Thực trạng vai trò công tác xã hội trong phòng chống bạo lực học đường tại trường THPT vĩnh chân huyện hạ hòa tỉnh phú thọ - Pdf 57

VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

MỤC LỤC
LÝ DO CHỌN CHỦ ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC
ĐƯỜNG TẠI TRƯỜNG THPT VĨNH CHÂN HUYỆN HẠ HÒA- TỈNH
PHÚ THỌ
1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan ----------------------------------------2. Lý luận về các nguyên tắc hoạt động. -------------------------------------------3. Phương pháp tiến trình
3.1 Phương pháp CTXH cá nhân ------------------------------------------------3.2 Phương pháp CTXH nhóm --------------------------------------------------3.3Phương pháp tham vấn --------------------------------------------------------4 Kỹ năng -----------------------------------------------------------------------------II, THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG TẠI TRƯỜNG
THPT VĨNH CHÂN HUYỆN HẠ HÒA- TỈNH PHÚ THỌ
1.Khái quát chung về vấn đề bạo lực học đường tại trường THPT Vĩnh
Chân, huyện Hạ Hòa- tỉnh Phú Thọ
1.1 Bạo lực học đường trên thế giới ---------------------------------------------1.2 Bạo lực học đường tại Việt Nam ---------------------------------------------2. Mô tả về địa bàn nghiên cứu
2.1 Mô tả chung về vị trí địa lý ---------------------------------------------------2.2 Trường THPT Vĩnh Chân -----------------------------------------------------3. Đánh giá thực trạng
3.1 Đặc điểm tâm lý
3.1.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh gây ra bạo lực ---------------------------3.1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh bị bạo lực ---------------------------------3.2 Thực trạng -----------------------------------------------------------------------3.3 Nhu cầu ---------------------------------------------------------------------------4.Phân tích các hoạt động
4.1 Ngăn ngừa -------------------------------------------------------------------------4.2 Can thiệp -------------------------------------------------------------------------4.3 Vai trò giáo dục -----------------------------------------------------------------1

Trang
03

05
06
07
08
09
10

Công an địa phương, các tổ Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Đội thanh niên
xung kích, Đội cờ đỏ…
KẾT LUẬN

28

2


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

LÝ DO CHỌN CHỦ ĐỀ
Trong những năm gần đây giáo dục và đào tạo có rất nhiều cải cách để tìm ra sự
hiệu quả hơn trong công tác giáo dục và đào tạo, nhưng một vấn đề vẫn chưa được
thay đổi đó là tình trạng bạo lực học đường. Bạo lực học đường tồn tại ở nhiều độ
tuổi khác nhau và len lỏi khắp các trường trên cả nước, sẽ không khó khăn gì để
tìm những vụ việc liên quan đến học sinh đánh nhau. Nếu vào Google và gõ từ
khóa “học sinh đánh nhau” thì trong thời gian 0,40 giây sẽ tìm thấy 1.130.000 kết
quả. Còn nếu chúng ta muốn tìm “clip” về chuyện nữ sinh đánh nhau thì và
Youtube rồi gõ “nữ sinh đánh nhau” thì sẽ tìm thấy 52.300 kết quả, hoặc tìm số vụ
việc liên quan đến việc học sinh đánh nhau gây chết người, chúng ta vào Google
chỉ cần gõ “học sinh đâm chết bạn” thì trong thời gian 0,42 giây sẽ cho 748.000 kết
quả , Bộ GD-ĐT đã công bố kết quả nghiên cứu từ tháng 3 đến tháng 9/2014 với
3.000 học sinh cho biết có khoảng 80% học từ trước đến nay bị bạo lực giới ít nhất
một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua. Những con số trên cho ta thấy
rằng tình trạng bạo lực học đường tồn tại rất nhiều và có xu hướng ngày càng gia
tăng cả về số lượng mà còn tăng cả mức độ nguy hiểm, nó lan rộng ra nhiều địa
phương, báo động về thực trạng suy thoái về đạo đức, lối hành xử bạo lực, thiếu


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG
TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG TẠI
TRƯỜNG THPT VĨNH CHÂN HUYỆN HẠ HÒA- TỈNH PHÚ THỌ
1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan
1.1 Khái niệm công tác xã hội
CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia
đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã
hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn và lực và dịch vụ
nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã
hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
1.2 Khái niệm bạo lực
Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân,
người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay
làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến
sự phát triển hay gây ra sự mất mát (WHO).
1.3 Khái niệm Bạo lực học đường
Bạo lực học đường là “ hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính miệt thị, đe
dọa, khủng bố người khác ( thường xảy giữa trò với trò , giữa thầy với trò hoặc
ngược lại ), để lại thương tích trên cơ thể, thậm trí dẫn đến tử vong, đặc biệt là gây
tổn thương đến tư tưởng, tình cảm, tạo cú sốc về tâm sinh lý cho những đối tượng
trực tiếp tham gia vào quá trình giao dục trong nhà trường, cũng như đối với ai
quan tâm đến sự nghiệp giáo dục.
“Bạo lực“ hay “gây hấn”, “ xâm kích“, “bắt nạt“ là việc làm tổn thương người khác
về thể chất, tinh thần một cách cố ý ( ngay cả khi không đạt được mục đích). Bạo
lực học đường còn được gọi là gây hấn học đường, bắt nạt học đường là hiện tượng

Khi NBBL chưa tự nguyện nói ra hoặc chưa muốn thừa nhận sự thật , nhân viên
công tác xã hội cần kiên nhẫn lắng nghe họ giãi bày.
- Tôn trọng
Tôn trọng quyết định và lựa chọn của NBBL: Mỗi người đều có quyền quyết
định cuộc sống của họ và chúng ta cần tôn trọng quyền này. Nhiệm vụ của nhân
viên công tác xã hội là cung cấp đầy đủ thông tin về các giải pháp và vấn đề của
họ để từ đó NBBL có thể lựa chọn giải pháp phù hợp nhất.
Người gây ra bạo lực cũng cần được tôn trọng , việc lên án hành vi bạo lực học
đường không phải là phủ nhận toàn bộ mọi việc của học sinh đó, nhân viên xã
hội cần có thái độ cách ứng xử phù hợp để tránh gây tổn thương và ảnh hưởng
tới việc học của học sinh.
- Đảm bảo bí mật thông tin

6


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

Tránh gây tổn thương cho NBBL, đảm bảo được nguyên tắc này học sinh sẽ tin
tưởng hơn nhân viên xã hội, tránh gây cảm giác lo lắng bất an sợ các bạn khác
chê cười mình.
- Không đưa ra những hứa hẹn thiếu niềm tin
Việc đưa ra những thông tin về sự quan tâm , giúp đỡ từ nhiều phía nhằm trấn
an , tạo niềm tin cho NBBL rằng họ không đơn độc , tuy nhiên nhân viên xã hội
không nên lạm dụng lời hứa . Những hứa hẹn không thực hiện được sẽ khiến
người trong cuộc cảm thấy thất vọng , mất lòng tin, trông chờ và mất khả năng
tự giải quyết vấn đề.
Ngoài ra trong quá trình can thiệp cũng tuân thủ nguyên tắc lấy phòng ngừa là

có một số điểm mà nhân viên CTXH trường học cần lưu ý :
Thứ nhất : CTXH cá nhân bản chất là làm việc một – một, tức là giữa nhân viên
CTXH và thân chủ nhằm tăng sức mạnh của thân chủ để thân chủ tự giải quyết vấn
đề của mình song trong thực tế, một vấn đề của học sinh nảy sinh trong trường học
đôi khi có nguồn gốc từ rất nhiều phía. Chính vì vậy, người nhận viên CTXH khi
làm việc để trợ giúp một vấn đề của học sinh không chỉ làm việc với học sinh mà
còn làm việc với rất nhiều đối tượng khác hay còn gọi là thân chủ phụ.
Thứ hai : vì là trợ giúp giải quyết vấn đề của học sinh mà đối tượng học sinh phần
lớn đều là trẻ em , trẻ vị thành niên ( trừ các đối tượng là sinh viên ) . Khi làm việc
với trẻ em thì nhân viên CTXH phải thành thạo các kỹ năng làm việc với trẻ em ,
hiểu sự phát triển tâm lý của trẻ em và đảm bảo sự tham gia của gia đình và nhà
trường .
Thứ ba: vì là hoạt động trong môi trường học đường nên nhân viên CTXH luôn
phải ý thức về sự hài hòa giữa mực đích của CTXH và mực đích của trường học.
3.2 Phương pháp CTXH nhóm:
CTXH nhóm là một phương pháp CTXH nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác,
chia sẻ kinh nghiệm , nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố tăng cường chức
năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua
sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhận hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành
vi và khả năng đương đầu với vấn đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết
vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực
Tiến trình CTXH nhóm là tiến trình bao gồm các bước hoạt động thể hiện sự tương
tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau và với nhân viên xã hội nhằm đạt
được mục tiêu đề ra.
Mục đích của CTXH nhóm :
- Đánh giá ( thẩm định ) cá nhân: về nhu cầu , khả năng , hành vi qua việc tự
đánh giá của nhóm viên, đánh giá của nhân viên CTXH, đánh giá của bạn bé
trong nhóm.

8

hội.
3.4 Phương pháp tham vấn.
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng
kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ
tương tác tích cực với thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để
thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình
4 Kỹ năng
9


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

4.1 Kỹ năng lắng nghe
Lắng nghe trong giao tiếp hàng ngày là quá trình im lặng, tập trung để thu nhận
được âm thanh mang thông tin trong đó. Nhưng lắng nghe trong công tác xã hội
không chỉ đơn thuần là sử dụng giác quan, mà nhân viên xã hội lắng nghe người
cao tuổi bằng cả tâm hồn. Khi tác nghiệp với người cao tuổi, điều quan trọng nhất
là chúng ta phải biết lắng nghe họ. Chia sẻ cũng là một nhu cầu cơ bản của người
già. Vì thế, nhân viên xã hội chỉ có thể hiểu được người gây ra bạo lực và người bị
bạo lực khi họ biết lắng nghe một cách tích cực. Đây là kỹ năng không thể thiếu và
cần được rèn luyện đối với chúng ta
4.2 Kỹ năng thấu cảm
Thấu cảm là nhân viên xã hội có thể hiểu được một cách chính xác những gì mà
người gây bạo lực họ đang trải qua từ chính hệ quy chiếu của họ từ quá khứ. Hay
nói cách khác, nhân viên xã hội có khả năng cảm nhận điều mà người bị bạo lực và
người gây ra bạo lực đang cảm nhận, hiểu bằng tư duy cũng như bằng tình cảm.
Họ phải cảm thấy rằng họ đang được quan tâm thực sự chứ không phải bị định
kiến, phê phán hay chỉ trích để họ có thể cởi mở và chia sẻ hơn với nhân viên xã

đổ mồ hôi trên các bài tập của mình thì chúng lại toát mồ hôi trước ý tưởng sẽ bị
nghéo chân hoặc chế giễu. Phân nửa trong số chúng phản ánh đã bị nghe chửi, 39%
bị đặt biệt danh ác ý, 36% bị xô đẩy chen lấn, 32% bị cô lập, 29% bị chế giễu vì
hạnh kiểm tốt trên lớp, 19% bị đánh, 5% bị mơn trớn hoặc bị cưỡng bức…"
Bạo lực học đường đang trở thành vấn nạn tại nhiều quốc gia. Theo ước tính của
WHO, năm 2000 có 199.000 thanh thiếu niên trẻ bị giết xảy ra trên toàn thế giới,
có nghĩa là trung bình trên thế giới mỗi ngày có khoảng 565 trẻ em và thanh thiếu
niên trong độ tuổi từ 10-29 tuổi tử vong do các nguyên nhân liên quan đến bạo lực.
Ở bất kì nơi đâu, tỷ lệ nam là nạn nhân của bạo lực luôn cao hơn nữ. Điều này
chứng tỏ nam giới là nhóm dân số có nguy cơ cao hơn. Đi đôi với mỗi vụ tử vong
do bạo lực trong giới trẻ, trung bình có từ 20-40 nạn nhân phải nhập viện do chấn
thương. Các loại súng, súng ngắn là vũ khí được sử dụng phổ biến trong các vụ bạo
lực gây tử vong, trong khi đó các vụ bạo lực có mức độ nhẹ hơn thưởng sử dụng
đấm, đá, và một số loại vũ khí khác như dao, gậy, dùi cui [12].
Ở châu Á, bạo lực học đường cũng trở thành một vấn đề nhức nhối của ngành giáo
dục nói chung và toàn xã hội nói riêng. Tổ chức phát triển cộng đồng tập trung vào
trẻ em Plan Internatinonal công bố báo cáo về tình trạng bạo lực trong các trường
học ở châu Á. Báo cáo dựa trên kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tế với 9.000
học sinh ở lứa tuổi 12- 17, các giáo viên, hiệu trưởng, phụ huynh tại 5 quốc gia:
Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal. Theo báo cáo này, tình trạng
bạo lực trong các trường học châu Á đang ở mức báo động. Chỉ tính trong 6 tháng,

11


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

số học sinh bị bạo lực (ở mọi hình thức: tinh thần, thể xác…) tại trường học của

do mâu thuẫn trong tình bạn, tình yêu đã dùng dao rạch mặt bạn, đâm chết bạn
12


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

giữa sân trường . Vấn đề bạo lực học đường ngày càng gia tăng với số lượng chóng
mặt, tiếp tục diễn biến phức tạp, trở thành vấn đề cấp bách ảnh hưởng đến quá
trình đào tạo và phát triển toàn diện của trẻ em- chủ nhân tương lai của đất nước.
Chốn học đường được xem là môi trường an toàn nhưng giờ đây bị ảnh hưởng
nghiêm trọng bởi tình trạng học sinh hành xử nhau theo kiểu xã hội đen. Vấn nạn
này đã khiến các ngành chức năng hết sức quan tâm, là nỗi lo lắng của gia đình và
cả một thế hệ tương lai của đất nước. Bộ GD-ĐT đã công bố kết quả nghiên cứu từ
tháng 3 đến tháng 9/2014 với 3.000 học sinh cho biết có khoảng 80% học từ trước
đến nay bị bạo lực giới ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua.
Mức độ an toàn ở nhà trường được các em đánh giá rất thấp, chỉ 16% học sinh nữ
và 19% học sinh nam cho rằng luôn luôn an toàn trong khuôn viên trường . Không
chỉ gia tăng về số lượng, mức độ và tính chất nguy hiểm của các vụ bạo lực trong
học sinh ngày càng nghiêm trọng. Kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và
thanh niên Việt Nam ( SAVY) năm 2003 cho thấy tỷ lệ mang hung khí/vũ khí nói
chung là 2,3% tập trung chủ yếu vào nam thanh thiếu niên ( nam 4% so với nữ
0,5%), riêng tỷ lệ nam thanh thiếu niên thành thị 14-17 tuổi, 18-21 tuổi mang vũ
khí cao hơn nhiều (6,4% và 9%). 3% nam thanh niên trả lời họ đã từng hành hung
một người khác đến mức người đó phải đi bệnh viện. Đặc biệt là một nghiên cứu
trong trường học tại thành phố Hồ Chí Minh có hơn 10% nam thanh thiếu niên
mang hung khí. Bạo lực học đường hiện nay cũng tồn tại ở hình thức giữa các em
học sinh với nhau với tỷ lệ 16,7% học sinh bị bạn ức hiếp; 35,4% học sinh đã từng
bị bạn hù dọa và 10,2% các em không nhận được sự trợ giúp của bạn bè khi gặp

Quá trình thành lập: Ngày thành lập 9/11/1976. Từ ngày thành lập đến nay
trường đóng tại vùng miền núi tỉnh Phú Thọ - xã Vĩnh Chân, Huyện Hạ hòa. Năm
1993 sát nhập với trường cấp 2 vĩnh chân, năm 1998 tách trường cấp 3 riêng và
tên gọi là trường THPT Vĩnh Chân cho đến nay.
* Những đặc điểm chính của trường
Trường THPT Vĩnh chân ra đời tại huyện miền núi Hạ Hoà, tiếp giáp với huyện
Cẩm Khê, Thanh Ba, Đoan Hùng và tỉnh Yên Bái. Đất đai của Hạ Hoà chủ yếu là
đồi núi, đồng bằng hẹp, thuận lợi cho nghề nông trồng lúa nước, trồng cây công
nghiệp và lâm nghiệp..
Nhân dân xã Vĩnh Chân ngày xưa nổi tiếng là đất khoa bảng và có truyền thống
hiếu học. Bên cạnh những thuận lợi trên, Trường THPT Vĩnh chân cũng gặp
không ít khó khăn:
- Hạ hoà là huyện miền núi, trong những năm qua, đời sống của nhân dân tuy đã
được cải thiện những vẫn rất khó khăn, thiếu thốn, vì vậy việc đầu tư cho con em
học tập còn nhiều hạn chế.
14


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

- Vĩnh Chân cách xa trung tâm của huyên,tỉnh. Học sinh Vĩnh Chân phần lớn là
con nông dân, nên chất lượng đầu vào thấp so với các đơn vị trong tỉnh. Đội ngũ
giáo viên của trường thiếu, mất cân đối giữa các bộ môn và không ổn định, một số
giáo viên trẻ còn hạn chế về nghiệp vụ sư phạm.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện đã tác động mạnh mẽ tới quá trình
phát triển của giáo dục nói chung và trường THPT V ĩnh Chân nói riêng.
Cơ cấu tổ chức:
- Tổng số cán bộ, giáo viên trong biên chế Nhà nước: 50 người, trong đó nữ 39,

Đoàn thanh niên có 775 đoàn viên, thanh niên.
Kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thi tốt nghiệp, thi đại học luôn ổn định, đứng
trong tốp đầu của tỉnh, năm học 2014-201
5, trong các trường THPT thì tỷ lệ học sinh giỏi cấp tỉnh của trường vươn lên đứng
thứ nhất tỉnh với 44/48 học sinh đạt giải, tỷ lệ đỗ đại học nguyện vọng 1 đạt trên
60%, đứng thứ 6 toàn tỉnh về số lượng và chất lượng. Năm học 2015-2016, nhà
trường có 21 lớp với 802 học sinh.
3. Đánh giá thực trạng
3.1 Đặc điểm tâm lý
3.1.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh gây ra bạo lực
- Thường là người độc đoán
- Thích được khẳng định bản thân, thích nổi bật
- Thường ăn mặc ngược lại với quy định đồng phục của nhà trường
- Đến từ nhiều thành phần gia đình khác nhau
- Đua đòi, chạy theo vật chất
- Thích học tập những nhân vật anh hùng trong phim hành động
- Thường không thích gần các bạn học giỏi
- Học lực thường trung bình yếu
3.1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh bị bạo lực
- Có xu hướng sống khép mình
16


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

- Yếu đuối về thể chất, rụt rè, không có kỹ năng giao tiếp
- Thường là học sinh khuyết tật
- Có khác biệt về hình thể( sắc tộc, màu da, cân nặng, ngoại hình đẹp, xấu ..)


tháng 10/2018 có 3 vụ tấn công bằng gậy, cây trong đó có 1 vụ làm gãy tay bạn học
cùng.
Về tình trạng bị bạo lực lời nói: Kết quả nghiên cứu cho thấy 7,3% học sinh bị
rơi vào tình trạng này trong vòng 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu. Bạo lực lời
nói diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn với bạo lực thể chất , sự ganh đua về học
tập hay phân biệt đối xử càng làm cho tình trạng này trở nên gay gắt và nghiêm
trọng hơn, cứ 6 học sinh thì 1 học sinh bị bạo lực lời nói. Bạo lực lời nói bao gồm
cả những lời nói miệt thị, thiếu tôn trọng người khác.
Về tình trạng bị bạo lực xã hội: Kết quả nghiên cứu cho thấy 10,1% học sinh
thực hiện hành vi này trong vòng 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu. Trong đó tỷ
lệ học sinh nam(9,3%) và học sinh nữ (11%). Nữ được coi là “chân yếu tay mềm”
còn nam được coi là “ phái mạnh” nên nam giới thường giải quyết những mâu
thuẫn bằng bạo lực thể chất hơn.
Về tình trạng bị bạo lực điện tử: Kết quả nghiên cứu cho thấy 2,8% học sinh
thực hiện hành vi này trong vòng 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu. Trong đó tỷ
lệ học sinh nam(3,6%) và học sinh nữ (2,1%). Đây là một loại hình bạo lực mới xuất
hiện gần đây cùng với sự phát triển của máy tính, mạng facebook.. , điện thoại và một
loạt các thiết bị truyền tin hiện đại
3.3 Nhu cầu
Lứa tuổi THPT tuổi rất nhạy cảm với một số học sinh cá biệt thích thể hiện cái tôi
của bản thân phần nhiều là do sự thiếu tình yêu thương của gia đình , bạn bè và
thầy cô muốn được mọi người quan tâm nên muốn trở thành học sinh cá biệt và có
những hành vi gây ra bạo lực học đường. Chính vì vậy thay bằng những lời quát
mắng chê bai và những hình phạt nghiêm khắc cần những lời nói động viên để
chính học sinh biết đâu là sai và cần phải thay đổi ở đâu.
Đôi khi chỉ là vô ý gây ra bạo lực mỗi chúng ta hãy nhìn bằng cách nhìn yêu
thương, không quá kích động làm cho tình hình ngày càng trở nên căng thẳng hơn.
Ngoài ra những buổi ngoại khóa giao lưu chia sẻ ở trường THPT Vĩnh Chân còn
rất ít chưa đáp ứng được nhu cầu của hầu hết các em học sinh tại trường, chủ yếu

giúp học sinh và gia đình để ngăn chặn nguy cơ này.
Ngăn ngừa bắt nạt/ bạo lực học đường: Tình trạng bắt nạt trong trường học cũng
là một trong những nguyên nhân gây ra bạo lực học đường. NVXH có thể ngăn
ngừa hoặc giảm thiểu nạn bắt nạt bằng cách tăng cường hỗ trợ cho những học sinh
có nguy cơ bị bắt nạt và thực hiện những chương trình tập huấn kỹ năng xã hội
hướng vào giải quyết mâu thuẩn như kiểm soát sự giận dữ, cách giải tỏa ức chế,
cách thương lượng để giải quyết mâu thuẩn không cần đến bạo lực,… NVXH cũng
19


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

cần phối hợp với giáo viên và đoàn thể (Đoàn, Đội,…) giúp những học sinh yếu
lấy lại căn bản để có thể theo kịp bạn đồng học và tự tin hơn.NVXH có thể tìm mời
các chuyên gia đến trường và giúp cho thấy cô giáo và ban quản lý nhà trường
trang bị kiến thức và kỹ năng nhận diện trẻ bị lạm dụng, những dấu hiệu có thể dẫn
đến bạo hành, dấu hiệu trẻ đang có vấn đề sức khỏe tâm thần,…để có thể can thiệp
kịp thời.
Xây dựng trường học thân thiện:NVXH cần ứng dụng những chương trình
“hành vi tích cực” (positive behavioral interventions ans supports) thúc đẩy việc
xây dựng và duy trì môi trường học đường thân thiện, tăng cường sự tôn trọng và
tin cậy giữa các giáo viên, giữa học sinh, và giữa học sinh với giáo viên. Môi
trường học đường thân thiện và an toàn sẽ giúp các em yêu thích trường học và yên
tâm học tập.NVXH giúp học sinh xây dựng giá trị bản thân và phát triển những kỹ
năng như nhận diện và quản lý cảm xúc, biết quan tâm đến người khác, đi đến
những quyết định có trách nhiệm, xây dựng được những mối quan hệ tích cực, và
giải quyết một cách hiệu quả những thách thức của cuộc sống.
4.2 Can thiệp

lý cho những học sinh là nạn nhân của bạo lực và những học sinh có hành vi bạo
lực học đường. Tham vấn giúp giải tỏa những áp lực tâm lí cho những học sinh có
xu hướng bạo lực; Giúp các em tìm ra những giải pháp đương đầu với những tình
huống có thể xảy ra bạo lực; Giải tỏa những căng thẳng trong học tập, giải quyết
các khó khăn về tâm lý bắt nguồn từ các mối quan hệ bạn bè, thầy cô và ngay cả
các những khó khăn khi các em giao tiếp với các thành viên trong gia đình. Với
mục đích là giúp các em có được sức khỏe tâm lí tốt, để từ đó sản sinh ra “sức đề
kháng” đương đầu với những khó khăn một cách có lý trí, tránh những sai lệch về
cả nhận thức và hành vi. Đối với những học sinh có khuynh hướng bạo lực hoặc đã
có những hành vi bạo lực, nên kịp thời có những điều chỉnh về tâm lí, định hướng
cho các em về hành vi, hình thành cho các em kỹ năng tự kiểm soát tâm lý và hành
vi của bản thân; Tiến hành phân tích cho học sinh biết điều gì là đúng là sai, những
hành vi tự bảo vệ một cách chính đáng không nên đánh đồng với hành vi bạo lực
mà nên được khuyến khích. Thông qua hoạt động tham vấn, nhân viên CTXH giúp
các em có cơ hội được giải bày tâm sự, lắng nghe những suy nghĩ của các em, giúp
cho học sinh đó có cơ hội được giải tỏa, “xả” được những dồn nén trong lòng, có
cảm giác được chấp nhận, tôn trọng, mà những dồn nén ấy đôi khi chính là nguyên
nhân dẫn đến những hành vi bạo lực.
NVXH tham vấn riêng cho từng em học sinh khi các em gặp phải khó khăn gây
cản trở việc học tập của các em. Nhu cầu tham vấn của các em có thể là những vấn
đề cá nhân, vấn đề thuộc gia đình hoặc trường học hoặc cả 3. Tùy theo đánh giá
ban đầu mà NVXH xây dựng kế hoạch tham vấn cho các em, cùng với gia đình các
em hoặc giáo viên nếu cần thiết.
4.3. Vai trò giáo dục
21


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

5.1 Hiệu quả
- NVXH đã biết tận dụng được kiến thức , kỹ năng chuyên môn trong việc tuyên
truyền nâng cao nhận thức về bạo lực học đường tại trường THPT Vĩnh Chân, đa
22


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

số các em đã tham dự các chương trình và những buổi dạy về kỹ năng phòng
chống bạo lực gia đình.
- Học sinh trong trường ngày càng năng động hoạt bát và nghiêm túc thực hiện
những nội quy đã đề ra. Học sinh các lớp nâng cao được năng lực tự giải quyết vấn
đề của mình, giảm áp lực thi cử nhất là với học sinh lớp 12 cuối cấp chuẩn bị thi
vào đại học.
- Nhà trường, thầy cô, phụ huynh học sinh ngày càng quan tâm tới con em của
mình nhiều hơn từ đó kết quả tháng 11/2018 tốt hơn tháng trước
5.2 Hạn chế
- Thứ nhất: NVXH chưa nhiều chưa sát sao được với tất cả các em học sinh trong
toàn trường
- Thứ hai: Các hoạt động giáo dục về phòng chống BLHĐ chưa thu hút được sự
tham gia đông đảo của học sinh trong toàn trường, chưa duy trì các hoạt động này
một cách thường xuyên, đều đặn.
- Thứ 3: Các em học sinh còn e dè không dám chia sẻ những suy nghĩ của mình,
hoạt động tham vấn, tư vấn chưa thực sự phổ biến cho tất cả các em học sinh.
5.3 Các yếu tố tác động đến bạo lực học đường
5.3.1 yếu tố gia đình
Gia đình Sự giáo dục của cha mẹ tác động rất lớn đến hành vi của học sinh, cha
mẹ có những hành động biểu hiện bạo lực với con em, cha mẹ dạy con bằng cách

những lỗi lầm đó và đưa gia lời khuyên thích hợp cho con. Tạo điều kiện cho con
được vui chơi, thăm hỏi ông bà, giúp đỡ các trường hợp khó khăn, tiếp xúc với
thanh thiếu niên tiêu biểu trong dòng họ để tăng sự gần gũi, quan tâm đến các em
đồng thời giáo dục nhân cách và kỹ năng sống cho các em.
5.3.2 Yếu tố bạn bè xã hội
Bạn bè rủ dê lôi kéo tham gia cùng và thấy hành vi bạo lực là điều rất bình thường
trong trường học, ở trong môi trường đó quá lâu mỗi học sinh thấy việc bắt nạt bạn
bè là thể hiện cái tôi của riêng mình.
Xã hội Tình trạng bạo lực học đường được hình thành từ chính xã hội mà chúng ta
đang sống. Khi mà hàng ngày, hàng giờ luôn đập vào mắt các em là cảnh chém
giết, bạo lực trên tivi, rồi các tác phẩm đồi trụy tràn lan không kiểm soát trên các
phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng internet, trò chơi trực tuyến. Đặc
biệt, sống trong một xã hội mà người lớn - chúng ta vẫn thường đối xử với nhau
bằng bao lực , sống với nhau bằng sự lãnh đạm, thờ ơ, đối đãi với nhau bằng quan
hệ “tiền - quyền” thì không thể nào giáo dục trẻ em hiểu biết được các cách làm
người tốt. Trong một xã hội như vậy, chắc chắn sẽ tác động đến suy nghĩ và hành
vi bắt chước của các em.
5.3.2 Học sinh
Học sinh Nguyên nhân cuối cùng mà chúng tôi cho rằng quan trọng nhất, đó chính
là xuất phát từ chính bản thân của các em học sinh. Xét về góc độ tâm lý lứa tuổi,
24


VŨ THỊ THÚY D11 CT03

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG HỌC

đây là giai đoạn khao khát khẳng định cái “tôi” của các em mạnh mẽ hơn bao giờ
hết. Các em mong muốn được thể hiện những suy nghĩ, quan điểm, sự tự tin và
hành xử theo cách riêng của mình, không phụ thuộc vào người lớn, thay vì khẳng




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status