Vai trò, trách nhiệm của chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam - Pdf 57

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN HOI NAM

VAI TRò, TRáCH NHIệM CủA CHíNH PHủ
ĐốI VớI HOạT ĐộNG XÂY DựNG Dự áN LUậT, PHáP LệNH
TRONG ĐIềU KIệN XÂY DựNG NHà NƯớC PHáP QUYềN
Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM

LUN N TIN S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN HOI NAM

VAI TRò, TRáCH NHIệM CủA CHíNH PHủ
ĐốI VớI HOạT ĐộNG XÂY DựNG Dự áN LUậT, PHáP LệNH
TRONG ĐIềU KIệN XÂY DựNG NHà NƯớC PHáP QUYềN
Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lý lun v Lch s Nh nc v Phỏp lut
Mó s: 62 38 01 01

LUN N TIN S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. PHM TUN KHI


ĐIỀU

I N

DỰN

DỰN

DỰ

N I M CỦA C
N LUẬT P

N À NƢỚC P

N

PL N

P QU ỀN

ỘI

ĨA VI T NAM .......................................................................................26

2.1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và yêu cầu đối với
hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật.............................................................26
2.2. Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án
luật, pháp lệnh ........................................................................................................39
2.3. Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ một số nước trong hoạt động xây

Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh tại Việt Nam ........72
3.2. Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án
luật, pháp lệnh theo quy định pháp luật .................................................................85


3.3. Thực trạng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây
dựng dự án luật, pháp lệnh thời gian qua ..............................................................98
3.4. Vấn đề chất lượng các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ soạn thảo,
trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội .......................................................116
3.5. Nguyên nhân của các hạn chế về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối
với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh ....................................................119

Kết luận Chương 3 .............................................................................................. 122
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI,
NÂNG CAO VAI TRÕ TR C N I M CỦA CHÍNH PHỦ Đ I VỚI
HOẠT ĐỘN
DỰN DỰ N LUẬT P
P L N TRONG
ĐIỀU KI N XÂY DỰN N À NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
N
ĨA VI T NAM .................................................................................. 123
4.1. Quan điểm đối với việc nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ
trong hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh .................................................123
4.2. Các giải pháp nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt
động xây dựng dự án luật, pháp lệnh tại Việt Nam thời gian tới ........................129
Kết luận Chương 4 ...............................................................................................150
KẾT LUẬN CHUNG............................................................................................................. 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH Đ CÔN B CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN..........................................................................................153
DANH MỤC TÀI LI U THAM KHẢO..............................................................154

Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

MTTQVN

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

NCS

Nghiên cứu sinh

NNPQ

Nhà nước pháp quyền

NNPQXHCN

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

TNCSHCM

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

UBTVQH

Uỷ ban thường vụ Quốc hội


giải phóng cho các người bằng quyền lực của luật, hãy kết hợp sức mạnh và pháp
luật [104, tr.30]; nhà hoạt động nhà nước, nhà luật học và nhà hùng biện của thời
kỳ này - Xi-xê-rôn (106-43 TCN) cũng đưa ra quan điểm nổi tiếng: tất cả mọi
người đều ở dưới hiệu lực của pháp luật và Nhân dân phải coi pháp luật như
chốn nương thân của mình [102, tr.12].
Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam luôn
xem pháp luật là công cụ hữu hiệu để xây dựng, quản lý và phát triển đất nước.
Mọi hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo đảm công
bằng, tự do, dân chủ đều được thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật. Vì thế,
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia luôn là một nhu cầu thường
trực, đồng thời là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước. Ở Việt Nam, Chính phủ với tư
cách cơ quan thực hiện quyền hành pháp, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất
của nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan chấp hành của Quốc hội, ngoài việc tổ
chức thực thi pháp luật, quản lý, điều hành đất nước, còn có vai trò quan trọng
trong hoạt động XDPL. Nhìn lại thực tiễn của hoạt động này từ trước đến nay cho
thấy, Chính phủ trình khoảng 90% các dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội,
UBTVQH (xem Phụ lục 3).
Liên quan đến vấn đề trên, có nhiều quan điểm đánh giá, nhận xét, thậm chí
trái ngược nhau. C quan điểm cho rằng, theo Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan thực
hiện quyền lập pháp, do vậy, Quốc hội phải nắm trọn quyền làm luật, tức đa số đạo
luật phải do các ĐBQH hoặc cơ quan của Quốc hội soạn thảo, nếu để các bộ, ngành
làm thì họ sẽ giành phần lợi về mình, đẩy kh khăn cho dân hoặc ngành khác. Đồng
tình với quan điểm này, c ý kiến còn nói: việc Chính phủ phải soạn thảo các dự án
luật, pháp lệnh như hiện nay, đã đồng nghĩa với việc Quốc hội chuyển cho hành
pháp một gánh nặng của lập pháp [97].
Mặt khác lại c quan điểm, việc xây dựng các dự án luật, pháp lệnh thuộc
trách nhiệm của Chính phủ, còn Quốc hội, UBTVQH ch nên đ ng vai trò phản biện
và thông qua hay không thông qua các dự án của Chính phủ; hoặc Quốc hội phải có
năng lực thẩm định luật chứ không phải Quốc hội là nơi làm luật [187].


yếu chính sách công cộng, vẫn có một vai trò lập pháp quan trọng. Phần lớn các văn
bản luật mà Quốc hội xem xét được dự thảo với sáng kiến của ngành hành pháp.
Trong một thông điệp đặc biệt hàng năm gửi cho Quốc hội, Tổng thống có thể đề
xuất những văn bản pháp luật nào mà Tổng thống cho là cần thiết. Nếu Quốc hội
phải ngừng họp mà không đề cập được các đề xuất này thì Tổng thống có quyền
triệu tập phiên họp đặc biệt [76, tr. 60].
Nhìn chung, qua nghiên cứu vai trò, trách nhiệm của chính phủ trong hoạt
động lập pháp ở một số nước và ở Việt Nam, cho thấy những điểm đáng lưu ý sau:

2


- Chính phủ ở hầu hết các quốc gia đều giữ vị trí quan trọng trong công tác
XDPL. Nhu cầu tăng cường vai trò, trách nhiệm của chính phủ trong công tác này
là xu hướng tất yếu, phù hợp với bản chất, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền
của chính phủ.
- Việc Chính phủ Việt Nam trình phần lớn dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội,
UBTVQH đã minh chứng ở Việt Nam quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng c sự
phân công “mềm” và phối hợp chặt chẽ giữa các quyền mà không “máy m c”, như vẫn
có quan niệm cứng nhắc về “phân chia quyền lực”.
- Nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; và đường lối phát triển
tổng thể đất nước trên tinh thần chủ động, tích cực hội nhập với các nước của
Việt Nam hiện nay, đã đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật đầy đủ, phù hợp chuẩn
mực quốc tế. Vì thế, trách nhiệm của Chính phủ rất nặng nề, buộc Chính phủ
phải phát huy tối đa vai trò khởi xướng chính sách của mình thì mới đáp ứng
được mục tiêu trên, cũng như sớm đạt được mong muốn về một Chính phủ kiến
tạo, hành động mà nhà lãnh đạo Chính phủ đương nhiệm (2016 - 2021) đặt ra.
Xuất phát từ tình hình, đặc điểm trên, từ lâu, yêu cầu đổi mới, nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động XDPL của Chính phủ nói chung, của bộ, ngành, cơ quan
của Chính phủ n i riêng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, coi trọng. Điều này

- Điều 28, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 quy định: Thủ tướng c nhiệm
vụ, quyền hạn: “Lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, dự
thảo nghị quyết trình Quốc hội, UBTVQH, lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các văn bản
pháp luật và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và các dự án khác
thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ”.
Căn cứ chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức
Chính phủ, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đã xác định khá rõ vai trò, trách
nhiệm của Chính phủ trong hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trình Quốc
hội, UBTVQH.
Những quan điểm và quy định trên là tư tưởng ch đạo quan trọng có tính
định hướng, đồng thời, đặt ra yêu cầu khách quan cần thiết phải đổi mới về nhận
thức cũng như thể chế hoá thành khuôn khổ pháp lý cụ thể đối với vai trò, trách
nhiệm của Chính phủ, của các bộ, ngành, cơ quan trong việc xây dựng dự án luật,
pháp lệnh nói riêng và XDPL của nhà nước nói chung, nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của công tác này trong điều kiện Việt Nam đang xây dựng
NNPQXHCN. Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm đã được đặt ra
ngay từ Chương trình Tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn
2001 - 2010 là: “Để nâng cao chất lượng và tránh tình trạng thiếu khách quan,
cục bộ trong việc xây dựng VBQPPL, cần thiết phải nghiên cứu đổi mới phương
thức, quy trình XDPL từ khâu đầu đến khâu Chính phủ xem xét, quyết định hoặc
thông qua để trình Quốc hội”.
Trong những năm qua, Chính phủ có nhiều cố gắng trong việc đổi mới
phương thức, quy trình chuẩn bị dự án luật, pháp lệnh và đã đạt được một số thành
tựu nhất định trong hoạt động này, giúp tạo lập hành lang pháp lý căn bản cho sự
nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, công tác
xây dựng dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ cũng còn tồn tại nhiều bất cập, thể hiện

4



Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây
dựng NNPQXHCN ở nước ta; trên cơ sở đ , kiến nghị tổng thể các giải pháp đổi
mới, tăng cường vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động này trong
thời gian tới. Qua đ khẳng định, Chính phủ là cơ quan có vai trò, trách nhiệm
quan trọng và trước nhất trong hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh, đây
không ch là vai trò, trách nhiệm pháp lý đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa chính
trị sâu sắc được đặt ra cho Chính phủ Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhi m vụ của Luận án
Để đạt được mục đích trên, Luận án có nhiệm vụ:
- Làm rõ thêm quan niệm về NNPQ, sự hình thành, phát triển nhận thức về
NNPQXHCN Việt Nam nhằm xác định những yêu cầu và vấn đề đặt ra cho Chính
phủ trong XDPL;
- Nghiên cứu bản chất của Chính phủ và mối quan hệ với Quốc hội trong cơ
chế vận hành quyền lực nhà nước nói chung và trong lập pháp nói riêng;
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về việc đề cao vai trò, trách nhiệm của Chính
5


phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong bối cảnh xây dựng
NNPQXHCN Việt Nam;
- Phân tích kinh nghiệm của một số nước về vai trò, trách nhiệm của chính
phủ đối với hoạt động lập pháp;
- Đánh giá khái quát quy định và thực trạng thực hiện quy định pháp luật về
vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh. Từ
đ , rút ra ưu điểm và hạn chế; ch rõ nguyên nhân làm ảnh hưởng đến vai trò, trách
nhiệm của Chính phủ trong công tác này, trước đòi hỏi của thực tiễn;
- Đề xuất quan điểm cũng như giải pháp phù hợp, giúp nâng cao và phát huy
vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp
lệnh trong điều kiện xây dựng NNPQXHCN.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

- Phương pháp phân tích thống kê các số liệu về kết quả hoạt động nhằm
tăng cường tính cụ thể, xác thực, dễ hiểu, c căn cứ thực tiễn cho các nhận định,
đánh giá liên quan đến Đề tài;
- Phương pháp lịch sử cụ thể: nghiên cứu lịch sử cụ thể về vai trò, trách
nhiệm và số lượng, chất lượng xây dựng dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ trong
từng giai đoạn phát triển Nhà nước Việt Nam;
- Phương pháp luật học so sánh: được vận dụng trong việc tham khảo kinh
nghiệm tổ chức, hoạt động của chính phủ; quy định về vai trò, trách nhiệm của
chính phủ trong công tác XDPL và việc thực hiện quy định đ ở một số quốc gia.
5. nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
- Về mặt khoa học: kết quả nghiên cứu của Luận án là sự đ ng g p, bổ sung
lý luận về Chính phủ, về vai trò của Chính phủ trong hoạt động lập pháp. Đưa ra
những quan điểm và giải pháp cụ thể mang tính cơ bản, thiết thực nhằm nâng cao
vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh
trình Quốc hội, UBTVQH đáp ứng nhu cầu đổi mới và phát triển của đất nước trong
giai đoạn hiện nay.
- Về mặt thực tiễn: góp phần thi hành Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
năm 2013 và triển khai, hướng dẫn thi hành Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015,
Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; đ ng g p vào quá trình tiếp tục nghiên cứu tiến
tới sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các luật trên, khi điều kiện cho phép.
6. Những đóng góp mới của Luận án
Kế thừa, phát triển những kết quả nghiên cứu về chính phủ, vai trò, trách
nhiệm của chính phủ trong hoạt động XDPL nói chung và dự án luật, pháp lệnh nói
riêng, với một số quan niệm tiêu biểu chính phủ là chủ thể chính, chủ thể quan trọng,
chủ thể đặc biệt ... trong hoạt động này. Trên cơ sở đ , c ng với nhu cầu thực tại,
Luận án đã cố gắng nhận diện đầy đủ, chính xác những vấn đề cần tiếp tục làm sáng
tỏ về lý luận và thực tiễn trong hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh của Chính
phủ để đưa ra những đ ng g p mới, tập trung vào các nội dung sau:
7


8


ươn 1
TỔN QUAN TÌN
ÌN NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ L T U ẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thời gian qua, cùng với quyết tâm cải cách hành chính, đổi mới kinh tế, chính
trị để hoàn thiện tổ chức bộ máy NNPQXHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng theo hướng đề cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan “Hành pháp”, Chính phủ
đã ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong đời sống chính trị - xã hội đất
nước. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng hoạt động của
Chính phủ, các bộ, ngành, đặc biệt là hoạt động xây dựng thể chế đã được các chuyên
gia, nhà khoa học quan tâm đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể liệt kê
một số công trình liên quan đến chủ đề Luận án theo các nh m cơ bản sau:
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu tron nư c
1.1.1.1. Luận án tiến sĩ
Thứ nhất, Luận án tiến sĩ luật học: “Vai trò của Chính phủ trong quy trình
lập pháp ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, (2011), NCS Trần Quốc
Bình [8]. Đây là công trình nghiên cứu khá công phu về chủ đề c liên quan đến
Luận án. Tại Đề tài này, tác giả khẳng định vai trò của Chính phủ trong quy trình
lập pháp ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, được bắt nguồn từ chính thực tiễn
quản lý, điều hành của Chính phủ đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng
thời đưa ra quan niệm về quy trình lập pháp ở Việt Nam với tư cách là một công cụ,
là cơ sở nền tảng cho việc giải quyết các vấn đề lập pháp. Tác giả đã đánh giá, luận
giải những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân làm hạn chế vai trò của Chính phủ
trong quy trình lập pháp ở Việt Nam. Theo đ , một trong những nhận định cơ bản
của tác giả là: sự thiếu rõ ràng trong mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp và cơ quan
hành pháp dưới g c độ tổ chức quyền lực nhà nước là nguyên nhân làm hạn chế vai

NCS Nguyễn Đình Hào [80]. Công trình đã nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích thực
trạng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động XDPL, mà cụ thể ở đây là
quyền lập quy của Chính phủ và đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quyền
này của Chính phủ. Như vậy, Luận án tập trung vào phạm vi nghiên cứu là quyền
lập quy của Chính phủ mà chưa đề cập đến việc tham gia cũng như vai trò, trách
nhiệm của Chính phủ trong hoạt động lập pháp, tức hoạt động xây dựng dự án luật,
pháp lệnh trình Quốc hội, UBTVQH.
Thứ năm, Luận án tiến sĩ luật học: “Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt
Nam hiện nay”, (2004), NCS Hoàng Văn Tú [152]. Tác giả đã trình bày cơ sở lý
luận của việc hoàn thiện quy trình lập pháp ở nước ta, đánh giá, phân tích thực trạng
quy trình lập pháp, kiến nghị các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy trình lập pháp.
Trong đ , tác giả đề cập một số nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của
Chính phủ trong quy trình lập pháp - thể hiện chủ yếu qua vai trò của Chính phủ
trong các công đoạn của quy trình lập pháp là công đoạn lập đề nghị chương trình
10


xây dựng luật, pháp lệnh, soạn thảo dự án luật, pháp lệnh. Từ năm 2004 đến nay,
quy trình lập pháp đã có những thay đổi quan trọng, trong đ c việc ban hành và tổ
chức thực thi Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, năm 2015, nên việc nghiên cứu
vấn đề trình tự, thủ tục và chất lượng hoạt động của Chính phủ nếu nhìn từ khía
cạnh thời gian cũng đứng trước những yêu cầu, bối cảnh thực tế mới.
Thứ sáu, Luận án tiến sĩ luật học: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
hoạt động lập pháp, lập quy ở Việt Nam hiện nay”, (2003), NCS Đỗ Ngọc Hải [78]. Tác
giả tập trung làm rõ cơ sở lý luận về pháp chế trong hoạt động lập pháp, lập quy;
phân tích, đánh giá thực trạng pháp chế XHCN trong hoạt động lập pháp, lập quy ở
Việt Nam. Từ đ , tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm tăng cường pháp chế
XHCN trong hoạt động lập pháp, lập quy ở nước ta.
Ở chừng mực nhất định, các luận án trên đã c những nội dung khá sát với
vấn đề chính phủ, lập pháp và vai trò, trách nhiệm của chính phủ trong lập pháp.

pháp lý trong kiểm soát quyền lực nhà nước, đặc biệt trong cơ chế ở nước ta.
Thứ ba, Đề tài khoa học cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây
dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất” năm 2012 của Bộ Tư
Pháp do TS. Lê Thành Long làm Chủ nhiệm [98]. Đề tài đã đưa ra những quan
điểm, luận cứ để hợp nhất Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật Ban hành
VBQPPL của Hội đồng nhân dân và UBND. Mục đích của Đề tài là hướng tới việc
trình Quốc hội thông qua việc hợp nhất hai luật này thành một luật (nay là Luật Ban
hành VBQPPL năm 2015), do vậy, Đề tài không đề cập nhiều đến vai trò, trách
nhiệm của Chính phủ trong hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh mà chủ yếu
bao quát theo nội dung của Luật Ban hành VBQPPL năm 2008.
Thứ tư, Chương trình khoa học cấp nhà nước, mã số KX.04 do GS.VS.
Nguyễn Duy Quý làm Chủ nhiệm đã thực hiện 9 đề tài nghiên cứu cấp nhà nước,
trong đ c các đề tài mã số từ KX 04.01 đến KX 04.05 trực tiếp đề cập đến nhiều
nội dung liên quan đến mô hình tổ chức NNPQ, yêu cầu xây dựng mô hình tổ chức,
phương thức hoạt động của Chính phủ, yêu cầu về việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật trong điều kiện xây dựng NNPQXHCN. Cụ thể:
Đề tài KX 04.02: “Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân giai đoạn
2001-2010” do GS.TSKH. Đào Trí Úc làm Chủ nhiệm; Đề tài nghiên cứu KX
04.04 “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính
phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước
ta” của Văn phòng Quốc hội do GS.TS. Trần Ngọc Đường làm Chủ nhiệm; Đề tài
nghiên cứu KX 04.05 “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu
của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của Ủy ban
pháp luật do TS. Vũ Đức Khiển làm Chủ nhiệm. Có thể nói, những đề tài nhánh
trong Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.04 có giá trị tham khảo cao khi NCS
nghiên cứu các nội dung của Luận án.
Ngoài ra, còn các đề tài cấp bộ như: Đề tài “Đổi mới và hoàn thiện quy
12


luôn có sự hiện diện của các chuyên nghiệp đông nhất, đa dạng nhất [47, tr.82].
Thứ hai,“Sự hạn chế quyền lực nhà nước” (2005), PGS.TS. Nguyễn Đăng
Dung [46]. Cuốn sách trình bày cơ sở lí luận và nội dung của sự hạn chế quyền lực
nhà nước, sự cần thiết phải giới hạn quyền lực của nhà nước, khẳng định hiến pháp
là một văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao có chức năng giới hạn quyền lực nhà
13


nước, là phương thức quan trọng nhất của hạn chế quyền lực nhà nước bằng các
phân tích về lý do ra đời hiến pháp, các loại hình hiến pháp. Từ đ , tác giả đưa ra
những sự liên hệ giữa NNPQ và chủ nghĩa hiến pháp - sự thể hiện tập trung lý
thuyết về giới hạn quyền lực nhà nước; vấn đề bảo đảm nhân quyền không bị vi
phạm, vấn đề bầu cử với một số nhiệm kỳ nhất định cho các chức danh quan trọng
của nhà nước và các phương thức hạn chế quyền lực nhà nước từ bên ngoài …
Thứ ba, “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối
cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (2011), PGS.TS. Nguyễn
Minh Đoan [66]. Đây là công trình đem lại những nhận thức chung về hoạt động
XDPL ở cả khía cạnh chính trị và kỹ thuật pháp lý. Theo đ , XDPL được tác giả
quan niệm: là một trong những hình thức chính của việc thể hiện và thực hiện quyền
lực nhà nước trong thực tiễn; là hoạt động mang tính tổ chức rất chặt chẽ, được tiến
hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định; là một quá trình sáng tạo ra các
quy định pháp luật trên cơ sở nhận thức quy luật và lợi ích xã hội ... Đặc biệt, trong
nghiên cứu, tác giả đã đặt vấn đề về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức,
chính trị của những cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào hoạt động XDPL, vốn là
những vấn đề cho đến nay vẫn chưa được pháp luật Việt Nam quy định thỏa đáng.
Thứ tư,“Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính
phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2008), GS.TS. Trần
Ngọc Đường và TS. Ngô Đức Mạnh chủ biên [72]. Công trình đã nghiên cứu về
mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong điều
kiện xây dựng NNPQXHCN Việt Nam, góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn

đánh giá thực trạng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự
án luật, pháp lệnh trong Luận án [169].
- Báo cáo số 06b/BC-BTP về tổng kết thi hành Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, Bộ Tư pháp (2014). Tại Báo cáo, Bộ Tư
pháp đã nêu ra những định hướng lớn trong công tác xây dựng luật, pháp lệnh thời
gian tới cần phân định rõ nội dung các việc thuộc thẩm quyền ban hành luật của Quốc
hội, các việc thuộc thẩm quyền ban hành văn bản của Chính phủ trên cơ sở quy định
của Hiến pháp về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, của Chính phủ [22].
- Bài viết “Luận bàn thêm về bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật”
của TS. Nguyễn Văn Cương (2013). Thông qua việc tổng hợp các quan niệm về
hoạt động XDPL, bài viết đã đưa ra quan niệm khá toàn diện về bản chất của hoạt
động này. Theo tác giả, XDPL thực chất là một quá trình ra quyết định; các cá
nhân tham gia vào quá trình này có vai trò rất quan trọng, không đơn thuần ch là
người “dịch” chủ trương, đường lối đã c từ trước. Việc hiểu được sâu sắc bản
chất của hoạt động XDPL sẽ đ ng g p rất nhiều vào chất lượng xây dựng luật,
pháp lệnh của Chính phủ - chủ thể quản lý nhà nước và xã hội [39].
Ngoài ra, còn nhiều công trình khoa học, ấn phẩm và bài viết khác có liên
quan đến đề tài Luận án, ví dụ: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
15


của dân, do dân, vì dân - Lý luận và thực tiễn”, (2010), GS.VS. Nguyễn Duy Quý PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên); “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” (2010), PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh;
“Kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
(2010), PGS.TS. Trương Thị Hồng Hà; “Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong
sự nghiệp đổi mới” (1997), GS.TSKH. Đào Trí Úc; “Bình luận Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật”, (2005), Nxb Tư pháp; “Nhà nước và trách nhiệm của nhà
nước”, (2006), PGS, TS. Nguyễn Đăng Dung; “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam theo quan điểm Mác-xít” (2013), TS. Trương Quốc Chính ...

quốc tế về quy trình lập pháp” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Cương, Chu Thị
Hoa, Dương Thu Hương thuộc Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) đã nêu khá
kỹ mô hình quy trình lập pháp một số nước, trong đ đề cập đến chính phủ như
một cơ quan chủ đạo trong quy trình và khẳng định việc tham gia vào hoạt động
XDPL của Chính phủ là “quy luật” tất yếu không ch ở Việt Nam mà còn ở nhiều
nước trên thế giới [42].
- Về kỹ thuật lập pháp, trong số tác phẩm được dịch sang tiếng Việt, đáng chú ý
có cuốn: “Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ” (Legislative Drafting for
Democratic Social Change) của các tác giả Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin
Abeyesekere. Công trình gồm 4 phần: Phần 1 - Soạn thảo dự án luật, quản lý nhà nước
tốt và quá trình phát triển; Phần 2 - Giải trình cho một dự án luật (Báo cáo nghiên cứu);
Phần 3 - Các kỹ thuật soạn thảo dự án luật; Phần 4 - Soạn thảo cho một nền quản lý nhà
nước tốt. Sách đã đề cập đến lý thuyết lập pháp, phương thức tổ chức soạn thảo và kỹ
năng, kỹ thuật soạn thảo văn bản dự án luật. Đặc biệt trong đ , khái niệm “nhà soạn
thảo” được hiểu không ch là các chuyên gia pháp luật được đào tạo bài bản mà còn
bao gồm cả những người giữ vị trí cấp cao của các cơ quan nhà nước ở trung ương, tức
những người có vai trò ảnh hưởng lớn đến quá trình XDPL ... [3].
- “Đổi mới hoạt động của Chính phủ” (Reinventing Government) của David
Osborne và Ted Gaebler. Từ nghiên cứu hoạt động của chính quyền Mỹ, các tác giả
đã tổng kết kinh nghiệm và rút ra nhiều nguyên tắc mang tính ch đạo đối với đổi
mới hoạt động của Chính phủ nhằm làm cho nó tinh gọn và năng động, đỡ tốn kém,
đáp ứng kịp thời, có hiệu quả những nhu cầu do sự phát triển nhanh chóng của đời
sống kinh tế và xã hội Mỹ đòi hỏi. Nổi bật với nguyên tắc “Chính phủ xúc tác: cầm
lái chứ không phải là bơi chèo” và “Nhỏ hơn nhưng mạnh hơn”, tác giả cho rằng,
các chính phủ tập trung vào việc cầm lái tích cực tạo nên dáng vóc cho các cộng
đồng quốc gia và dân tộc của mình, đã đưa ra nhiều quyết định hơn về chính sách,
đồng thời kiểm tra các cơ quan khác cung ứng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của cộng
đồng hơn là thuê thêm nhiều công chức nhà nước [58, tr.64].
- “Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ” (Fundamentals of American
law) do Alan B. Morrison chủ biên. Công trình này bao quát được mọi lĩnh vực cơ

trung toàn bộ quyền hành pháp của đất nước vào tay một người. Họ trao cho tổng
thống những đặc quyền rộng rãi và cho ông cả quyền phủ quyết để cưỡng lại
những chỗ nào bị ngành lập pháp lấn chân [146, tr.294].
- “Quốc hội và các thành viên” (Congress and its members) của Roger H.
Davidson, Walter J. Oleszek. Công trình đã khẳng định mạnh mẽ rằng: Một trong
những nhiệm vụ quan trọng của chính phủ - hành pháp hiện nay là chính phủ phải
có trách nhiệm hoạch định ra chính sách cho quốc gia. Đây là một trong những chức
năng quan trọng gắn liền với sự tồn tại và tiêu vong của chính phủ. Chính sách là
những gì mà chính phủ đề ra và thực thi để đối phó với những hoàn cảnh đất nước
chính phủ nhận thức được [132, tr.565].
18


- “Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại” (Models of Democracy) của David
Held. Cuốn sách cập nhật khá đầy đủ kiến thức về lịch sử các mô hình tổ chức nhà
nước theo triết lý dân chủ, chứa đựng các tư tưởng chính trị của những triết gia nổi
tiếng tự cổ chí kim, và nêu xu hướng phát triển của các mô hình quản trị nhà nước hiện
nay trên thế giới. Công trình được Held viết bằng phương pháp phân tích khoa học.
Ông đã tổng hợp các tư tưởng và thực tiễn để xây dựng nên các mô hình dân chủ điển
hình, theo các tiêu chí phân loại cụ thể. Cách tiếp cận này giúp người đọc c thể đánh
giá các luận điểm của tác giả và hình thành chủ kiến. Tác phẩm được chia thành ba
phần, trong đ Held trình bày bốn mô hình dân chủ kinh điển: mô hình dân chủ cổ điển
Athens, mô hình dân chủ cộng hòa, mô hình dân chủ tự do và mô hình dân chủ trực
tiếp. Bốn mô hình này đã xuất hiện như là các thử nghiệm trong lịch sử trước thế k
XX, và có thể xem là bốn hình mẫu tiêu biểu cho cách thức quản trị quốc gia mà dân
chúng c quyền tham gia [43].
- Ngoài ra còn một số công trình khác c liên quan đến đề tài Luận án, như:
“Quốc hội Mỹ hoạt động như thế nào”, (2003), Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ; “Tổ
chức và hoạt động của Quốc hội một số nước”, (2002), Văn phòng Quốc hội; “Chính
thể đại diện” (2013), John Stuart Mill … Nhìn chung, các nghiên cứu đều nêu bật ưu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status