1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ NGUYỆT
VAI TRÒ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CHƢƠNG TRÌNH 135 TẠI HUYỆN KIM BÔI - TỈNH HÒA BÌNH
GIAI ĐOẠN II (2006 – 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
CHƢƠNG TRÌNH 135 TẠI HUYỆN KIM BÔI - TỈNH HÒA BÌNH
GIAI ĐOẠN II (2006 – 2010)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Chủ tịch hội đồng Ngƣời HDKH
PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Hoa TS. Nguyễn Thị Trà Vinh
Hà Nội - 2014
3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
CT
Chương trình
4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
Bảng 1.1: Bảng mô tả hệ thống giữa nhân viên CTXH và thân chủ
Bảng 1.2: Diện tích, dân số, số hộ
Bảng 3.1: Tác động của hoạt động KNVTB tới sản xuất các hộ dân
Bảng 3.2: Mô hình hoạt động giữa KNVTB với người dân
Bảng 3.3: Sơ đồ hộ vay vốn thông qua tổ tự quản giảm nghèo
0
1
5
quả sát với tình hình thực tế nhằm giúp dân vươn lên thoát nghèo hoà nhập
vào sự phát triển chung của cả nước góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội,
an ninh quốc phòng. Mặc dù đã được đầu tư hỗ trợ nhiều nhưng huyện Kim
Bôi vẫn gặp phải những trở ngại về ngành nghề, vốn, lao động, đất đai, cơ chế
và trình độ quản lý nên số hộ nghèo trong huyện còn cao. Do vậy xoá đói
giảm nghèo là một yêu cầu cấp thiết đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cấp,
các ngành, sự phối hợp của chính quyền, ý thức tự vươn lên của người dân
đặc biệt là vai trò của nhân viên CTXH chính thức. Với việc nghiên cứu tình
hình thực hiện 135 dựa trên việc phân tích các vai trò của các tổ chức, hội,
đoàn thể, các ban ngành tại địa phương nhằm tìm ra mặt đạt được và còn tồn
tại trong mỗi vai trò. Chỉ ra sự thiếu hụt nhân viên CTXH được đào tạo
chuyên nghiệp bài bản sẽ khác so với các vai trò đang được thực hiện phi
chính thức, bán chuyên nghiệp. Để giúp những xã này tiếp cận và thực hiện
CT 135 giai đoạn III hiệu quả hơn tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Vai trò
Công tác xã hội trong việc thực hiện chương trình 135 tại huyện Kim Bôi -
tỉnh Hòa Bình giai đoạn II (2006 – 2010)” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương trình 135 là một trong những CT đã thu hút sự quan tâm của cả
cộng đồng và toàn xã hội. Với nguồn ngân sách khổng lồ mà Trung ương
cũng như ngân sách của từng địa phương dành cho chương trình, tổng kinh
phí giai đoạn I (1998 - 2005) ước tính 1870 tỷ đồng, và giai đoạn II (2006 -
2010) trên 14.000 tỷ đồng đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của các thôn, xã
được thụ hưởng chương trình với 1715 xã được thụ hưởng chương trình trong
giai đoạn I và 1779 xã, 3149 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc 47 tỉnh được
thụ hưởng chương trình. Đời sống người dân dần dần được cải thiện với thu
nhập bình quân đầu người ở các xã trong CT đạt 4,2 triệu đồng/người/năm (so
7
giảm nghèo.
Tác giả Khan. Mahmood Hasan năm 2001 có cuốn “Rural poverty in
developing countries: Implication for public policy” [137] thì lại đi sâu phân
tích về sự nghèo đói ở vùng nông thôn các quốc gia đang phát triển, về các
dạng người nghèo, tài sản của người nghèo, nguyên nhân của sự nghèo đói,
các chính sách XĐGN và các yếu tố cần thiết trong chính sách XĐGN.
Năm 2006, World Bank (WB) đã thực hiện nghiên cứu và xuất bản
cuốn sách: “Beyond the number: Understanding the institution for monitoring
poverty reduction strategies” (Washington, DC) bởi tập thể tác giả: Tara Bedi,
Aline Coundouel, Marcus Cox, Markus Goldstein, Nigel Thornton [144].
Cuốn sách đã chỉ ra nền tảng của mối quan hệ trong việc tăng cường hệ thống
hướng dẫn chi tiết chiến lược giảm nghèo, qua đó xây dựng chính sách và
đánh giá tác động của chính sách đối với các nước nghèo. Phân tích thực tiễn
chính sách và kết quả thu được ở một số nước Anbani, Bolivia, Guyana,
Honduras…
Với cuốn “Vietnam and Africa:Comparative lessons and mutual
opportunities” năm 2007 các tác giả Do Hoai Nam, Gre Mills, Dianna
Games… [132] đã nghiên cứ về cơ hội và kinh nghiệm trong phát triển nông
nghiệp và an ninh lương thực ở Việt Nam và Châu Phi, vai trò của tăng
trưởng kinh tế trong XĐGN cũng như phân tích về nguồn vốn viện trợ phát
triển và sự tận dụng hiệu quả nguồn vốn viện trợ (ODA) đối với các quốc gia
này.
Christensen, Hanne với nghiên cứu “The Reconstruction of Afghanistan:
A chance for Rural Afghan Women” (Geneva: United Nations Institute for
Social Development, 1990) [127] đã nghiên cứu công cuộc cải tổ đất nước
Apganixtan và đời sống những người tị nạn Apghan ở Pakistan, vai trò người
9
phụ nữ trong gia đình và xã hội sau đó đưa ra bài học và khuyến nghị cho
thống an sinh xã hội, đặc biệt là ảnh hưởng của hệ thống an sinh xã hội tới
nghèo đói ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Trên
cơ sở nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng hệ thống an sinh xã hội tới nghèo đói
của hộ nông dân huyện Văn Chấn, đưa ra kiến nghị, giải pháp xây dựng hệ
thống an sinh xã hội tòan diện bảo đảm giữa tăng trưởng với xóa đói giảm
nghèo. Đề tài đã tập trung nghiên cứu vấn đề cấp thiết của xã hội, vấn đề
nóng bỏng Đảng, Nhà nước quan tâm, tuy nhiên đề tài mới chỉ tập chung ở
vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống an sinh xã hội tới vấn đề nghèo
đói, có thể nói vấn đề này là một nguyên nhân nhỏ bé trong hàng loạt các
nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của nguời dân, trong khi đó cả hệ thống an
sinh xã hội có rất nhiều học phần nên tác giả chưa đi vào chi tiết, cụ thể, ví dụ
như tác giả đưa ra một loạt các hệ thống an sinh ảnh hưởng đến như: Bảo
hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế; Cứu trợ xã hội; Ưu đãi xã hội; Kinh phí cho
giáo dục; Thực hiện chương trình 135 giai đoạn 1 và giai đoạn 2. Ở đây đề tài
có nói đến cả chương tình 135 và các ảnh huởng của đến nghèo đói nhưng
không tập trung sâu mà đi chủ yếu tập trung vào vấn đề an sinh xã hội nhiều
hơn.
Nguyễn Thị Nhung với luận án tiến sĩ: “Giải pháp xóa đói giảm nghèo
nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam” đã phân tích
thực tiễn về XĐGN tại Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội;
khái quát những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân tác động XĐGN ở Việt
Nam. Xác định vai trò của XĐGN đối với việc phát triển KT-XH và đề xuất
tạo sự liên kết chặt chẽ giữa giảm nghèo với tiếp cận thị trường; chú trọng,
phát huy vai trò của XĐGN thông qua cơ chế khuyến khích, ưu đãi để người
nghèo chủ động tham gia và thị trường [32, tr.6]
11
Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội kết hợp với UNDP có bài báo
cáo (10/2004), Đánh giá Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xóa đói giảm
công tác phân cấp, quản lý tài chính và hệ thống theo dõi giám sát, mđánh giá
cũng như năng lực thể chế để triển khai thành công hai CT này.
Thứ ba, tác động của CT lên chất lượng sống của các hộ gia đình là gì?
Và mức độ tác động của các kết quả cụ thể của 2 CT đã tác động như nào tới
đời sống của người dân?
Tập thể tác giả của Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Đông Dương có bài
báo cáo: “Tác động của chương trình 135 giai đoạn II qua lăng kính hai cuộc
điều tra đầu kỳ và cuối kỳ”. Báo cáo tập trung chủ yếu vào vấn đề làm sao để
các hộ nghèo có nhiều cơ hội tiếp cận và hưởng lợi từ các thành quả kinh tế,
chính phủ đã đưa ra nhiều chương trình giảm nghèo nhắm đến đối tượng cụ
thể là các hộ nghèo và các khu vực nghèo, bao gồm CT 135, CT 30a nhằm cải
thiện điều kiện sống của đồng bào dân tộc thiểu số; Chương trình xóa đói và
giảm nghèo, Chương trình bảo hiểm y tế cho người nghèo. Những chương
trình và chính sách này đã làm gia tăng các cơ hội cho các hộ nghèo hưởng lợi
từ thành tựu phát triển kinh tế và giúp họ cải thiện điều kiện sống cũng như
tăng cơ hội để thoát nghèo.
Với quyết tâm đánh giá được sự hiệu quả CT 135 giai đoạn II và tăng
cường năng lực thiết kế của các CT trong tương lai, Ủy ban dân tộc với sự hỗ
trợ của UNDP, đã thực hiện cuộc điều tra đầu kỳ và năm 2007 và điều tra
cuối kỳ năm 2012. Với quy mỗ mẫu lớn (6000 hộ ở 400 xã thuộc 42 tỉnh
thành) cùng với việc áp dụng phương pháp thiết kế điều tra bài bản và quy
trình đánh giá tác động có hệ thống và chuyên nghiệp, hai cuộc điều tra này
đã cung cấp các bộ số liệu tòan diện về đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực
nghèo và khó khăn nhất. Cụ thể, những số liệu công bố cho phép: (i) đo lường
13
những tiến bộ đạt được trong công cuộc giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã
hội của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi, vùng sâu vùng xa của Việt Nam
trong vòng 5 năm qua; (ii) phân tích chi tiết những cải thiện trong phát triển
đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào sinh sống trong các xã đặc biệt
khó khăn của tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chương trình
135 còn nhiều hạn chế hiệu quả đầu tư chưa cao mục tiêu xã có công trình,
dân có việc làm và có thu nhập, thực hiện được rất ít. Việc huy động và hình
thức tổ chức cho nhân dân tham gia chưa được các xã quan tâm, ngoài ra khi
các công trình hoàn thành thì do năng lực và trình độ dân trí đồng bào còn
nhiều hạn chế nên nhiều công trình đầu tư xong không có hiệu quả, không có
người quản lý, vận hành. Đặc biệt một số công trình giao thông do kinh phí
hạn hẹp nên mới đầu tư chủ yếu ở phần nền, phần công trình thóat nước trên
tuyến là tạm, kinh phí duy tu bảo dưỡng không có, do vậy mùa mưa là đường
không sử dụng được do sạt lở, mất cống thóat nước…làm ảnh hưởng đến hiệu
quả phục vụ của công trình. Để thực hiện có hiệu quả hơn chương trình 135 ở
các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn Tỉnh Lai Châu trong thời gian tới, bản
luận văn đã đề xuất phương hướng, mục tiêu cùng 7 giải pháp và nhóm giải
pháp đồng bộ. Những giải pháp và nhóm giải pháp đề xuất dựa trên việc phân
tích về mặt lý luận và nghiên cứu toàn diện các mặt thành công và chưa thành
công trong thực tiễn thực hiện chương trình trong những năm qua.
Tác giả Cao Kiên Cường khi ở Singapore đã có nghiên cứu về “Các
giải pháp chủ yếu để loại bỏ nghèo đói bền vững tại Việt Nam”. Nghiên cứu
này đã đi sâu nghiên cứu lý luận về vai trò Chính phủ trong việc XĐGN. Phân
tích thực trạng cơ chế, hệ thống chính sách còn bất cập, chưa đúng mưc, chưa
phù hợp với việc phát huy tác dụng KTTT đồng thời đề xuất giải pháp XĐGN
bền vững cũng như đã đề ra chiến lược mang tầm cỡ quốc gia thúc đẩy kinh tế
Việt Nam phát triển [128].
15
Năm 2009, Viện Dân tộc xuất bản cuốn “Cơ hội thách thức đối với
vùng dân tộc thiểu số hiện nay” trên cơ sở tập hợp các tham luận trong Hội
thảo khoa học “Cơ hội và thách thức đối với vùng DTTS khi Việt Nam gia
38% hộ nghèo được nhận hỗ trợ từ các chương trình giảm nghèo không thuộc
đối tượng thụ hưởng và những hỗ trợ này và có 28% hộ trong nhóm “không
nghèo” thực sự là hộ nghèo, nhưng không được bình xét là những hộ thuộc
diện được hưởng chính sách. Tỷ lệ rò rỉ này đặt ra một câu hỏi nghiêm trọng
về hiệu quả xác định đối tượng mà các chinhs ách và chương trình giảm
nghèo cho các xã nghèo nhất hướng tới [47].
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ, tiến sĩ có đề cập đến vấn đề
này ở những địa phương khác nhau. Các công trình trên đã đi vào nghiên cứu
nội dung của vấn đề đói nghèo, vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội
và một số vấn đề liên quan trong sự phát triển của đất nước ta. Đây là những
tư liệu khoa học quý để tham khảo và sẽ được tiếp thu có chọn lọc trong quá
trình viết luận văn của tác giả.
Ở huyện Kim Bôi có các tư liệu, bài viết, tham luận và báo cáo của
UBND huyện Kim Bôi về xóa đói giảm nghèo như: “Tổng kết chương trình
135 và các chính sách dân tộc trên địa bàn huyện Kim Bôi giai đoạn II 2006-
2010” và bài “Phương hướng, mục tiêu xoá đói giảm nghèo trong năm 2011”.
Tuy nhiên chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu vấn đề CT 135
đặc biệt là dưới góc độ chuyên ngành Công tác xã hội. Vì vậy với đề tài “Vai
trò Công tác xã hội trong việc thực hiện chương trình 135 tại huyện Kim
Bôi - tỉnh Hòa Bình giai đoạn II (2006 – 2010)” đã được nghiên cứu dưới
góc độ một là nhà hoạt động về Công tác xã hội để tìm ra những giải pháp để
nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo. Thông qua một loạt các hoạt
động với những vai trò cụ thể nhân viên CTXH đã thể hiện tính đặc trưng của
17
ngành mình so với các ngành khác trong việc trợ giúp người dân thực hiện
chương trình 135.
3. Ý nghĩa nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa lý luận
Tìm hiểu tình hình thực hiện CT 135 tại huyện Kim Bôi, vai trò của
nhân viên CTXH trong việc thực hiện CT 135 đang được các tổ chức thực
hiện bán chuyên nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm thực
hiện tốt hơn công tác xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn III (2011 – 2015)
của chương trình.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu hiện trạng nghèo đói của các xã thuộc CT 135 của Chính phủ
tại huyện Kim Bôi.
Phân tích mặt thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chương trình
135 tại địa bàn huyện để rút kinh nghiệm cho thực hiện giai đoạn tiếp theo
của CT 135.
Phân tích vai trò CTXH do các hội, đoàn thể, tổ chức trong việc trợ
giúp người dân thực hiện CT 135 tại địa phương.
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực tế vai trò CTXH trong xóa đói giảm nghèo của người dân huyện
Kim Bôi (giai đoạn 2006 - 2010) đang được các hội, đoàn thể, tổ chức thực
hiện một cách phi chính thức từ cấp xã đến huyện.
5.2 Khách thể nghiên cứu
Khoá luận được tiến hành nghiên cứu trên số khách thể là 100 hộ dân
thuộc diện hộ nghèo của huyện Kim Bôi được thụ hưởng CT 135 của Chính
phủ.
19
Những tổ chức, hội, đoàn thể như hội phụ nữ, MTTQ, phòng LĐ
TB&XH huyện và xã… đang thực hiện các vai trò như một nhân viên CTXH.
6. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ năm 2006 - 2010
Địa bàn và nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn 02/25 xã
Cán bộ lãnh đạo cấp huyện, xã : 04
Cán bộ trong ban chỉ đạo CT 135 : 03
Cán bộ phòng, ban LĐ TB&XH : 03
Cán bộ phòng NHCSXH, quỹ tín dụng địa phương : 02
Các hộ dân vay vốn và thụ hưởng từ CT 135 : 10
Hội phụ nữ : 02
9.2 Phương pháp quan sát
Trong quá trình thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu, tác giả đã quan sát
về điều kiện sống của các hộ dân, thái độ của người dân đối với chương trình
như thế nào. Sau đó, ghi chép và bổ sung thêm thông tin phục vụ cho vấn đề
đang nghiên cứu.
9.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện
Kim Bôi, báo cáo tổng kết chương trình 135 giai đoạn II của huyện và các xã
thuộc chương trình 135 trong huyện.
Các tài liệu về vấn đề xóa đói giảm nghèo, các chương trình của Đảng,
Nhà nước đầu tư hỗ trợ nghèo đói.
Bên cạnh đó, kết hợp với các nguồn thông tin thu thập từ các sách báo,
internet… kết hợp với kết quả đã điều tra thực tế để tìm hiểu tình hình thực
hiện chương trình 135 tại huyện Kim Bôi.
21
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1.1 Xã đặc biệt khó khăn
Khái niệm “xã đặc biệt khó khăn” gắn với Quyết định 135/1998/QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các
thông ở nhiều xã còn chưa có đường ô tô vào trung tâm xã, các tuyến đường
vào đến xã chủ yếu là đường bộ và phương tiện chủ yếu là ngựa thồ, xe thồ,
đến mùa mưa còn nhiều đoạn đường bị sạt lở và ngập lụt. Nhiều xã chưa có
điện lưới quốc gia, thậm chí không có cả thuỷ điện nhỏ gia đình. Vấn đề nước
sạch ở các xã này gặp rất nhiều khó khăn, khoảng cách từ xã tới nguồn nước
rất xa nên rất khó khăn trong việc sinh hoạt hàng ngày, gây ra nhiều bệnh tật.
Cở sở hạ tầng và trang thiết bị của trường học, bệnh xá rất thấp kém, các lớp
học chủ yếu là bà con tự làm bằng tre nứa không đảm bảo khi mùa mưa bão,
các trạm xá không đủ dụng cụ và thuốc men tối cần thiết. Các dịch vụ khác
hầu như không có.
Tiêu chí thứ ba về các vấn đề xã hội: Trình độ văn hoá thấp, tỷ lệ mù chữ
và thất học trên 60%, tập tục lạc hậu, thông tin hầu như không đến được với
đồng bào cho nên việc vận dụng các chủ trương, chính sách, tiến bộ khoa học
công nghệ, phòng chống dịch bệnh bảo vệ sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình
còn rất hạn chế.
Tiêu chí thứ tư về điều kiện sản xuất: nhìn chung khó khăn và thiếu
thốn không đáp ứng yêu cầu của người dân; sản xuất còn mang tính tự nhiên;
thu nhặt các sản phẩm từ rừng chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập hộ gia đình;
đất rừng được sử dụng để canh tác nông nghiệp; sản xuất còn du canh.
Tiêu chí thứ năm về điều kiện sống: Số hộ đói nghèo chiếm trên 60%
tổng số hộ của xã. Đời sống rất khó khăn, nạn đói thường xuyên xảy ra. Mức
23
thu nhập bình quân đầu người quá thấp, thấp nhất so với cả nước, mức thu
nhập được quy ra gạo với mức là dưới 13 kg gạo/người/tháng.
1.1.1.2 Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo
Chương trình 135 chính là một phần nhỏ nằm trong chương trình mục
tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo: chương trình 134, chương trình 135,
chương trình 30a, Để hiểu rõ hơn về các tiểu khái niệm cần làm rõ từng
dân tộc thiểu số chia làm 2 thành phần:
Dân tộc thiểu số có nguồn gốc lịch sử là tập thể tộc người đã có mặt
trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản địa
Dân tộc thiểu số di cư là những người nước ngoài sang định cư tại một
quốc gia đã có chủ quyền.
Đứng trên phương diện chính trị, mỗi quốc gia có khái niệm khác nhau
về thuật ngữ “dân tộc thiểu số”, kéo theo bao sự tranh cãi trên diễn đàn Liên
Hiệp Quốc. Sau bao năm thảo luận gây go, Hội đồng LHQ thông qua thuật
ngữ “dân tộc thiểu số” vào năm 1992 bằng cách dựa quan điểm mà Gs.
Francesco Capotorti (đặc phái viên của LHQ) đã đưa ra vào năm 1977: "Dân
tộc thiểu số” là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người” có các đặc điểm:
Một là, cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là
công dân của quốc gia này
Hai là, duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống
Ba là, thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn
ngữ của họ
Bốn là, đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng
ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này
Năm là, có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao
gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ.
25
Còn ở Việt Nam khái niệm này được gắn liền với CT 135 thì Dân tộc
thiểu số hay còn gọi dân tộc có số dân ít (có thể từ hàng trăm, hàng nghìn cho
đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong
đó có một dân tộc có số dân đông nhất. Trong các quốc gia có nhiều thành
phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ý thức về tổ quốc mình
sinh sống và ý thức về dân tộc mình. Những DTTS có thể cư trú tập trung
hoặc rải rác, xen kẽ, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều