Khoá luận tốt nghiệp đảng bộ huyện đan phượng (thành phố hà nội) lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2017 - Pdf 57

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====

TRẦN ĐỨC TOÀN

ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƢỢNG (THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI, 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====

TRẦN ĐỨC TOÀN

ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƢỢNG (THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam


Đây là kết quả nghiên cứu của riêng em.
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Ngƣời thực hiện

Trần Đức Toàn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCKT

Cơ cấu kinh tế

CDCCKT

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 58
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, vì vậy trong lịch sử, nông nghiệp,
nông dân, nông thôn luôn giữ vị trí và có vai trò quan trọng góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Sản phẩm của nông nghiệp không chỉ đáp ứng
yêu cầu sinh hoạt của đời sống xã hội, mà còn cung cấp nguyên liệu cho các
ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu và đóng góp một phần quan trọng vào
tổng thu nhập kinh tế quốc dân, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận thức rõ vai trò và vị trí quan trọng của nền kinh tế nông nghiệp, Đảng
luôn quan tâm và đƣa ra những chủ trƣơng về phát triển kinh tế nông nghiệp.
Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT)
nông nghiệp theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”(CNH, HĐH)
“Đan Phƣợng là một huyện của thủ đô Hà Nội, đƣợc thiên nhiên ƣu đãi
và có vị trí phát triển kinh tế thuận lợi nên có nhiều lợi thế trong việc phát
triển kinh tế - xã hội đặc biệt có kinh tế nông nghiệp. Nhận thức sâu sắc về
vai trò, vị trí, tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là vấn đề
CDCCKT nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện, Đảng
bộ huyện Đan Phƣợng đã chủ động quán triệt sâu sắc chủ trƣơng, đƣờng lối
của Trung ƣơng Đảng và Đảng bộ thành phố Hà Nội, kịp thời hoạch định
những chủ trƣơng về CDCCKT nông nghiệp hợp với tình hình thực tiễn của
địa phƣơng và từng bƣớc tổ chức thực hiện có hiệu quả trên địa bàn huyện.”
“Thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối phát triển kinh tế nông nghiệp và
CDCCKT nông nghiệp của Trung ƣơng Đảng và Đảng bộ Thành phố Hà Nội,
trong những năm 2005- 2017, dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đan
Phƣợng, kinh tế nông nghiệp và CCKT nông nghiệp huyện Đan Phƣợng đạt
đƣợc nhiều thành tựu to lớn: CCKT nông nghiệp có nhiều chuyển biến tích

nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn; “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công

2


nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân” của tác giả Ngô Đình Giao;
“Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ
công nghiệp hóa ở Việt Nam” của Bùi Tất Thắng; “Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng - Thực trạng và giải pháp” của
Đặng Văn Thắng, Phạm Ngọc Dƣơng; “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến năm 2005” của
Nguyễn Văn Vinh; “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2006” của Đặng Kim Oanh;
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng Thực trạng và giải pháp” của Đặng Văn Thắng, Phạm Ngọc Dƣơng...
Các công trình nghiên cứu kể trên dƣới các góc độ nghiên cứu khác nhau
đã làm sáng tỏ quá trình CDCCKT nông nghiệp của Việt Nam cũng nhƣ của
một số địa phƣơng dƣới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, chƣa có công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống quá trình CDCCKT nông nghiệp
ở huyện Đan Phƣợng (thành phố Hà Nội). Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Đảng
bộ huyện Đan Phượng (Thành phố Hà Nội) lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2017” làm khóa luận tốt nghiệp,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn sâu sắc.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Đảng bộ huyện Đan Phượng
(Thành phố Hà Nội) lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ
năm 2005 đến năm 2017” làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Đan Phƣợng
(thành phố Hà Nội) lãnh đạo, chỉ đạo CDCCKT nông nghiệp từ năm 2005

- Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2017
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
“Khóa luận đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa Mác Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng
về nông nghiệp và CDCCKT nông nghiệp.”

4


“Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phƣơng pháp lịch sử kết hợp với phƣơng
pháp logic làm nổi bật sự lãnh đạo của Đảng trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp huyện Đan Phƣợng.”
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu khác:
thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu…
6. Đóng góp của khóa luận
“Khóa luận góp phần hệ thống các quan điểm, chủ trƣơng của Trung
ƣơng Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội và Đảng bộ huyện Đan Phƣợng về
phát triển kinh tế nông nghiệp và CDCCKT nông nghiệp từ năm 2005 đến
năm 2017.”
“Bƣớc đầu nêu một số nhận xét về ƣu điểm, hạn chế và đúc rút một số
kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ huyện Đan Phƣợng trong quá trình lãnh
đạo CDCCKT nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2017 trên địa bàn huyện,
góp phần tổng kết lý luận và thực tiễn của Đảng trong chiến lƣợc phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.”
“Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để góp phần tổng kết
thực tiễn, gợi mở những bài học kinh nghiệm để vận dụng trong lãnh đạo
CDCCKT nông nghiệp trên địa bàn huyện hiện nay.”
7. Kết cấu của khóa luận
“Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung của khóa luận gồm 3 chƣơng, 6 tiết”



6


để hình thành một CCKT hiện đại, trong đó ngành công nghiệp và dịch vụ
chiếm tỷ trọng cao trong GDP, tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm;
các vùng kinh tế cũng đƣợc phát triển theo hƣớng sản xuất hàng hóa và phát
huy lợi thế so sánh của mỗi vùng, gắn với thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế,
nhằm đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát triển đạt hiệu quả cao.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất thành thành đầu tiên của xã hội
loài ngƣời từ khi ra đời đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò không thể
thay thế trong phát triển kinh tế nói chung và đảm bảo sinh tồn của loài ngƣời
nói riêng. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm các ngành trồng trọt, chăn
nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Theo nghĩa rộng nông nghiệp còn bao gồm cả
lâm và ngƣ nghiệp. Vì vậy, CCKTNN phản ánh số lƣợng, vị trí các ngành,
các bộ phận cấu thành nên nông nghiệp.
“ Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế. Trong đó
bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp,
thủy sản. Ở Đan Phƣợng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: trồng trọt,
chăn nuôi, thủy sản.”
Trồng trọt là ngành nông nghiệp ra đời đầu tiên. Trong trồng trọt, bên
cạnh cây lƣơng thực còn có các cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau đậu, cây
dƣợc liệu, cây cảnh… Trồng trọt cung cấp lƣơng thực, thực phẩm cho con
ngƣời và nguyên liệu cho công nghiệp.
Chăn nuôi là ngành cung cấp thực phẩm có nguồn gốc động vật cho con
ngƣời cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cung cấp sức kéo,
phân bón cho ngành trồng trọt và các mặt hàng có giá trị xuất khẩu.
Thủy sản là ngành nuôi trồng và khai thác các loài thủy sản bao gồm cả
thủy sản nƣớc ngọt (trong các ao, hồ, đầm ruộng, sông ngòi..) và thuỷ sản

“Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH,
HĐH: là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ

8


phận cấu thành CCKT nông nghiệp nhằm hình thành một CCKT nông nghiệp
hiện đại. Trong đó, tỷ trọng ngành trồng trọt ngày càng giảm, tỷ trọng ngành
chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp tăng (theo nghĩa hẹp); tỷ trọng ngành nông,
lâm nghiệp giảm, tỷ trọng ngành thủy sản ngày càng tăng (theo nghĩa rộng).”
Quá trình CDCCKT nông nghiệp theo hƣớng CNH, HĐH ở Việt Nam là
một quá trình phức tạp, kéo dài trong suốt thời kỳ quá độ, nên đòi hỏi các cấp
ủy Đảng, chính quyền, trong đó có Đảng bộ huyện Đan Phƣợng phải quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo để xây dựng đƣợc một CCKT nông nghiệp hợp lý theo
hƣớng văn minh, hiện đại.
1.1.2. Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện
Đan Phượng
Để tăng tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo ra cơ cấu kinh tế hợp
lý nhất cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Sự CDCCKT nông
nghiệp ở huyện Đan Phƣợng xuất phát từ:
Thứ nhất, CDCCKT nông nghiệp xuất phát từ vai trò, vị trí của nông
nghiệp trong đời sống kinh tế - xã hội huyện Đan Phƣợng. Nông nghiệp có
vai trò rất quan trọng, nếu không muốn nói nông nghiệp là khởi đầu của sự
phát triển. Chú ý đến nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
là xu hƣớng đƣợc áp dụng phổ biến trong những năm gần đây ở nhiều nƣớc
trên thế giới, ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Hà Nội cũng nhƣ huyện
Đan Phƣợng nói riêng.
“Nông nghiệp, nông thôn là thị trƣờng rộng lớn của CNH - HĐH, vì đầu
ra cho công nghiệp chính là nông nghiệp, nông thôn. Thật vậy, muốn công
nghiệp phát triển phải có thị trƣờng, thị trƣờng chủ yếu là nông dân, có nâng

nghiệp nƣớc ta trở thành nền nông nghiệp tiên tiến, kinh tế nông nghiệp thôn
phát triển bền vững, có cơ sở hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có năng suất
lao động và hiệu quả kinh tế cao. CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình

10


chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng tăng nhanh sản phẩm và
lao động các ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao
động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quy hoạch phát
triển nông thôn, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng
quan hệ phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân ở nông thôn.”“Theo
cách hiểu trên CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình hoàn thiện
phƣơng thức tổ chức, quản lý và ứng dụng những thành tựu của khoa học kĩ
thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nhằm xóa
bỏ cơ cấu kinh tế nông thôn truyền thống, tạo sự tăng trƣởng cao và lâu bền,
đƣa khu vực nông thôn phát triển bền vững.”“Và nhƣ vậy CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn không chỉ đơn giản bao gồm phát triển công nghiệp nông
thôn và hiện đại hóa một số công đoạn của sản xuất nông nghiệp nhƣ cơ giới
hóa, điện khí hóa, thuỷ lợi hóa và sinh học quá, mà nó còn bao gồm toàn bộ
các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống vật chất và tinh thần ở
nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp hiện đại và phƣơng thức tổ
chức quản lý tiên tiến và CDCCKT nông nghiệp theo hƣớng CNH, HĐH.”
Thứ tư, sự hình thành và phát triển kinh tế thị trƣờng là một đòi hỏi
khách quan đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Trong nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quá trình xây dựng CDCCKT dựa trên những
tính toán mang nặng tính chủ quan của Ủy ban kế hoạch Nhà nƣớc, tuy có
“tham khảo” thị trƣờng nhƣng chƣa xuất phát từ những yêu cầu thị trƣờng. Ở
đây thì trƣờng đã đặt ra yêu cầu cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

Phƣợng phát triển hơn nữa so với các đơn vị hành chính khác trong thành phố
Hà Nội. Đặc biệt phát triển nền kinh tế nông nghiệp theo hƣớng CNH, HĐH.
* Điều kiện tự nhiên
Về địa hình: “Đan Phƣợng là vùng đồng bằng nên có địa hình đặc trƣng
của vùng bằng phẳng, độ chênh địa hình không lớn, biên độ cao trình nằm
trong khoảng 3,5 m - 6,8 m.”

12


Về khí hậu: Huyện Đan Phƣợng“nằm trong nền khí hậu chung của miền
Bắc Việt Nam với các đặc điểm nhƣ sau: nhiệt độ trung bình năm là 23,80C,
lƣợng mƣa trung bình 1700 mm - 1800 mm. Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình
năm dao động từ 23,1 - 23,30C. Mùa lạnh diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,60C. Mùa nóng diễn ra từ tháng 4 đến
tháng 10, nhiệt độ trung bình thƣờng trên 230C, tháng nóng nhất là tháng 7.
Chế độ ẩm: độ ẩm tƣơng đối trung bình từ 83 - 85 . Tháng có ẩm độ trung
bình cao nhất là tháng 3, tháng 4 (87 - 89 ), các tháng có độ ẩm tƣơng đối
thấp là các tháng 11, tháng 12 (80 - 81%). Chế độ bức xạ: hàng năm có
khoảng 120 - 140 ngày nắng với tổng số giờ nắng trung bình là 1.617 giờ.
Chế độ mƣa: lƣợng mƣa phân bổ không đều, mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng
10 (chiếm 85 - 90%) tổng lƣợng mƣa trong năm. Mùa khô thƣờng diễn ra từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau (chiếm 10 - 15%) lƣợng mƣa.”
Về sông ngòi: Nằm dọc theo hữu ngạn của sông Hồng, thƣờng xuyên
bồi đắp phù sa cho đất đai của huyện Đan Phƣợng, ngoài lƣợng phù sa của
sông Hồng bồi đắp còn một lƣợng lớn phù sa của sông Đáy
“Về tài nguyên đất: Điều kiện thổ nhƣỡng đất đai của huyện Đan
Phƣợng chủ yếu là đất thịt, thịt nhẹ và đất bãi dọc theo sông Hồng. Gồm các
loại đất sau: Đất phù sa đƣợc bồi (Pb); Đất phù sa không đƣợc bồi (P); Đất
phù sa gley (Pg)”

đồng/ngƣời/năm so với năm 2011). Ngoài ra, huyện Đan Phƣợng có truyền
thống lao động cần cù, ngƣời dân chịu thƣơng chịu khó, làm lụng để ổn định
đời sống, phát triển kinh tế, tăng thu nhập cá nhân.
“Dân số tăng nhanh, tỷ lệ dân cƣ sinh sống và tham gia sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn nông thôn vẫn chiếm chủ yếu, có những ảnh hƣởng nhất
định đến sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, tình trạng đất nông nghiệp giảm
nhanh, trong khi sản xuất công nghiệp và dịch vụ chƣa có đủ khả năng giải
quyết nguồn lao động dƣ thừa từ nông nghiệp. Do đó đã xảy ra tình trạng lao
động thiếu việc làm ở một số xã. Đây là vấn đề xã hội nổi cộm gây khó khăn

14


cho quy mô CDCCKT nông nghiệp, có ảnh hƣởng lớn đến việc hoạch định
chủ trƣơng CDCCKT nông nghiệp của Đảng bộ huyện Đan Phƣợng.”
“Sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học
ngày càng có những bƣớc nhảy vọt, trở thành lực lƣợng sản xuất trực tiếp
thúc đẩy kinh tế phát triển, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCKT nói
chung, CCKT nông nghiệp nói riêng, cũng nhƣ thúc đẩy sự biến đổi sâu sắc
các lĩnh vực đời sống xã hội. Những tiến bộ về khoa học công nghệ, đặc biệt
là những tiến bộ trong lĩnh vực lai tạo giống cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật
canh tác tiên tiến, cho phép huyện Đan Phƣợng tiến hành CDCCKT nông
nghiệp một cách nhanh chóng, triệt để hơn theo hƣớng bám sát nhu cầu tiêu
dùng và nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lƣợng sản phẩm; đồng thời giúp cho
ngành nông nghiệp huyện Đan Phƣợng có thể cung cấp những sản phẩm và
dịch vụ mới, cao cấp cho thị trƣờng.”
1.2.2. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Đan
Phượng trước năm 2005
Trƣớc năm 2005, huyện Đan Phƣợng thuộc địa giới hành chính của tỉnh
Hà Tây. Trong giai đoạn này, sản xuất nông nghiệp đƣợc coi là nhiệm vụ

nuôi lợn với quy mô gia đình theo kiểu khép kín, tự sản xuất giống, sử dụng
thức ăn tự nhiên, chăn nuôi từ khi gia súc, gia cầm còn nhỏ tới khi xuất
chuồng, nên năng suất thấp. Việc ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật
vào sản xuất, nhất là đƣa các giống vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao trong
chăn nuôi còn ít và chƣa đạt nhiều kết quả. Song, trên địa bàn huyện Đan
Phƣợng cũng bắt đầu hình thành một số HTX chăn nuôi lợn giống, ngoài ra
thì chăn nuôi thêm trâu bò để lấy sức kéo, phục vụ trồng trọt và vận chuyển ở
nông thôn. Ngành nuôi trồng thủy sản chƣa đƣợc chú ý, chƣa coi là ngành
kinh tế quan trọng trong CCKT nông nghiệp của huyện Đan Phƣợng.”
Trƣớc năm 2005, trong CCKT nông nghiệp huyện Đan Phƣợng,“tỷ trọng
ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ lệ cao, tỷ trọng ngành chăn nuôi, thủy sản

16


chiếm tỷ lệ thấp. Điều này là thách thức lớn đối với Đảng bộ huyện Đan
Phƣợng trong quá trình lãnh đạo CDCCKT nông nghiệp sau khi huyện đƣợc
sát nhập vào thành phố Hà Nội năm 2008.”
“Những hạn chế trên có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhƣ: thay
đổi địa giới hành chính; ruộng đất canh tác ít, manh mún; bị thiên tai đe dọa,
đặc biệt là thiếu chủ trƣơng, giải pháp đồng bộ, đúng đắn nhằm phát triển
kinh tế nông nghiệp theo hƣớng CNH, HĐH, nhất là chƣa xây dựng đƣợc mô
hình CCKT nông nghiệp phù hợp với tiềm năng của địa phƣơng. Trƣớc thực
tế đó, đặt ra yêu cầu đối với Đảng bộ huyện Đan Phƣợng phải đƣa ra chủ
trƣơng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn địa phƣơng để xây dựng và phát triển
sản xuất nông nghiệp toàn diện, hiện đại với CCKT hợp lý theo hƣớng tăng tỷ
trọng ngành chăn nuôi, thủy sản và giảm ngành trồng trọt, tạo nền tảng cơ cấu
kinh tế hợp lý, phù hợp với yêu cầu đề ra.”

17

18


nông thôn có tầm chiến lƣợc đặc biệt quan trọng. Luôn coi trọng đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hƣớng tới xây dựng
một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có
năng suất, chất lƣợng và khả năng cạnh tranh cao”. Hai là, “đẩy mạnh thâm
canh các loại cây trồng trên cơ sở áp dụng các loại quy trình sản xuất đồng bộ
và tiên tiến; quy hoạch diện tích sản xuất lƣơng thực ổn định; phát triển mạnh
chăn nuôi theo hƣớng quy mô lớn, an toàn dịch bệnh và bền vững về môi
trƣờng”. Ba là, “phát triển nuôi trồng thủy sản theo hƣớng sản xuất hàng hoá
lớn đi đôi với bảo vệ môi trƣờng sinh thái; chuyển đổi cơ cấu khai thác qua
việc lựa chọn ngƣ trƣờng, sử dụng hợp lý nguồn lợi, giảm chi phí, nâng cao
sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trƣởng bền vững”. Bốn là, “đẩy mạnh nghiên
cứu và chuyển giao khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản
xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu chọn giống, kỹ thuật canh tác, nuôi
trồng, công nghệ sau thu hoạch và chế biến”
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X (2006) của Đảng, để quá trình
CDCCKT nông nghiệp tiếp tục đạt đƣợc những kết quả cao hơn, ngày 5-82008, Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ƣơng (khóa X) ban hành
Nghị quyết số 26-NQ/TW “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Nghị
quyết khẳng định:
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lƣợc trong sự nghiệp
công nghiêp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực
lƣợng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định
chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc và bảo vệ môi trƣờng sinh thái của đất nƣớc. Các vấn đề nông nghiệp,
nông dân, nông thôn phải đƣợc giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy
mạnh công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”[3].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status