Công tác xã hội nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân tại huyện lương sơn, tỉnh hòa bình ( Luận văn thạc sĩ) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ THU HOÀI

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI PHỤ NỮ NGHÈO
ĐƠN THÂN TẠI HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 8760101

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙI THỊ MAI ĐÔNG

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi – Bùi Thị Thu
Hoài, học viên cao học khóa 2016 - 2018, chuyên ngành Công tác xã hội, Học viện
Khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của
TS. Bùi Thị Mai Đông, Học viện Phụ nữ.
Những kết luận trong luận văn này là trung thực, chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học.

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thu Hoài


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHYT

Bảo hiểm y tế

CTXH

Công tác xã hội

CTXHN

Công tác xã hội nhóm

LHPN

Liên hiệp phụ nữ

NCT

Người cao tuổi

NĐPV

Người được phỏng vấn

NHCS

Ngân hàng chính sách

Bảng 4. Trình độ của cán bộ, nhân viên làm công tác xã hội ...................................48
Bảng 5. Các tổ chức hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân vay vốn ...................................53
Bảng 6. Số buổi sinh hoạt các tổ chức mà phụ nữ nghèo đơn thân tham gia ...........56
Bảng 7. Nội dung sinh hoạt nhóm mà phụ nữ nghèo đơn thân tham gia trên địa bàn
huyện Lương Sơn năm 2017 .....................................................................................57


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói vẫn là tình trạng mang tính toàn cầu và đang là hiện tượng bức
xúc hiện nay, nó tồn tại ở mọi quốc gia, châu lục và không trừ một đất nước nào.
Bước sang thế kỷ XXI, kinh tế thế giới ngày càng phát triển tình trạng đói đã không
còn, tuy nhiên tình trạng nghèo vẫn còn tồn tại, cuộc sống nghèo khổ của một số bộ
phận người dân không theo kịp sự phát triển kinh tế của xã hội. Số hộ nghèo cũ thì
tái nghèo, hộ cận nghèo rơi vào nghèo dẫn tới tỷ lệ hộ nghèo tăng cao, đặc biệt là
phụ nữ nghèo đơn thân.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một
trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc đói. Vấn đề công
bằng xã hội - vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóa đói giảm
nghèo đã được Đảng ta luôn quan tâm chú ý. Năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước. So với công cuộc cái cách và chuyển đổi từ kinh tế
kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường ở các quốc gia khác, đổi mới ở nước ta có
những đặc thù riêng. Vì vậy, nó đã mang lại những thay đổi sâu sắc về nhiều mặt trong
đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đất nước. Trong những năm qua Đảng và
Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách giúp người dân xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên,
thực tế hiện nay số hộ nghèo vẫn còn nhiều, tình trạng tái nghèo thường xuyên diễn ra,
khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn rộng, chênh lệch giàu nghèo giữa các khu
vực, giữa các dân tộc còn cao, xuất phát từ nhiều nguyên nhân nghèo khác nhau, số hộ
phụ nữ nghèo cao, đặc biệt càng khó khăn hơn nữa khi họ là những phụ nữ nghèo đơn
thân… phụ nữ nghèo đơn thân không chỉ nghèo đơn thuần về về vật chất mà tinh thần

với phụ nữ nghèo đơn thân tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu Bài viết “Gender, poverty and globalization in India” của
tác giả Pande R. (2007) đề cập đến mối liên quan giữa giới, nghèo đói và toàn cầu
hóa. Tác giả cho rằng tại Ấn Độ quá trình toàn cầu hóa đã gây ra sự bất bình đẳng
trong phân phối các nguồn lực theo địa vị, giới và dòng tộc. Phụ nữ nghèo ở khu
vực nông thôn và trong các khu vực phi chính thức bị ảnh hưởng nặng nề nhất do
các làn sóng chuyển đổi kinh tế gần đây. [23]
Bài viết “Gender earnings and poverty reduction: post - communist
Uzbekistan” của tác giả Bhat B.A (2011) đề cập đến vấn đề thu nhập theo giới và
xóa đói giảm nghèo. Trong bài viết này, tác giả chỉ ra rằng ở Uzbekistan, phụ nữ có
ít của cải, địa vị xã hội, quyền lực và cơ hội để tự khẳng định mình so với đàn ông
có cùng vị trí xã hội. Quá trình nữ hóa nghèo đói ở Trung Á và Uzbekistan liên

2


quan mật thiết với những hạn chế về văn hóa và thể chất. Chính điều này tạo ra bức
trần cản trở sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế. [22]
Cũng đề cập đến vấn đề phụ nữ nghèo nhưng tác giả Allahdadi F. (2011)
trong bài viết “Towards rural women’s empowerment and poverty reduction in
Iran” lại cung cấp một cách tiếp cận về trao quyền cho phụ nữ nông thôn trong hoạt
động giảm nghèo tại Iran. Nghiên cứu này đã khẳng định đóng góp to lớn của phụ
nữ trong công cuộc XĐGN ở nhiều vùng nông thôn tại các nước đang phát triển.
Tác giả đã chỉ ra rằng, việc trao quyền cho phụ nữ nông thôn bị giới hạn bởi những
rào cản văn hóa, hạn chế họ tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế. Những đặc điểm
văn hóa đã gây ra những hạn chế rất nghiêm trọng đối với sự tự chủ, đi lại, và các
loại hình sinh kế sẵn có dành cho phụ nữ. [20]

của phụ nữ đơn thân.[3,71]
Theo Báo cáo đề dẫn hội thảo “Công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em: kinh
nghiệm của một số quốc gia”, tác giả Trần Quang Tiến – Giám đốc Học viện Phụ
nữ Việt Nam có nêu: “Tình trạng nghèo đói vẫn đang là vấn đề toàn cầu, trong đó
phần đông người nghèo là phụ nữ và trẻ em gái. Thống kê của Liên Hợp Quốc cho
thấy số lượng phụ nữ sống trong nghèo khổ không giảm đi mà tăng thêm nhiều do
suy thoái kinh tế, thiên tai, biến đổi khí hậu và chiến tranh ở một số nước khu vực
Trung Đông. Ở Việt Nam, tình trạng nghèo đói đã có sự cải thiện đáng kể nhờ nỗ
lực của Chính phủ, các tổ chức quốc tế và trong nước thông qua triển khai các
chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất. Mặc dù vậy, phụ nữ,
nhất là phụ nữ đơn thân vẫn có tỷ lệ nghèo đói cao hơn” .[11]
Cũng nghiên cứu ở khía cạnh chuyên nghiệp hóa các dịch vụ CTXH nhưng
tác giả Hà Thị Thư (2016) lại nghiên cứu trên nhóm đối tượng yếu thế. Bài viết “Sự
chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế” của
tác giả một lần nữa khẳng định nhu cầu dịch vụ CTXH ở Việt Nam ngày càng cao.
Tác giả cũng đã phân tích vai trò của dịch vụ CTXH với nhóm đối tượng yếu thế và
chỉ ra hai khía cạnh của sự chuyên nghiệp là “con người chuyên nghiệp” và “môi
trường chuyên nghiệp” [17].
Phát biểu tại diễn đàn “Bình đẳng giới giảm nghèo bền vững”, Chủ nhiệm
Ủy ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai ngoài việc điểm lại những thành tích, nỗ
lực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo cũng như bình đẳng giới cũng đã cho rằng:
“Phụ nữ thường phải gánh chịu ảnh hưởng của nghèo đói nhiều hơn nam giới và
chính họ là những người nghèo nhất trong số những người nghèo” [9].
Một số nghiên cứu khác như “Nghiên cứu các mô hình giảm nghèo của các
đối tác Quốc tế ở Việt Nam”. Nghiên cứu về “Thực trạng hoạt động hỗ trợ việc làm
cho phụ nữ nghèo tại Yên Bái – tiếp cận theo hướng nâng cao năng lực”. Các tác
giả: Nguyễn Trung Hải, Nguyễn Thị Liên, Vũ Thị Giang, Nguyễn Tuấn Anh, Võ

4


- Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp (cán bộ Lao động – Thương binh
& xã hội) và bán chuyên nghiệp (cán bộ các đoàn thể)
- Lãnh đạo đảng, chính quyền, các ban ngành

5


Luận văn đầy đủ ở file:Luận văn Full

















Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status