CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÍCH HỢP VĂN HÓA TRONG GIẢNG DẠY MỘT
SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
Người thực hiện: Đinh Thị Thanh Tâm
Đơn vị: Trường THCS và THPT Bắc Sơn
1. Phần mở đầu
1
1.1. Lí do chọn đề tài
Một tác phẩm văn học ra đời không chỉ là sản phẩm của cá nhân một tác
giả hoặc một nhóm tác giả, do tác giả làm chủ, tùy ý quyết định nội dung, giá trị
của tác phẩm. Thực tế cho thấy, đứa con tinh thần của các nhà văn còn chịu sự
chi phối, ảnh hưởng bởi muôn vàn những yếu tố khách quan khác từ bên ngoài,
đó có thể là nhân tố địa lí, lịch sử, kinh tế, văn hóa…- những nhân tố ngay từ
đầu đã tác động tới ngòi bút của tác giả trong quá trình sáng tác và sau đó, chi
phối cách nhìn, cách cảm thụ, cách lí giải, đánh giả của độc giả với tác phẩm khi
được đón đọc.
Trong quá trình giảng dạy, việc đặt tác phẩm vào bối cảnh, không gian
văn hóa của chính nó sẽ giúp HS cảm nhận được nét riêng, đặc sắc của tác
phẩm. Mặt khác, sống trong không gian văn hóa đó, HS sẽ lí giải được những
chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm, hỗ trợ hữu hiệu học sinh trong quá trình tìm
hiểu, phân tích tác phẩm. Những yếu tố văn hoá liên quan đến phong tục, tập
quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội
dung và hình thức của tác phẩm.
Ngược trở lại, từ việc vận dụng các tri thức văn hóa vào quá trình đọc –
“Văn hóa” là sản phẩm của con người, tồn tại ở hai dạng: văn hóa vật chất
và văn hóa phi vật chất (còn được gọi là “văn hóa phi vật thể”, văn hóa tinh
thần), được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có rất nhiều định nghĩa khác
nhau về “văn hóa”:
Theo “Đại từ điển tiếng Việt” của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt
Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn
hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất,
tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử".
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà
Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan
niệm về văn hóa:
-Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
- Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.
-Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời
sống tinh thần (nói tổng quát);
-Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);
-Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh;
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc
Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.”
UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề
cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa
đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ
thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Như vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan
Kiều “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”, chủ động tìm tới ý trung nhân,
một nàng Kiều “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” mà vẫn được ca tụng “Như
nàng lấy hiếu làm trinh – Bụi nào cho được đục mình ấy vay?”. Như vậy, có thể
thấy không gian văn hóa, những giá trị văn hóa được đề cao trong xã hội ảnh
hưởng rất lớn tới sự hình thành, đón nhận một tác phẩm.
Nhưng ngược lại, văn học không chỉ đơn thuần là tấm gương phản chiếu
của văn hóa, biểu hiện văn hóa, những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ
cũng là những nhà văn hoá lớn. Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ đấu tranh, phê phán
những biểu hiện phản văn hoá, đồng thời khẳng định những giá trị văn hoá dân
tộc. Chính từ đó, văn học tác động ngược lại tới văn hóa, góp phần bảo lưu
những giá trị văn hóa tốt đẹp, đồng thời bài xích các hủ tục, những giá trị văn
hóa lỗi thời, không phù hợp.
2.2. Giới thuyết về dạy học tích hợp.
Tích hợp là một hoạt động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ, huy động
các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết một vấn đề,
qua đó đạt được nhiều mục tiêu khác nhau.
Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức, hướng dẫn
để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng… thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những kiến
5
thức, kĩ mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải
quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống.
Có các hình thức dạy học tích hợp sau:
Tích hợp đơn môn: Còn gọi là tích hợp trong nội bộ môn học. Ở dạng
thức này, giáo viên tập hợp các nội dung kiến thức ở các phần khác nhau trong
môn học để xây dựng thành chủ đề. Những nội dung này được tập hợp dựa trên
chức năng hoặc ý nghĩa bản chất, khi mà chúng giúp giải quyết tương đối trọn
vẹn một lớp các vấn đề có liên quan tới nhau.
Nam trong chương trình Ngữ văn 12.
6
Những năm gần đây, dạy học tích hợp được áp dụng rộng rãi trong hoạt
động dạy học của GV, hỗ trợ hiệu quả cho quá trình truyền đạt cũng như tiếp
thu, lĩnh hội kiến thức của cả thầy và trò. Phần nhiều trong số ấy là hình thức
tích hợp trong nội môn. Với môn Ngữ văn, GV thường tích hợp các kiến thức
của các bộ phận làm văn, tiếng Việt, lí luận văn học, đọc – hiểu văn bản trong
quá trình giảng dạy của mình. Bên cạnh đó, tùy từng tác phẩm cụ thể, các GV
còn có thể tích hợp với các kiến thức của các bộ môn liên quan, như lịch sử, địa
lí, giáo dục công dân... Tuy nhiên, do thời lượng tiết học còn có giới hạn, nhiều
GV chưa chú ý đến việc tích hợp văn hóa khi dạy số tác phẩm mà ở đó yếu tố
văn hóa xuất hiện dày đặc, chi phối tới nội dung, tư tưởng của tác phẩm, khiến
HS không lĩnh hội hết các giá trị của tác phẩm hoặc lĩnh hội một cách hời hợt.
Mặt khác, đa số HS vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng
của yếu tố văn hóa trong các tác phẩm văn học, vốn hiểu biết về văn hóa dân
tộc, phong tục tập quán trên các vùng miền đất nước của các em vẫn còn hạn
hẹp. Học sinh chưa biết căn cứ vào văn hóa để lĩnh hội thấu đáo tác phẩm, để cắt
nghĩa, lí giải một số nội dung trong tác phẩm. Chính vì vậy người GV cần phải
chú ý hơn nữa trong việc hướng dẫn HS tìm hiểu các tác phẩm đó bằng việc
tích hợp với kiến thức văn hóa.
2.4. Cách thức tích hợp văn hóa vào việc giảng dạy một số tác phẩm văn
xuôi trong chương trình Ngữ văn 12.
2.4.1. Xác định mục tiêu cần đạt của bài học
GV phải xác định, nắm vững mục tiêu của bài học. Đây là bước đầu tiên,
quan trọng trong bất kì tiết học nào, đặc biệt khi GV tiến hành tích hợp kiến thức
văn hóa vào quá trình giảng dạy, để từ đó tránh không sa đà vào nội dung tích
hợp mà đi chệch với mục tiêu, biến giờ dạy Ngữ văn thành giờ dạy về văn hóa
phong tục.
câu chuyện, tô đậm đặc điểm, tính cách nhân vật, tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn người
đọc, người nghe. Sự việc tiêu biểu là những sự việc quan trọng góp phần hình
thành cốt truyện.
Mỗi sự việc có thể có nhiều chi tiết. Chi tiết nghệ thuật là những tiểu tiết
trong tác phẩm có sức chứa lớn về cảm xúc, tư tưởng. Nói như nhà nghiên cứu
Nguyễn Thanh Tú: “Một tác phẩm được ví như bóng đèn điện thì những chi tiết
hay như những sợi dây tóc phát sáng”. Những chi tiết tiêu biểu tập trung thể
hiện rõ nét sự việc tiêu biểu.
Căn cứ vào không gian văn hóa chúng ta soi chiếu vào tác phẩm để xác
định những sự việc, chi tiết văn hóa tiêu biểu xuất hiện trong nội dung câu
chuyện, ảnh hưởng, chi phối tới tác phẩm.
Ở Vợ chồng A Phủ, ta dễ dàng nhận thấy các sự việc, chi tiết tiêu biểu
mang dấu ấn văn hóa đó là: chi tiết bắt vợ, chi tiết cúng trình ma, chi tiết nhảy
đồng, Tết ở vùng núi cao Tây Bắc với chi tiết tiếng sáo gọi bạn tình, chơi hội
mùa xuân.
Trong Rừng xà nu, nền văn hóa Tây Nguyên được thể hiện ở chi tiết Tnú
được dân làng Tây Nguyên nuôi lớn, cụ Mết kể chuyện cuộc đời Tnú bên bếp
lửa nhà ưng...
Với Những đứa con trong gia đình, truyền thống văn hóa thờ cúng ông bà,
tổ tiên của dân tộc Việt Nam được hiện lên qua chi tiết khiêng bàn thờ của Việt
và Chiến.
Những sự việc, chi tiết tiêu biểu mang dấu ấn văn hóa ấy được các tác giả
chọn lọc, đưa vào tác phẩm của mình với những dụng ý nghệ thuật riêng, góp
phần thể hiện tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm. Nói như vậy không có nghĩa là
8
tác phẩm nào cũng có những sự việc, chi tiết tiêu biểu mang dấu ấn, thể hiện văn
hóa của dân tộc. Tùy từng tác phẩm cụ thể, GV xác định có hay không những sự
việc, chi tiết này để tích hợp vào quá trình giảng dạy, đem lại hiệu quả cho tiết
dâu của nhà thống lí Pá Tra. Bóng ma của thần quyền bao phủ, đè nén Mị kể từ
đấy, đến nỗi khi muốn giải thoát cho bản thân, Mị chỉ nghĩ được một phương án
là tìm đến cái chết. Và khi không thể ăn lá ngón để tự giải thoát cho mình bởi
lòng hiếu thảo, thương cha, chấp nhận kiếp sống tủi nhục trong nhà thống lí, dần
dần bị vật hóa về tinh thần, trong đầu Mị vẫn thường trực suy nghĩ: ““nó đã bắt
ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”. Điều
này cũng lí giải được vì sao nét tâm lí có phần kì lạ của Mị trong đêm tình mùa
9
xuân – sau khi sức sống, sự phản kháng trong Mị được thổi bùng lên sau quãng
thời gian dài bị vật hóa về mặt tinh thần – Mị liền ước nếu có nắm lá ngón trong
tay ở ngay giây phút đó cô sẽ ăn ngay để chết. Bởi lẽ, trong tâm thức của người
dân nơi miền núi Tây Bắc, chỉ có cái chết mới có thể giúp họ thoát khỏi sự bủa
vây, đè nén của thần quyền, mới có thể xóa tan được nghi thức cúng trình ma mà
họ đã phải trải qua, mới có thể trả lại tự do cho Mị.
Với A Phủ, vì tội đánh A Sử, con nhà quan, nên anh bị người nhà thống lí
bắt về xử kiện. Đó là một vụ xử kiện thật lạ lùng. Đám xử kiện nằm dài bên
khay đèn, mấy chục người hút từ sáng đến trưa, cho đến hết đêm. Bọn trai làng
bắt A Phủ ra quì giữa nhà và xô đến đánh. Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể
lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi lại hút… Cứ như thế, suốt chiều, suốt
đêm càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút. Đến sáng hôm sau thì
đám kiện đã xong. Thống lí Pá Tra mở tráp, lấy ra một trăm đồng bạc hoa xòe
bày lên mặt tráp, rồi kể các khoản tiền A Phủ phải nộp: “Nộp vạ cho người phải
mày đánh là hai mươi đồng, nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai
đồng, mỗi người đi gọi các quan về hầu kiện năm hào. Mày phải mất tiền mời
các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay. Lại mất con lợn hai mươi cân, chốc nữa
mổ để các quan làng ăn vạ mày.” Sau đó, thống lí cho A Phủ cúi sờ lên đồng bạc
trên tráp, còn mình thì đốt hương, lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay
nợ. Pá Tra khấn xong, A Phủ cũng nhặt xong bạc, nhưng nhặt xong lại để ngay
Em không yêu quả pao rơi rồi…
- Em không yêu, quả pao rơi rồi.
Em yêu người nào, em bắt pao nào…
Với ý nghĩa đó, tiếng sáo đã trở thành một “sợi dây tóc phát sáng”, khi nó
là một chi tiết nghệ thuật gắn với cuộc đời, số phận của nhân vật Mị, là hiện thân
thế giới tâm hồn đẹp đẽ của cô gái người Mông này. Quá trình thức tỉnh của Mị
gắn liền với sự vọng về của tiếng sáo. Tiếng sáo trở thành chất xúc tác mạnh mẽ
lay tỉnh một tâm hồn ngủ yên trong đêm trường đè nén bởi cường quyền và thần
quyền.
Lần đầu tiên tiếng sáo xuất hiện trong tác phẩm cũng là lần đầu tiên sau
bao ngày dài câm nín ở nhà thống lí Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi.
Mị ngồi nhẩm thầm bài hát người đang thổi. Tiếng sáo đã làm rung lên cảm xúc
trong tâm hồn Mị - sự thay đổi đó chứng tỏ hồn Mị chưa chết hẳn. Mị đang sống
lại, lòng Mị đã có sợi dây xúc cảm. Mị đang sống với giai điệu, với ý nghĩa lời
bài hát người đang thổi. Từ đây, tiếng sáo thức dậy khát vọng sống, sức sống
trong Mị, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những
đêm tết ngày trước. Mị ý thức được Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi
chơi. Nghĩ đến cảnh A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với
nhau, trong Mị xuất hiện suy nghĩ : “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị
sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa
ra.”. Như vậy tiếng sáo gọi bạn yêu lửng lơ bay ngoài đường kia chính là tấm
gương soi hắt lại để Mị nhìn rõ hơn về cuộc sống hiện tại của mình. Mị đã
muốn chết ngay nghĩa là Mị đã không chấp nhận hoàn cảnh, Mị đang muốn
phản kháng lại hoàn cảnh. Đây là điều hoàn toàn khác với Mị lầm lũi suốt bao
tháng ngày trong nhà thống lí trước đây. Tiếng sáo vẫy gọi Mị, thôi thúc Mị để
rồi ngay sau đó, hàng loạt các hoạt động diễn ra một cách nhanh chóng, Mị quấn
lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách, như thể Mị đang thực
hiện hành động giải phóng cho mình, cởi bỏ khỏi sự trói buộc của con ma nhà
thống lí, thoát khỏi căn buồng kín mít của Mị - căn buồng chỉ có một chiếc cửa
sổ một lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không
Trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, trước khi
lên đường ra mặt trận, cầm súng chiến đấu, Việt và Chiến khiêng bàn thờ ba má
sang gửi nhà chú Năm. Những câu văn miêu tả chi tiết này mang một sự dồn nén
đặc biệt về cảm xúc. Nó không chỉ thể hiện truyền thống văn hóa thờ cúng ông
bà, tổ tiên, đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc, chi tiết ấy còn góp phần thể
hiện giá trị tư tưởng của tác phẩm: là hiện thực, cụ thể hóa nỗi đau do tội ác kẻ
thù gây ra với nhân dân ta, là quyết tâm tiêu diệt giặc thù của Việt và Chiến để
trả nợ nước thù nhà; là sự trưởng thành của chị em Việt, sự tiếp nối của các thế
hệ trẻ, của khúc sông sau trên “dòng sông” truyền thống gia đình.
Như vậy, có thể thấy lí giải ý nghĩa của các sự việc, chi tiết tiêu biểu mang
dấu ấn văn hóa này góp phần không nhỏ vào việc giúp HS tìm hiểu các giá trị
nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, giúp các em có cái nhìn, những nhận
thức sâu sắc hơn về tác phẩm.
2.4.5. Cụ thể hóa việc tích hợp văn hóa trong giảng dạy vào thiết kế giáo án
12
Dựa trên kết quả tìm hiểu ở các bước trên, GV thiết kế giáo án tích hợp
các văn hóa vào quá trình giảng dạy một cách hợp lí, phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của HS. Ngoài việc thuyết trình, cung cấp các kiến thức
về văn hóa xuất hiện trong tác phẩm, GV cũng cần biết kết hợp hỏi – đáp, nêu
câu hỏi gợi mở để phát huy sự hứng thú, tích cực suy nghĩ của HS.
Ví dụ với tiết đọc – hiểu Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, GV có thể thiết kế
giáo án như sau:
Tiết 55 – 56 – 57: Đọc – hiểu văn bản.
VỢ CHỒNG A PHỦ
( Trích)
- Tô Hoài -
3. Bài mới:
13
* GV giới thiệu bài mới.
* Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm
hiểu chung.
- GV: Nêu những nét chính về tác giả?
I- Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn
Sen, sinh năm 1920.
- Sáng tác thiên về diễn tả những sự
thật đời thường
- Có vốn hiểu biết sâu sắc, phong
phú về phong tục, tập quán của nhiều
vùng khác nhau.
- Lối trần thuật rất hóm hỉnh, sinh
động nhờ vốn từ vựng giàu có, phần
lớn là bình dân và thông tục nhưng
nhờ sử dụng đắc địa nên đầy ma lực và
mang sức mạnh lay chuyển tâm tư.
- Năm 1996, được nhà nước tặng
giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật.
- Một số tác phẩm tiêu biểu:
+ Dế mèn phiêu lưu kí (1941),
+ O chuột (1942),
+ Nhà nghèo (1944),
- GV: Mị xuất hiện qua những chi tiết
nào?
- GV: Qua sự xuất hiện của Mị, em có
cảm nhận ban đầu như thế nào về cô?
- GV: Nhận xét về cách giới thiệu nhân
vật của Tô Hoài?
đứng vào cột nhà.
- A Phủ đánh A Sử nên đã bị bắt, bị
phạt vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho
nhà Thống lí.
- Không may hổ vồ mất 1 con bò, A
Phủ đã bị đánh, bị trói đứng vào cọc
đến gần chết.
- Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, 2
người chạy trốn đến Phiềng Sa.
- Mị và A Phủ được giác ngộ, trở
thành du kích
II. Đọc - hiểu văn bản:
1. Nhân vật Mị:
a. Sự xuất hiện của Mị:
- Hình ảnh: Một cô con gái “ngồi
quay sợi gai bên tảng đá trước cửa,
cạnh tàu ngựa”.
Một cô gái lẻ loi, âm thầm như lẫn
vào các vật vô tri vô giác: cái quay sợi,
tàu ngựa, tảng đá
- “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi,
thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi
Pá Tra nên Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ
- GV: Việc Mị bị bắt về làm dâu nhà
thống lí Pá Tra gắn với phong tục nào
của người Mông? Phong tục này liệu
có còn giữ nguyên vẻ đẹp của nó ở
trong tác phẩm?
- GV: Lúc mới về làm dâu nhà thống
lí, Mị phản ứng như thế nào?
- Lúc đầu:
+ “Có đến hàng mấy tháng, đêm nào
- GV: Vì sao Mị không giải thoát cho Mị cũng khóc”…
mình bằng cách chạy trốn mà lại tìm
+ Mị tính chuyện ăn lá ngón để tìm
tới cái chết?
sự giải thoát.
GV liên hệ với tục cúng trình ma của
các dân tộc miền núi Tây Bắc.
- GV: Những phản ứng ấy của Mị cho
thấy điều gì trong cô?
sự phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt.
- GV: Ở nhà thống lí Pá Tra, Mị phải
chịu đựng nỗi khổ nào?
- GV: Thái độ của Mị lúc này như thế
nào?
- GV: Những yếu tố nào đã tác động
đến sự hồi sinh nhân vật Mị trong đêm
tình mùa xuân?
vọng đến đôi tai Mị. Tiếng sáo được - Tiếng sáo gọi bạn lấp ló ngoài đầu
miêu tả từ xa đến gần, với những cung núi
bậc khác nhau. Chi tiết này có ý
nghĩa tả thực về nét đẹp văn hóa của
miền núi cao Tây Bắc.
→ Tiếng sáo mang đến chất thơ, làm
dịu mát cuộc sống trăm đắng ngàn cay
với nỗi đời cơ cực của con người nơi
đây, khiến mảnh đất Tây Bắc vốn xa
lạ, hoang vu trở nên gần gũi, thơ
mộng.
+ Không dừng lại ở ý nghĩa tả thực,
chi tiết tiếng sáo góp phần diễn tả vẻ
đẹp tâm hồn Mị trong đêm tình mùa
xuân.
Thảo luận nhóm GV chia lớp thành 4
nhóm. .
- GV nêu vấn đề thảo luận : Chi tiết
tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân tác
động đến tâm hồn, sức sống của Mị.
Các nhóm hãy tìm hiểu diễn biến tâm
- Mị nghe tiếng sáo gọi bạn “vọng lại
trạng Mị khi nghe tiếng sáo gọi bạn?
thiết tha, bổi hổi”. Mị ngồi nhẩm bài
+ Nhóm 1: Diễn biến tâm trạng Mị khi hát của người đang thổi:
nghe tiếng sáo gọi bạn đang lấp ló “Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
ngoài đầu núi
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
nước mắt ứa ra”
Mị đã ý thức được tình cảnh đau
xót của mình.
+ Trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo.
Tiếng sáo là vẻ đẹp văn hóa truyền
thống của dân tộc vùng cao Tây Bắc,
đồng thời biểu tượng cho khát vọng
tình yêu, tự do đã thổi bùng lên ngọn
lửa tâm hồn Mị
+ Những sục sôi trong tâm hồn đã thôi
thúc Mị có những hành động:
“lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ
thêm vào đĩa dầu”
Mị muốn thắp sáng lên căn phòng
vốn bấy lâu chỉ là bóng tối, thắp ánh
sáng cho cuộc đời tăm tối của mình.
“quấn lại tóc, với tay lấy cái
váy hoa vắt ở phía trong vách”
Mị muốn được đi chơi xuân, quên
hẳn sự có mặt của A Sử.
+ Nhóm 4: Diễn biến tâm trạng Mị khi - Khi bị A Sử trói đứng:
+ “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng,
nghe tiếng sáo gọi bạn khi bị A Sử trói
như không biết mình đang bị trói. Hơi
Đại diện các nhóm lên trình bày. Các rượi còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng
nhóm khác nhận xét, chỉnh sửa, bổ sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi,
những đám chơi...”
sung. GV chốt lại kiến thức
Quên hẳn mình đang bị trói, vẫn thả
hồn theo những cuộc chơi, những tiếng
+ “Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A
Sử trói Mị”, “Nhiều lần khóc, nước
mắt chảy xuống miệng, xuống cổ,
không biết lau đi được”
Nhớ lại mình, nhận ra mình và xót
xa cho mình.
+ Nhớ tới cảnh: Người đàn bà đời
trước cũng bi trói đến chết
Thương người, thương mình.
+ Nhận thức được tội ác của nhà thống
lí: “Trời ơi nó bắt trói đứng người ta
đến chết. Chúng nó thật độc ác…”
+ Thương cảm cho A Phủ: “Cơ chừng
chỉ đêm mai là người kia chết, chết
đau, chết đói, chết rét”
Từ lạnh lùng thương cảm, dần dần
Mị nhận ra nỗi đau khổ của mình và
của người khác.
+ Mị lo sợ hốt hoảng, tưởng tượng khi
A Phủ đã trốn được: “lúc ấy bố con sẽ
19
- GV: Em hãy bình luận hành động cắt
dây trói giải thoát cho A Phủ và chạy
theo A Phủ trốn khỏi nhà thống lí Pá
Tra của Mị?
- GV: Em hãy nêu giá trị nhân đạo mà
Tô Hoài muốn thể hiện qua nhân vật
+ Khi sức sống tiềm tàng trong con
người được hồi sinh thì nó là ngọn lửa
không thể dập tắt.
+ Nó tất yếu chuyển thành hành động
phản kháng táo bạo, chống lại mọi sự
chà đạp, lăng nhục để cứu cuộc đời
mình.
2. Nhân vật A Phủ:
- GV: Vì sao nói A Phủ là nhân vật có a. Số phận đặc biệt của A Phủ:
số phận đặc biệt?
- Từ nhỏ mồ côi cha mẹ, không người
thân thích, sống sót qua nạn dịch
- 10 tuổi bị bắt đem bán đổi lấy thóc
của người Thái, sau đó trốn thóat và
lưu lạc đến Hồng Ngài.
- Trở thành chàng trai khỏe mạnh, tháo
vát, thông minh:
“chạy nhanh như ngựa”, “biết đúc
lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và
- GV liên hệ với phong tục cưới xin đi săn bò tót rất bạo”
của người Mông ( nhà trai phải chuẩn - Nhiều cô gái mơ ước được lấy A Phủ
bị các lễ vật tổ chức lễ cưới cho đôi vợ
20
chồng trẻ qua việc thách lễ vật cưới
của nhà gái thường. A Phủ không còn
có cha mẹ, cũng chẳng có tài sản gì
nên không thể cưới vợ)
Hàng loạt các động từ cho thấy sức
mạnh và tính cách của A Phủ, không
quan tâm đến hậu quả sẽ xảy ra.
- Khi trở thành người làm công gạt nợ:
+ A Phủ vẫn là con người tự do: “bôn
ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng”,
làm tất cả mọi thứ như trước đây.
+ Không sợ cường quyền, kẻ ác:
Để mất bò, điềm nhiên vác nửa
con bò hổ ăn dở về và nói
chuyện đi bắt hổ một cách thản
nhiên, điềm nhiên cãi lại thống lí
Pá Tra.
Lẳng lặng đi lấy cọc và dây mây
để người ta trói đứng mình.
Không sợ cái uy của bất cứ ai,
không sợ cả cái chết.
- Bị trói vào cột, A Phủ nhai đứt hai
vòng dây mây định trốn thoát
Tinh thần phản kháng là cơ sở cho
việc giác ngộ Cách mạng nhanh chóng
sau này.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật rất
đặc trưng:
- Nét khác nhau giữa hai nhân vật:
21
+ Mị: được khắc họa với sức sống
tiềm tàng bên trong tâm hồn.
- Nghệ thuật kể chuyện: uyển chuyển,
linh hoạt, mang phong cách truyền
4. Củng cố:
thống nhưng đầy sáng tạo (kể theo
GV củng cố cho HS kiến thức vừa trình tự thời gian nhưng có đan xen hồi
học.
ức, vận dụng kĩ thuật đồng hiện của
5. Dặn dò:
điện ảnh ….).
GV dặn dò HS học bài cũ, chuẩn bị - Ngôn ngữ: giản dị, phong phú, đầy
viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn sáng tạo, mang bản sắc riêng.
học.
- Giọng điệu: trữ tình, lôi cuốn người
đọc.
2.5. Kết quả thực nghiệm
22
Sáng kiến kinh nghiệm “Tích hợp văn hóa trong giảng dạy một số tác
phẩm văn xuôi Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12” đã được tôi thử
nghiệm trong hai năm học: năm học 2016-2017 và 2017-2018. Kết quả thu được
thật khả quan.
Năm học 2016-2017, tôi thử nghiệm với học sinh ở hai lớp là 12.3 và 12.1
và so sánh kết quả với lớp 12.2 là lớp không áp dụng phương pháp này. Sau khi
dạy xong các tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ văn 12, tôi kiểm tra kết
quả của việc giảng dạy bằng cách kiểm tra 15 phút về các tác phẩm Vợ chồng A
Phủ (Tô Hoài), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia
đình (Nguyễn Thi). Kết quả cụ thể như sau:
4
11,43%
Khá (7 – 8 đ)
30
42,9%
7
20%
Trung bình(5 – 6
đ)
22
31,43%
24
54,27%
Yếu, kém(< 5đ)
3
4,24%
Khá (7
điểm)
Trungbình
6điểm)
Tỷ lệ (%)
Lớp đối chứng
Số HS
Tỷ lệ (%)
65
100,0
32
100,0
10
15,38%
3
9,38 %
26
Yếu, kém (< 5
điểm)
* Kết quả thực nghiệm cho thấy:
– Điểm khá, giỏi của lớp thực nghiệm có tỷ lệ cao hơn nhiều lớp đối chứng.
– Điểm trung bình của lớp thực nghiệm có tỷ lệ thấp hơn lớp đối chứng.
– Điểm dưới trung bình của lớp thực nghiệm có tỷ lệ thấp hơn nhiều so với lớp
đối chứng.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, rõ ràng việc áp dụng tích hợp văn hóa
trong dạy học một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam đã phát huy được năng lực tư
duy của HS, khai thác được tối đa vốn hiểu biết của các em, tạo cho các em
hứng thú học tập để lĩnh hội kiến thức, đồng thời góp phần bồi dưỡng cho học
sinh về vốn văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn và
xây dựng văn hóa Việt Nam trong học sinh.
24
3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa của đề tài
Tích hợp văn hóa vào việc dạy học một số tác phẩm văn xuôi trong
chương trình Ngữ văn 12 là dạy cho học sinh đọc hiểu, cảm thụ tác phẩm văn
trong mối quan hệ với các yếu tố của văn hóa, lấy các yếu tố văn hóa để lí giải
cho ý nghĩa của những điểm sáng nghệ thuật trong tác phẩm và ngược lại, từ
việc hiểu tác phẩm mà bồi dưỡng kiến thức cho học sinh về văn hóa dân tộc.
Trong xu thế của cơ chế thị trường, khi mà học sinh đang ngày càng có xu
25