnh vực phát
thanh - truyền hình số và đa phương tiện, vấn đề lựa chọn tiêu chuẩn nào là một bài toán chưa
có lời giải.
Hiện nay, phát thanh truyền hình Việt Nam chưa có lộ trình quốc gia về chuyển đổi
sang công nghệ số. Việc lựa chọn tiêu chuẩn nào cũng chưa được tiến hành ở cấp quốc gia –
chưa có một uỷ ban quốc gia về chuyển đổi sang công nghệ số cho phát thanh truyền hình
viễn thông. Tuy có một số công trình nghiên cứu khoa học về phát thanh và truyền hình số
cấp nhà nước, nhưng kết quả của các công trình nghiên cứu này vẫn chưa được đệ trình lên
các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và ban hành ở cấp quốc gia.
Trong lưu trữ và sản xuất chương trình, những vấn đề về tiêu chuẩn hoá lại càng quan
trọng để có thể thực hiện việc trao đổi chương trình giữa các đài và trong cùng một đài.
1.2.1.3. Về xây dựng chương trình, dịch vụ mới.
Với sự phát triển mạnh của công nghệ và kỹ thuật phát thanh truyền hình trong giai
đoạn vừa qua, có thể nói công nghệ và kỹ thuật phát thanh truyền hình đã vượt quá xa so với
nội dung cũng như phương thức sản xuất chương trình. Chính vì vậy mà trong nhiều trường
trung ương cũng nhờ thế mà có thể được giải quyết tích cực hơn.
Với xu hướng tất yếu là hội nhập giữa các phương tiện phát thanh, truyền hình và viễn
thông, việc phân công hoá tối đa các nhiệm vụ để tạo nên một chuỗi cung cấp dịch vụ chất
lượng cao sẽ dễ được thực hiện hơn và vì vậy tránh được tình trạng trùng lắp, lãng phí khi đầu
tư công nghệ mới. Chính xu thế đa phương tiện sẽ cung cấp nhiều khả năng mới để giải quyết
bài toán về phối hợp giữa các đơn vị và các ngành.
1.2.1.5. Về sự lạc hậu, lỗi thời nhanh chóng của các định dạng, thiết bị và vật liệu
- Các định dạng analog
Các định dạng analog đang dần dần biến mất, nói cả về hệ thống cho cả phần cứng-
các thiết bị phát lại và vật liệu lưu trữ. Cho đến nay, hầu như còn rất ít các nhà sản xuất đưa ra
thị trường các thiết bị, vật liệu analog và hầu như không còn hỗ trợ kỹ thuật cho các định dạng
này
- Các định dạng số
Trừ CD âm thanh, DVD âm thanh và Minidisc, tất cả các định dạng âm thanh số đều
trở nên lạc hậu sau một giai đoạn ngắn xuất hiện trên thị trường. Có thể nhiều vật liệu còn
trong tình trạng tốt nhưng các thiết bị phát lại đã không còn được sản xuất. Đánh giá chung là
chưa có hệ thống ghi âm số nào phát triển riêng cho âm thanh khẳng định được tính ổn định
và bền vững ngay trên thị trường, chứ chưa tính đến trong lĩnh vực lưu trữ. Trong những năm
gần đây, có một sự chuyển đổi rõ rệt từ các định dạng âm thanh cụ thể như R-DAT và CD-R
(âm thanh) sang định dạng lưu trữ nội dung như dữ liệu. Ví dụ như các dạng file trong môi
trường máy tính. Về nguyên tắc, các định dạng file, hệ điều hành và vật liệu lưu trữ máy tính
cũng bị ảnh hưởng của việc loại bỏ ra khỏi thị trường, nhưng đây được coi như một môi
trường chuyên nghiệp và vì vậy dễ xử lý các vấn đề hơn so với các dạng âm thanh số do môi
trường dân dụng dẫn dắt. R-DAT và CD-R là các hệ thống ghi âm số đầu tiên được thị trường
âm thanh chấp nhận rộng rãi và được dùng như những định dạng số cho mục đích lưu trữ.
Tuy nhiên, chưa có hệ thống nào trong số đó đã chứng minh được tính ổn định về thời gian
lưu trữ. R-DAT như một định dạng đang có nguy cơ biến mất do không còn các thiết bị phần
cứng và vật tư dự phòng. CD-R tuy đang được sử dụng rộng rãi hiện nay nhưng còn nhiều
vấn đề đặt ra cho âm thanh lưu trữ trên CD-R và DVD. Ủy ban kỹ thuật của Hiệp hội lưu trữ
âm thanh và tư liệu nghe nhìn- IASA (International Accosiation of Sound and Audiovisual
được ghi dưới dạng giảm thông tin hay định dạng phi tuyến, những nội dung như vậy vẫn
phải được gìn giữ nghiêm túc.
Các thuật toán mã hóa làm giảm thông tin, được sử dụng rộng rãi như một công cụ
mạnh hiện nay. Việc sử dụng của chúng lại đi ngược lại với nguyên tắc của lưu trữ là gìn giữ
lại càng nhiều thông tin cơ bản ban đầu càng tốt. Thu
ật toán giảm thông tin sẽ không cho
phép khôi phục lại tín hiệu thành hiện trạng âm thanh ban đầu, hạn chế việc sử dụng bản ghi
trong tương lai do việc xuất hiện các méo ảo khi sử dụng các bộ mã hoá hoặc giải mã nhiều
lần .
Trong trường hợp các bản ghi gốc được sử dụng dưới định dạng giảm thông tin, vấn
đề chính đặt ra là sự biến mất của các thiết bị phát lại khi định dạng gốc có tính chất đặc
chủng. Ví dụ như trong trường hợp Minidisc hay là bất kỳ một hệ thống tương tự nào trong
tương lai.
1.2.1.6. Về nguồn nhân lực và khả năng tài chính.
Chuyển đổi sang công nghệ số đòi hỏi nhiều chi phí, trong đó chi phí đầu tư ban đầu
cho hệ thống thiết bị là một con số rất lớn. Chính vì vậy mà vấn đề cân nhắc giữa chi phí bỏ
ra và kh
ả năng thu hồi vốn luôn là một câu hỏi được lãnh đạo các đài phát thanh truyền hình
đặt ra đầu tiên. Nhưng cho đến nay, đa số các nhà quản lý đều nhận ra rằng, chuyển đổi sang
công nghệ số là một cơ hội lớn chứ không phải là một thách thức.
13
Với việc chuyển đổi sang công nghệ số, chúng ta phải chấp nhận sự lạc hậu tương đối
nhanh chóng của các định dạng, phần cứng và phần mềm. Vì vậy, thời gian khấu hao thiết bị
sẽ ngắn hơn, đòi hỏi ngoài sự lựa chọn chu đáo về công nghệ kỹ thuật, còn là sự tính toán chi
tiết, thực tế về tài chính. Bên cạnh đó, nguyên tắc cơ bản trong lựa chọn thiết bị công nghệ là
phải tính đến quá trình đào tạo người sử dụng - phải làm sao việc nâng cấp thay đổi tránh làm
cho người sử dụng cảm thấy khó hơn và liên tục phải đào tạo lại.
Chuyển sang công nghệ mới, quyết định sự thành bại là người sử dụng. Chính vì vậy,
phải có một kế hoạch chi tiết đào tạo cho người sử dụng, tốt nhất là theo kiểu cuốn chiếu, đào
vừa thúc đẩy sự hợp tác vừa tăng sự cạnh tranh giữa các nước với nhau, do vậy phát thanh
Việt Nam cũng như các lĩnh vực khác ph
ải tự tìm cho mình hướng đi phù hợp với điều kiện
của nước nhà, để tạo được cơ hội phát triển, giao lưu, hội nhập quốc tế, và đây chính là giá
trị kinh tế-kỹ thuật chính mà đề tài mang lại.
Việc nghiên cứu, đề xuất các quy trình nêu trên thực chất là bước đi tắt, đón đầu trong
việc ứng dụng những công nghệ tiến tiến nhất củ
a lĩnh vực điện tử -viễn thông và tin học vào
14
lĩnh vực phát thanh Việt Nam. Và điều này đồng nghĩa với việc tiết kiệm kinh phí đầu tư, rút
ngắn khoảng cách về ứng dụng công nghệ giữa Việt Nam với các nước tiên tiến trên thế giới.
Không những vậy, việc xây dựng quy trình có liên quan mật thiết đến việc chọn lựa
các tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn hoá là vấn đề hết sức quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế
vì ngay cả đối với hàng hoá tiêu dùng đơn giản, nếu không theo tiêu chuẩn thì không thể lưu
thông được. Đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật số thì tiêu chuẩn hoá có ý nghĩa sống còn, nó
đảm bảo cho sự phát triển của công nghệ và thị trường tiêu thụ.
Việc chọn hệ phần mềm biên tập của các đài phát thanh ở nước ta thời gian qua cũng
là một minh chứng cho sự cần thiết và hiệu quả khi nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất
chương trình phát thanh theo công nghệ số. Do chưa có sự nghiên cứu, định hướng kỹ, nên
mỗi đài phát thanh tự chọn cho mình một phần mềm biên tập riêng. Ngay tại một số đài, các
chương trình khác nhau cũng phải sử dụng hệ thống thiết bị khác nhau để phát sóng gây khó
khăn cho công tác khai thác và rất lãng phí. Việc sản xuất chương trình phát thanh theo mô
hình công nghệ kỹ thuật số với việc ứng dụng của mạng máy tính âm thanh và sử dụng hệ
phần mềm Dalét và Netia ở đài Tiếng nói Việt Nam là phù hợp.
Quy trình sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số của đề tài được đề xuất
trên cơ sở ứng dụng mạng máy tính âm thanh với các phần mềm biên tập chuyên dụng và
mạng trao đổi thông tin diện rộng Đài Tiếng nói Việt Nam. Mạng này được xây dựng trên nền
công nghệ mạng riêng ảo VPN ( Virtual Private Network) ứng dụng công nghệ thế hệ sau
NGN ( Next Generation Network ). Đây là công nghệ mới đang được nhiều nước trong đó có
- Xây dựng hệ thống thuật ngữ, định nghĩa trong lĩnh vực phát thanh Việt Nam .
- Khảo sát và phân tích thực trạng sản xuất chương trình phát thanh hiện tại ở Đài
Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh địa phương ( về công nghệ kỹ thuật, nội dung, quản
lý ).
- Nghiên cứu về mã hoá âm thanh để chuyển đổi các định dạng âm thanh về hệ thống
sản xuất chương trình tại 39- 45 Bà Triệu.
- Nghiên cứu khả năng và giải pháp phát triển các ứng dụng trao đổi thông tin và các
ứng dụng khác trên trang web nội bộ của Đài Tiếng nói Việt Nam
- Nghiên cứu phương án phát triển dịch vụ cung cấp tin bài, chương trình phát thanh
theo yêu cầu.
- Nghiên cứu, phát triển hệ thống chuyển đổi các dạng file âm thanh sang dạng file
theo chuẩn số hoá hệ thống sản xuất chương trình tại 39-45 Bà Triệu.
- Phương án và giải pháp chuẩn hoá thiết bị ghi âm lưu động cho phóng viên biên tập,
xe thu thanh lưu động, thiết bị ghi âm lưu động.
- Nghiên cứu xây dựng phương án mạng trao đổi thông tin Đài TNVN với các đài phát
thanh địa phương.
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng, phục vụ cho việc kiểm
thính các chương trình phát thanh của Đài TNVN.
- Nghiên cứu giải pháp kiểm tra chất lượng các sóng phát thanh từ xa .
- Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ phát thanh Thời sự Chính trị tổng hợp VOV1 theo
công nghệ số.
- Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ phát thanh Văn hoá xã hội VOV2 và Thông tin -
Giải trí VOV3 theo công nghệ số .
- Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ phát thanh dân tộc VOV4 theo công nghệ số.
- Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ phát thanh cho người nước ngoài ở Việt Nam
VOV5 và hệ phát thanh đối ngoại VOV6 theo công nghệ số.
- Nghiên c
ứu giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát
thanh theo công nghệ hiện đại.
- Nghiên cứu xây dựng chuẩn số hoá cho phát thanh Việt Nam để làm cơ sở xây dựng
truyền các hệ phát thanh Đài TNVN.
- Nghiên cứu xây dựng và phát triển chương trình phần mềm trao đổi thông tin với các
đài phát thanh truyền hình địa phương .
- Xây dựng quy trình tổng thể công nghệ sản xuất chương trình phát thanh theo công
nghệ số.
- Nghiên cứu thử nghiệm quy trình công nghệ sản xuất chương trình phát thanh theo
công nghệ số với các module thành phần.
1.2.2.2. Trong lưu trữ âm thanh.
Tin, bài, âm thanh, tiếng động là tư liệu đầu vào cho quá trình sản xuất chươ
ng trình
phát thanh. Qua hơn 60 hoạt động, Đài Tiếng nói Việt Nam có trên 30.000 giờ tư liệu quý cần
được lưu giữ lâu dài. Do vậy việc xác định chính sách lưu trữ, phương tiện lưu trữ, lộ trình,
qui trình chuyển đổi các dữ liệu dưới dạng số là vấn đề rất lớn, một mắt xích quan trọng
trong quá trình phát triển của Đài TNVN. Đặc biệt trong kỷ nguyên đa phương tiện, lưu trữ
âm thanh là m
ột công đoạn vô cùng quan trọng để sản xuất tất cả các phương thức phát thanh
truyền thống, phát thanh qua Internet, báo viết, phát thanh có hình. Chính vì vậy, lưu trữ âm
thanh theo công nghệ số được tách riêng thành một nội dung nghiên cứu quan trọng chứ
không ghép chung vào sản xuất chương trình phát thanh theo cách hiểu truyền thống thông
thường.
17
Đối với lưu trữ âm thanh, đề tài giải quyết những vấn đề sau :
- Kinh nghiệm rút ra qua tìm hiểu và phân tích công nghệ lưu trữ tư liệu phát thanh tại
một số đài phát thanh trên thế giới, trong khu vực.
- Nghiên cứu xu hướng lưu trữ tư liệu phát thanh theo công nghệ số của một số đài
tiên tiến trên thế giới như DW ( Đức ), KBS, MBC ( Hàn Quốc ), NHK ( Nhật Bản ), Thụy
Điển , BBC ( Anh), ABC ( Úc)
- Khảo sát và phân tích, đánh giá thực trạng lưu trữ tư liệu phát thanh ở Đài Tiếng nói
Việt Nam nói riêng và phát thanh Việt Nam nói chung (về công nghệ, thiết bị kỹ thuật,
ố.
- Nghiên cứu công nghệ và dây chuyền khôi phục chất lượng âm thanh liệu lưu trữ bị
xuống cấp.
18
- Thử nghiệm chuyển đổi tư liệu lưu trữ analog trên 100 băng COT sang đĩa CD bằng
công nghệ số.
- Thử nghiệm khôi phục chất lượng được ghi trên 100 băng COT đã xuống cấp bằng
công nghệ số.
1.2.2.3. Trong truyền dẫn phát sóng.
Trong phát thanh số hiện nay có những xu hướng chính sau:
- Chuyển đổi sang phát thanh số, tận dụng lại tối đa cơ sở hạ tầng, phổ tần số của phát
thanh analog.
- Xây dựng hoàn toàn mới : từ phổ tần số, công nghệ đến hệ thống thiết bị phát sóng
và máy thu.
- Sử dụng vệ tinh để phát triển dịch vụ, máy thu, công nghệ truyền dẫn và phát sóng.
- Đi vào đa phương tiện, cung cấp nhiều dịch vụ truyền hình, dữ liệu và phát thanh.
Chú trọng các máy thu di động và cầm tay.
Khác với sản xuất chương trình, quá trình số hoá công đoạn phát sóng vẫn còn diễn ra
chậm và chưa có những bước nhảy vọt. Có nhiều lý do giải thích cho sự chậm trễ này. Đó là:
- Vì chưa có được một tiêu chuẩn chuyển đổi tối ưu cho tất cả các băng tần và phương
thức truyền sóng.
- Dịch vụ và chương trình cho phát thanh số chưa đủ lôi cuốn thính giả.
- Và lý do quan trọng hơn cả, đó là sự thiếu vắng một thị trường máy thu thanh số đủ
sức hấp dẫn các hãng sản xuất tham gia quyết liệt vào quá trình chuyển đổi.
Trong khu vực truyền dẫn phát sóng, việc chuyển sang kỷ nguyên số và đa phương
tiện là xu hướng không thể tránh khỏi đối với mỗi đài phát thanh. Nhưng trước khi chuyển đổi
ta phải trả lời câu hỏi chuyển như thế nào, cách chuyển ra sao, lộ trình chuyển đổi như thế nào
cho phù hợp với điều kiện kinh tế và xã hội của Việt Nam v.v. Tất cả các câu hỏi đặt ra đòi
hỏi phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, khoa học. Trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà
- Bài học kinh nghiệm rút ra qua tìm hiểu và phân tích công nghệ phát thanh đa phương
tiện trên thế giới và trong khu vực, đặc biệt qua kinh nghiệm của Hàn Quốc, Nhật Bản và
Châu Âu.
- Đánh giá thực trạng và khả năng phát triển dịch vụ phát thanh đa phương tiện tại Việt
Nam.
- Nghiên cứu xây dựng lộ trình ứng dụng phát thanh đa phương tiện cho Đài Tiếng nói
Việt Nam.
1.2.2.4. Trong sản xuất máy thu thanh số.
Chuyển sang công nghệ phát thanh số là xu thế tất yếu của thời đại. Mặc dù vậy, cho
đến nay, nhịp độ phát triển công nghệ phát thanh số không được như mong đợi. Thị trường
máy thu thanh số là một rào cản lớn cho quá trình phát triển này. Việc phát triển công nghệ
phát thanh số hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào lợi ích và nguyện vọng của hàng triệu thính giả.
Trải qua một thời gian dài nghiên cứu, thử nghiệm; máy thu thanh số theo tiêu chuẩn E 147
cũng đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất, hạ được giá thành từ 2000 US$ xuống vài
trăm và hiện nay đã có máy thu khoảng 150$. Trong năm 2005 hãng TI của Mỹ và
SoundScape đã có những thoả thuận để đưa ra thị trường những chip mới giá thành rẻ để sản
xuất máy thu theo tiêu chuẩn DRM. Trên cơ sở của các module và chipset này, hiện nay một
số hãng đang chuẩn bị đưa ra thị trường máy thu đa chuẩn tích hợp DAB/DRM và phát thanh
analog AM mono và FM stereo/RDS với giá thành dự kiến khoảng 250 bảng Anh. Với giá
thành này chắc rằng thính giả Việt Nam sẽ khó tiếp cận được với phát thanh số trong một
tương lại gần.
Trong phần này, nhóm nghiên cứu tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu xu hướng sản xuất máy thu thanh theo công nghệ hiện đại. Đánh giá chỉ
tiêu kỹ thuật của một số máy thu số hiện nay.
- Bài học kinh nghiệm rút ra qua tìm hiểu và phân tích công nghệ sản xuất máy thu
thanh trên thế giới và trong khu vực, đặc biệt qua kinh nghiệm củ
a Hàn Quốc, Trung Quốc và
Nhật Bản.
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược và định hướng phát triển về sản xuất máy thu than.
- Nghiên cứu về máy thu thanh sử dụng phần mềm (software defined radio receiver).
SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH THEO CÔNG NGHỆ SỐ
2.1 TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SẢN
XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH
Chương trình phát thanh là sản phẩm của cả một quá trình lao động tập thể. Mọi thành
tựu khoa học công nghệ được áp dụng vào việc sản xuất các chương trình phát thanh nhằm
đạt được mục đích cuối là nâng cao chất lượng sóng, đảm bảo cung cấp thông tin nhanh nhạy,
sống động, chân thực, chính xác. Ưu điểm lớn nhất của công nghệ phát thanh hiện đại là tạo
ra một kho tài nguyên chung, cho phép nhiều người cùng đồng thờ
i sử dụng và cung cấp
nhiều công cụ để phát huy tối đa khả năng sáng tạo trong sản xuất chương trình. Điều này
khẳng định vai trò của tập thể trong khi vẫn cho phép các cá nhân có điều kiện khẳng định
năng lực của bản thân mình.
Nhìn chung xu hướng phát triển công nghệ sản xuất chương trình phát thanh trên thế
giới đi theo hai xu hướng chính phù hợp theo yêu cầu sử dụng, trong đó tận dụ
ng tối đa kỹ
thuật máy tính điện tử hiện đại làm nòng cốt phát triển công nghệ:
- Xu hướng tập trung hoá với các hệ thống máy tính lớn trong tất cả các khâu sản xuất
chương trình phát thanh, tạo một môi trường làm việc thống nhất cho các ban biên tập với khả
năng sử dụng tập thể các tài nguyên . Điều này dẫn đến khả năng tiết kiệm đầu tư và tăng hiệu
quả làm việc.
- Xu hướng quy mô nhỏ bắt đầu từ các đài nhỏ, địa phương, đài thương mại nhằm
giảm số người tham gia sản xuất chương trình mà vẫn tăng cường được hiệu quả phát thanh.
Sự phát triển của mạng thông tin viễn thông tạo khả năng kết nối các đài địa phương
và trung ương trong một quốc gia thành một mạng thống nhất, cũng như kết nối qua mạng
diện rộng . Nhờ đó công nghệ mới càng phát huy sức mạnh khi các hệ thống studio, trung tâm
biên tập không còn khoảng cách mặc dù chúng rất xa nhau về địa lý.
Đối với Đài Tiếng nói Việt Nam,hiện nay đang sử dụng hai phương thức sản xuất
chương trình phát thanh: Sản xuất chương trình phát thanh theo phương thức truyền thống
Cơ sở
Dữ liệu
Biên tập
truyền âm
Thu Thanh
Thu thập,
x
ử
lý tin t
ức
kho
âm thanh
Truyền dẫn
phát sóng
Thu thanh
Pha âm
Truyền âm
T li
ệ
u âm Thanh
Thu lu đ
ộ
ng
Truyền dẫn
phát sóng
23
trọng của qui trình sản xuất các chương trình phát thanh theo công nghệ tương tự. Các phòng
thu trong hệ thống đều được liên kết với nhau về mặt điện thông qua Tổng khống chế.
c ti
ếp24Hin nay cỏc i phỏt thanh quc gia thng s dng 4 loi phũng chớnh l: phũng thu
thanh, phũng pha õm, phũng truyn õm, phũng thu nhc kch. Tuy nhiờn, mi s phõn bit
õy ch mang tớnh tng i. Trong thi gian gn õy, ngi ta thng gp cỏc phũng thu
thanh v phũng pha õm thnh mt loi, gi l cỏc phũng thu sn xut chng trỡnh. Nú cu
hỡnh ging nh mt phũng thu thanh, nhng li lm c hai chc nng thu thanh v pha õm.
2.2. BI HC KINH NGHIM QUA TèM HIU CễNG NGH SN XUT CHNG
TRèNH PHT THANH CA MT S I PHT THANH TRấN TH GII.
- Vic chuyn i sang cụng ngh hin i l xu hng tt yu cho cỏc i phỏt thanh
nhm nõng cao hiu qu lao ng, cht lng cụng vic v cht lng phc v, tng tớnh cnh
tranh ca phỏt thanh trong thi i thụng tin a phng tin. Vic la chn mụ hỡnh cụng
ngh no hon ton phi da trờn s phõn tớch k lng v ton din thc trng, iu kin,
chu trỡnh lm vic v.v. ca tng i phỏt thanh, c
ng nh s hiu bit sõu sc, tng th v
cụng ngh hin i ng dng trong sn xut chng trỡnh phỏt thanh. Khụng cú mt mụ hỡnh
chung cho tt c cỏc i phỏt thanh quc gia. Bi hc kinh nghim ca i ny khụng th ỏp
dng hon ton cho i khỏc.
- Vic chuyn i t cụng ngh truyn thng sang cụng ngh hin i ũi hi s u
t ln v thi gian, kinh phớ. Cn cú chin lc, k hoch thc hin chu ỏo, t m v tng
th trong mi cụng on ca dõy chuyn sn xut phỏt thanh, trong s dng, o to cỏn b.
- Cụng ngh hin i ch cú th ỏp dng thnh cụng khi cú s chuyn bin ton din
v ni dung, qun lý, cỏch lm vic.
- Trong quỏ trỡnh ng dng v trin khai, khụng trỏnh khi nhiu s c xy ra. Chớnh
vỡ vy, luụn phi cú s chu