Công tác xã hội nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân tại huyện lương sơn, tỉnh hòa bình - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ THU HOÀI

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI PHỤ NỮ NGHÈO
ĐƠN THÂN TẠI HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 8760101

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙI THỊ MAI ĐÔNG

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi – Bùi Thị Thu
Hoài, học viên cao học khóa 2016 - 2018, chuyên ngành Công tác xã hội, Học viện
Khoa học xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của
TS. Bùi Thị Mai Đông, Học viện Phụ nữ.
Những kết luận trong luận văn này là trung thực, chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học.

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thu Hoài


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHYT

Bảo hiểm y tế

CTXH

Công tác xã hội

CTXHN

Công tác xã hội nhóm

LHPN

Liên hiệp phụ nữ

NCT

Người cao tuổi

NĐPV

Người được phỏng vấn

NHCS

Ngân hàng chính sách

Bảng 4. Trình độ của cán bộ, nhân viên làm công tác xã hội ...................................48
Bảng 5. Các tổ chức hỗ trợ phụ nữ nghèo đơn thân vay vốn ...................................53
Bảng 6. Số buổi sinh hoạt các tổ chức mà phụ nữ nghèo đơn thân tham gia ...........56
Bảng 7. Nội dung sinh hoạt nhóm mà phụ nữ nghèo đơn thân tham gia trên địa bàn
huyện Lương Sơn năm 2017 .....................................................................................57


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói vẫn là tình trạng mang tính toàn cầu và đang là hiện tượng bức
xúc hiện nay, nó tồn tại ở mọi quốc gia, châu lục và không trừ một đất nước nào.
Bước sang thế kỷ XXI, kinh tế thế giới ngày càng phát triển tình trạng đói đã không
còn, tuy nhiên tình trạng nghèo vẫn còn tồn tại, cuộc sống nghèo khổ của một số bộ
phận người dân không theo kịp sự phát triển kinh tế của xã hội. Số hộ nghèo cũ thì
tái nghèo, hộ cận nghèo rơi vào nghèo dẫn tới tỷ lệ hộ nghèo tăng cao, đặc biệt là
phụ nữ nghèo đơn thân.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một
trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc đói. Vấn đề công
bằng xã hội - vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóa đói giảm
nghèo đã được Đảng ta luôn quan tâm chú ý. Năm 1986, Việt Nam đã thực hiện công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước. So với công cuộc cái cách và chuyển đổi từ kinh tế
kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường ở các quốc gia khác, đổi mới ở nước ta có
những đặc thù riêng. Vì vậy, nó đã mang lại những thay đổi sâu sắc về nhiều mặt trong
đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đất nước. Trong những năm qua Đảng và
Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách giúp người dân xóa đói giảm nghèo, tuy nhiên,
thực tế hiện nay số hộ nghèo vẫn còn nhiều, tình trạng tái nghèo thường xuyên diễn ra,
khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn rộng, chênh lệch giàu nghèo giữa các khu
vực, giữa các dân tộc còn cao, xuất phát từ nhiều nguyên nhân nghèo khác nhau, số hộ
phụ nữ nghèo cao, đặc biệt càng khó khăn hơn nữa khi họ là những phụ nữ nghèo đơn
thân… phụ nữ nghèo đơn thân không chỉ nghèo đơn thuần về về vật chất mà tinh thần

với phụ nữ nghèo đơn thân tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu Bài viết “Gender, poverty and globalization in India” của
tác giả Pande R. (2007) đề cập đến mối liên quan giữa giới, nghèo đói và toàn cầu
hóa. Tác giả cho rằng tại Ấn Độ quá trình toàn cầu hóa đã gây ra sự bất bình đẳng
trong phân phối các nguồn lực theo địa vị, giới và dòng tộc. Phụ nữ nghèo ở khu
vực nông thôn và trong các khu vực phi chính thức bị ảnh hưởng nặng nề nhất do
các làn sóng chuyển đổi kinh tế gần đây. [23]
Bài viết “Gender earnings and poverty reduction: post - communist
Uzbekistan” của tác giả Bhat B.A (2011) đề cập đến vấn đề thu nhập theo giới và
xóa đói giảm nghèo. Trong bài viết này, tác giả chỉ ra rằng ở Uzbekistan, phụ nữ có
ít của cải, địa vị xã hội, quyền lực và cơ hội để tự khẳng định mình so với đàn ông
có cùng vị trí xã hội. Quá trình nữ hóa nghèo đói ở Trung Á và Uzbekistan liên

2


quan mật thiết với những hạn chế về văn hóa và thể chất. Chính điều này tạo ra bức
trần cản trở sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế. [22]
Cũng đề cập đến vấn đề phụ nữ nghèo nhưng tác giả Allahdadi F. (2011)
trong bài viết “Towards rural women’s empowerment and poverty reduction in
Iran” lại cung cấp một cách tiếp cận về trao quyền cho phụ nữ nông thôn trong hoạt
động giảm nghèo tại Iran. Nghiên cứu này đã khẳng định đóng góp to lớn của phụ
nữ trong công cuộc XĐGN ở nhiều vùng nông thôn tại các nước đang phát triển.
Tác giả đã chỉ ra rằng, việc trao quyền cho phụ nữ nông thôn bị giới hạn bởi những
rào cản văn hóa, hạn chế họ tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế. Những đặc điểm
văn hóa đã gây ra những hạn chế rất nghiêm trọng đối với sự tự chủ, đi lại, và các
loại hình sinh kế sẵn có dành cho phụ nữ. [20]

của phụ nữ đơn thân.[3,71]
Theo Báo cáo đề dẫn hội thảo “Công tác xã hội với phụ nữ và trẻ em: kinh
nghiệm của một số quốc gia”, tác giả Trần Quang Tiến – Giám đốc Học viện Phụ
nữ Việt Nam có nêu: “Tình trạng nghèo đói vẫn đang là vấn đề toàn cầu, trong đó
phần đông người nghèo là phụ nữ và trẻ em gái. Thống kê của Liên Hợp Quốc cho
thấy số lượng phụ nữ sống trong nghèo khổ không giảm đi mà tăng thêm nhiều do
suy thoái kinh tế, thiên tai, biến đổi khí hậu và chiến tranh ở một số nước khu vực
Trung Đông. Ở Việt Nam, tình trạng nghèo đói đã có sự cải thiện đáng kể nhờ nỗ
lực của Chính phủ, các tổ chức quốc tế và trong nước thông qua triển khai các
chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất. Mặc dù vậy, phụ nữ,
nhất là phụ nữ đơn thân vẫn có tỷ lệ nghèo đói cao hơn” .[11]
Cũng nghiên cứu ở khía cạnh chuyên nghiệp hóa các dịch vụ CTXH nhưng
tác giả Hà Thị Thư (2016) lại nghiên cứu trên nhóm đối tượng yếu thế. Bài viết “Sự
chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế” của
tác giả một lần nữa khẳng định nhu cầu dịch vụ CTXH ở Việt Nam ngày càng cao.
Tác giả cũng đã phân tích vai trò của dịch vụ CTXH với nhóm đối tượng yếu thế và
chỉ ra hai khía cạnh của sự chuyên nghiệp là “con người chuyên nghiệp” và “môi
trường chuyên nghiệp” [17].
Phát biểu tại diễn đàn “Bình đẳng giới giảm nghèo bền vững”, Chủ nhiệm
Ủy ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai ngoài việc điểm lại những thành tích, nỗ
lực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo cũng như bình đẳng giới cũng đã cho rằng:
“Phụ nữ thường phải gánh chịu ảnh hưởng của nghèo đói nhiều hơn nam giới và
chính họ là những người nghèo nhất trong số những người nghèo” [9].
Một số nghiên cứu khác như “Nghiên cứu các mô hình giảm nghèo của các
đối tác Quốc tế ở Việt Nam”. Nghiên cứu về “Thực trạng hoạt động hỗ trợ việc làm
cho phụ nữ nghèo tại Yên Bái – tiếp cận theo hướng nâng cao năng lực”. Các tác
giả: Nguyễn Trung Hải, Nguyễn Thị Liên, Vũ Thị Giang, Nguyễn Tuấn Anh, Võ

4


- Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp (cán bộ Lao động – Thương binh
& xã hội) và bán chuyên nghiệp (cán bộ các đoàn thể)
- Lãnh đạo đảng, chính quyền, các ban ngành

5


- Người dân địa phương (bao gồm cả nam và nữ)
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: địa bàn huyện Lương sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Về thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 12/2017 đến tháng 02/2018. Các số
liệu khảo sát được thu thập trong các văn bản, tài liệu, báo cáo của địa phương trong
3 năm trở lại đây (2015- 2016- 2017).
- Về đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng những khó
khăn, nhu cầu của phụ nữ nghèo đơn thân, đi sâu nghiên cứu các hoạt động công tác
xã hội nhóm đối với phụ nữ nghèo đơn thân và những yếu tố ảnh hưởng đến quá
trình trợ giúp nhóm đối tượng này.
- Về khách thể nghiên cứu: Số lượng khách thể là phụ nữ nghèo đơn thân tham gia
khảo sát được giới hạn tại xã NhuậnTrạch và thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực tế về phụ nữ
nghèo đơn thân, nhu cầu của phụ nữ nghèo đơn thân trên cơ sở thực tiễn để đúc rút
lý luận và những đề xuất thực tiễn, hoạch định chính sách.
Nghiên cứu vấn đề trong hệ thống: hệ thống lý thuyết liên quan trực tiếp, các yếu tố
liên quan: Dịch vụ trợ giúp, hệ thống chính sách, khả năng của phụ nữ nghèo đơn thân …
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu
Tác giả sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu,
tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những

làm rõ và chính xác hơn những thông tin đã thu thập được bằng bảng hỏi và qua
các cuộc phỏng vấn sâu.
-

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
Tác giả đã vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm để hỗ trợ một nhóm

PNNĐT gồm 6 chị tại 01 xã, 01 thị trấn; Thông qua các buổi làm việc nhóm, sự
tương tác giữa các thành viên trong nhớm sẽ giúp PNNĐT thay đổi nhận thức, thái
độ, hành vi; nâng cao năng lực, tự giải quyết các vấn đề mà họ đang gặp phải.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu góp phần bổ sung
và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về CTXH nhóm nói chung, CTXH nhóm đối
với PNNĐT nói riêng, như: khái niệm, mục đích của CTXH đối với PNNĐT, tiến
trình CTXH nhóm với PNNĐT; vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH nhóm đối
với PNNĐT. Thông qua nghiên cứu này, có thể nhìn nhận về CTXH nhóm đối với
PNNĐT từ góc độ khoa học, mô tả, đánh giá vấn đề bằng những lý thuyết khoa học
liên quan ngành CTXH. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tư liệu tham
khảo cho nghiên cứu về sau trong lĩnh vực này.

7


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực trạng CTXH nhóm đối với PNNĐT từ thực tiễn
huyện Lương Sơn, đặc biệt, kết quả thử nghiệm ứng dụng phương pháp CTXH
nhóm đối với PNNĐT đã góp phần khẳng định CTXH nhóm đối với PNNĐT là
hoạt động mang tính chuyên nghiệp, đòi hỏi NVCTXH phải có những kiến thức
nhất định về nhóm, về PNNĐT; có các kỹ năng làm việc nhóm mới có thể giúp họ

tính trùng hợp với bản dạng giới, hoặc có các đặc điểm giới tính mà không phải là
nam cũng không phải là nữ (người lưỡng tính).
Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn
bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính
được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và
chức năng giới tính hoạt động bình thường.
Phụ nữ/nữ giới là từ dùng để phân biệt với đàn ông/nam giới, là một trong hai
giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người. Nhìn theo khía cạnh sinh
học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái, với bộ nhiễm sắc thể giới tính XX.
Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "phụ nữ", đều chỉ một
nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn. Một số từ tiêu
biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái...
Trong đề tài này, phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ một, một nhóm hay tất cả
nữ giới đã trưởng thành hoặc được cho là đã trưởng thành về mặt xã hội.
- Khái niệm phụ nữ nghèo:
Theo Tuyên bố Liên Hợp Quốc tháng 6/2008: Nghèo là sự phủ nhận quyền lựa
chọn và cơ hội, là sự vi phạm nhân phẩm con người; Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu
để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không đủ ăn, đủ

9


mặc, không được đi học, không được khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc
không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo
cũng có nghĩa là không an toàn, dễ bị bạo hành, không có quyền, bị loại trừ, phải sống
ngoài lề xã hội hoặc dễ gặp rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và vệ sinh.
Vì có nhiều khía cạnh được đề cập trong khái niệm nghèo nên tùy theo góc quan
sát cũng như quan điểm của mỗi tổ chức, cá nhân nghiên cứu nghèo mà có cách tiếp cận
khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm về nghèo đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu
của người nghèo đó là: có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân

thành hai nhóm chính: Phụ nữ đã kết hôn bao gồm những người phụ nữ rơi vào tình
trạng góa bụa, ly hôn, ly thân hoặc thiếu vắng chồng trong một thời gian dài. Phụ nữ
chưa kết hôn gồm những người phụ nữ chưa từng lấy chồng và sẽ không bao giờ lấy
chồng, kể cả họ đang sống độc thân hay đã từng sinh con hoặc nhận con nuôi [13].
Trong đề tài này, phụ nữ đơn thân bao gồm cả hai dạng nói trên: Phụ nữ đã
kết hôn nhưng đã ly hôn hoặc chồng chết, hoặc chồng không sống cùng trong một
thời gian dài và phụ nữ chưa từng kết hôn nhưng không muốn/không thể kết hôn,
trong đó có cả những phụ nữ có con và không có con.
- Phụ nữ nghèo đơn thân:
Khái niệm phụ nữ nghèo đơn thân trong đề tài này là những phụ nữ mang hai
đặc tính: nghèo và đơn thân. Đó là những phụ nữ không có chồng hoặc chồng chết,
hoặc bỏ chồng, không sống chung với chồng; có mức sống thấp hơn mức sống trung
bình của cộng đồng dân cư, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối
thiểu dành cho con người và thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển
của cộng đồng”.
Nói về phụ nữ nghèo đơn thân, trong luận văn thạc sĩ “Công tác xã hội cá
nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”, tác
giả Vũ Thị Phương Hảo có mô tả:“Phụ nữ nghèo đơn thân là những người nghèo có
học vấn thấp, nuôi con một mình, có hoặc không có việc làm ổn định, gặp rất nhiều
khó khăn trong cuộc sống và sinh hoạt”. Tác giả cũng bình luận: “Đa số phụ nữ
nghèo đơn thân là những người lao động chân tay, làm nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và có chuyên môn thấp. Họ là những người ít có cơ hội tiếp cận với khoa học
công nghệ, tín dụng và đào tạo, nếu có được tiếp xúc thì e dè, xấu hổ, mặc cảm, tự ti.
Ngoài ra, phụ nữ nghèo đơn thân còn gặp nhiều trắc trở trong cuộc sống gia đình,
nhất là khi quyết định công việc một cách đơn lẻ. Ngoài xã hội họ là người mặc cảm,
tự ti, dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi, họ có ít cơ hội thăng tiến mặc dù công
việc với mức độ và cường độ ngang nam giới và bị trả lương thấp” [4,18].

11


mặc cảm, nên thường ít tiếp xúc với mọi người xung quanh. Nếu phải tham gia thì họ
cũng rất e ngại khi phải trình bày ý kiến, quan điểm của mình.

12


Việc chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ của chị em phụ nữ nghèo đơn thân hầu
như là rất ít, họ chủ động giải quyết công việc theo ý kiến của mình hoặc là buông
xuôi, mặc cho sự việc muốn ra sao thì tùy. Có số ít tìm kiếm sự giúp đỡ của cá nhân
nhưng hầu như cũng k tìm được lời giải thích rõ ràng, bởi người mà họ tìm kiếm cũng
thuộc hoàn cảnh như họ và họ không đưa ra được lời khuyên cũng như chính kiến
giành cho người khác.
Bên cạnh tâm lý tự ti, mặc cảm thì một số hộ phụ nữ nghèo đơn thân cũng có
tâm lý cam chịu, buông xuôi, thiếu nghị lực và cố gắng cần thiết để vươn lên. Họ lại
thường xuyên phải đối mặt với các rủi ro, do vậy họ luôn tìm cách né tránh với những
vấn đề mang tính rủi ro cao.
1.1.2.2. Đặc điểm thể chất
Nhà danh y lớn của Việt Nam thế kỷ 18 - Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác
đã viết trong cuốn sách:"Nội kim yếu” đã chỉ rằng: "Thể chất và tinh thần luôn luôn
khang kiện, mà tận hưởng hết tuổi thọ, ngoài trăm tuổi mới có thể chết". Tư tưởng đó
của ông thể hiện cách xem xét sức khoẻ của con người trong mối quan hệ hữu cơ
giữa thể chất và tinh thần. Cơ thể khoẻ mạnh thì tinh thần mạnh mẽ. Cả thể chất và
tinh thần khoẻ mạnh thì tuổi thọ của con người cũng sẽ dài lâu. Phụ nữ nghèo đơn
thân có hoàn cảnh éo le, tâm trạng mang nhiều yếu tố tiêu cực, lại khó khăn về kinh
tế, nhà cửa tạm bợ, không có thu nhập hoặc thu nhập thấp, nhiều người phải bươn trải
kiếm sống từng ngày, ít có điều kiện được khám chữa bệnh nên đa số họ có sức khỏe
yếu; nhiều người mắc các bệnh mãn tính[25].
Trong Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài: “Tâm trạng của phụ nữ
làm mẹ đơn thân trong giai đoạn hiện nay” của Tiến sĩ Bùi Thị Mai Đông, có nêu:
“Không chỉ là những khó khăn về vật chất và tinh thần, những người mẹ đơn thân

bênh;,... Họ rất cần được sự hỗ trợ từ phía cộng đồng, xã hội để thoát nghèo.
1.1.3. Những khó khăn và nhu cầu cơ bản của phụ nữ nghèo đơn thân
1.1.3.1. Những khó khăn của phụ nữ nghèo đơn thân
- Khó khăn về việc làm, thu nhập: Đa số PNNĐT thất nghiệp hoặc không có
nghề nghiệp ổn định, chủ yếu là thu nhập thấp, lao động bằng chân tay. Nhiều người
làm thuê, không công việc ổn định, làm nghề thủ công, mây tre đan, thu nhập hàng
tháng thấp, bấp bênh, không đủ trang trải cho sinh hoạt hằng ngày.
- Khó khăn về nơi ở: Hầu hết PNNĐT có nhà cửa tạm bợ, hoặc có nhà nhưng
vật liệu chính thường lâu đời, cũ kỹ, tường không được chắc chắn và mái dột.
- Khó khăn về sức khỏe thể chất, tinh thần: PNNĐT thường có sức khỏe yếu, ít
được chăm sóc sức khỏe y tế, bởi vậy có nhiều bệnh mãn tính. Sức khỏe tinh thần bị
ảnh hưởng từ những khó khăn do hoàn cảnh bản thân, thường mặc cảm, tự ti, xấu hổ
về bản thân. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử của cộng đồng: xã hội luôn coi thường
những người không có chồng, không chồng mà chửa, chửa hoang,... nên làm cho
PNNĐT luôn có tâm lý mặc cảm tự ty, tội lỗi.

14


- Thiếu thốn tình cảm: PNNĐT thường sống một mình hoặc sống cùng cha mẹ,
con cái, tuy nhiên họ thiếu một chỗ dựa vững chắc là bờ vai của người chồng, họ
không có ai để tâm sự, chia sẻ niềm vui nỗi buồn cũng như những gánh nặng trong
cuộc đời mà họ gặp phải.
- Khó khăn trong tham gia các hoạt động xã hội: PNNĐT ít có điều kiện tham
gia các hoạt động xã hội, bên cạnh đó, do mặc cảm, sống khép mình nên họ ngại giao
tiếp, không mạnh dạn và ít tham gia vào các hoạt động tập thể và nếu có tham gia thì
họ cũng tham lấy lệ và không có ý kiên riêng của mình.
1.1.3.2. Nhu cầu cơ bản của phụ nữ nghèo đơn thân
Đặc trưng của phụ nữ nghèo đơn thân là khó khăn về kinh tế, việc làm không
ổn định, thu nhập bấp bênh, vì vậy, nhu cầu cơ bản nhất của họ là được hỗ trợ để có

các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự
tương tác của con người với môi trường sống” [ 19,4].
CTXH là một nghề thúc đẩy xã hội thay đổi, bằng cách giải quyết vấn đề trong
mối quan hệ giữa người với người, thúc đẩy trao quyền và giải phóng con người.
Mục đích cuối cùng của CTXH là đảm bảo hạnh phúc cho mọi người. Người làm
CTXH sử dụng lý thuyết hành vi con người và các hệ thống xã hội để can thiệp vào
những thời điểm khi con người tương tác với môi trường sống của mình. [19,2].
Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH: “Công tác xã hội là một ngành khoa
học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội của
mình có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất
cho con người”, là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề giúp người dân giải
quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng”.
Trong đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm Công tác xã hội của tác giả Bùi
Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ
giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn
lực và dịch vụ nhằm giúp cánhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa
các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”. [8,63].
CTXH được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào vô số các
tương tác phức hợp giữa con người và môi trường của họ. Sứ mạng của CTXH là tạo
ra năng lực giúp con người phát triển tối đa tiềm năng, làm phong phú đời sống và
ngăn ngừa các trục trặc. CTXH chuyên nghiệp tập trung vào quá trình giải quyết các
vấn đề và sự thay đổi. Do đó, NVCTXH là tác nhân đổi mới trong xã hội và đời sống

16


các cá nhân, gia đình, cộng đồng. CTXH là một hệ thống liên kết các giá trị, lý thuyết
và thực hành.
Có thể nói, CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự


Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2008) cho rằng: CTXH nhóm là một phương
pháp can thiệp chính của CTXH; là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên
trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia
sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm
nhằm đạt được mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích
của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động CTXH
nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối
người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội, có thể là thành viên của nhóm) và đặc
biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là
thành viên của nhóm). [7,28-29].
Luận văn này sử dụng khái niệm Công tác xã hội nhóm của tác giả Hà Thị
Thư (2012): “Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của công tác xã hội nhằm
trợ giúp các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường hoạt động tương
tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt
động nhóm để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục
đích của cá nhân thành viên”. [16,61-62].
Nhóm trong CTXH bao gồm những thành viên có cùng hoàn cảnh khó khăn
nhất định, có chung vấn đề và nhu cầu cần được giải quyết, đáp ứng như nhóm phụ
nữ bị bạo hành, nhóm phụ nữ bị buôn bán; nhóm người có HIV/AIDS, nhóm trẻ em
lang thang hay nhóm trẻ bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, Vì thế CTXH viên
liên kết họ lại với nhau vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống. Một
trong những yếu tố quan trọng của CTXH nhóm đó chính là nơi sinh hoạt nhóm. Ở
nơi này, các hoạt động nhóm được thực hiện giúp cho các thành viên nhóm được thỏa
mãn nhu cầu cá nhân của mình. Thông qua môi trường sinh hoạt nhóm, các thành
viên nhóm được đáp ứng nhu cầu giao tiếp nhóm. Nhiệm vụ của CTXH viên trong
CTXH nhóm là tạo môi trường thuận lợi cho các thành viên nhóm có cơ hội được thể
hiện tối đa tiềm năng phát triển năng lực, được bộc lộ cảm xúc và diễn tả cảm nghĩ,
suy tư của mình. Giúp họ thay đổi thái độ, hành vi, cảm xúc của chính mình và hiểu
được người khác. Giúp họ tăng cường sự gắn bó, chấp nhận nhau, tạo sự tương tác

+ Nhóm trị liệu: Nhằm giúp cho PNNĐT trong nhóm giải tỏa cảm xúc tiêu cực,
vượt qua khủng hoảng, tổn thương tâm lý, từ đó ổn định tâm lý, có suy nghĩ, nhận
thức và hành vi tích cực.

19


+ Nhóm phát triển: Nhằm cung cấp cơ hội và môi trường để cho các thành viên
nhận thức mở mang và thay đổi suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của mình và những
người khác.
+ Nhóm tự giúp: Tạo cơ hội cho thân chủ đỡ nhau bằng cách cho vay tiền, giúp
đỡ nhau bằng ngày công cụ thể như cỏ lúa, làm vườn, dỡ khoai, hỗ trợ nhau con
giống,… tạo cơ hội để chị em tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng vượt qua khó khăn
trong cuộc sống. Cùng hoàn cảnh và đồng cảm giúp chị em gần gũi, cảm thông, chia
sẻ với nhau nhiều hơn, hiệu quả trợ giúp cao hơn.
+ Nhóm giải trí: với nhóm giải trí này thân chủ có cơ hội được vui chơi, giải tỏa
sự căng thẳng về tâm lý bằng các hoạt động cụ thể như liên hoan văn nghệ, các chị
được tham gia ca hát, ăn bánh kẹo,… Giúp cho thân chủ có cơ hội được giao lưu,
quan tâm chia sẻ và giúp đời sống tinh thần phong phú hơn.
1.2.1.4. Khái niệm công tác xã hội nhóm đối với PNNĐT
Từ việc phân tích các khái niệm công cụ nghiên cứu của đề tài đã trình bày ở
trên, trong luận văn này, tác giả đưa ra khái niệm công cụ công tác xã hội nhóm đối
với PNNĐT như sau: “Công tác xã hội nhóm đối với PNNĐT là phương pháp của
công tác xã hội nhằm trợ giúp những PNNĐT trong nhóm được tạo cơ hội và môi
trường hoạt động tương tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung
khi tham gia vào các hoạt động của nhóm để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và
hướng đến giải quyết những mục tiêu của cá nhân thành viên, giải tỏa những vấn đề
khó khăn về tâm lý, đáp ứng nhu cầu cần trợ giúp trong đời sống của PNNĐT”.
1.2.2. Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của công tác xã hội nhóm đối với PNNĐT
1.2.2.1. Mục đích của công tác xã hội nhóm đối với PNNĐT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status