Sau đẻ nếu lượng máu mất đi trên 300ml hoặc đã gây hậu quả sốc
do mất máu thì khi ấy gọi là băng huyết và trở thành tai biến rất nguy
hiểm. Chảy máu sau đẻ là những chảy máu cấp tính ngay sau khi đẻ,
rau còn trong buồng tử cung hoặc rau đã sổ ra ngoài. Chảy máu sau
đẻ hiện nay vẫn là một tai biến sản khoa hay gặp nhất và vẫn còn là
một trong những nguyên nhân chính gây tử vong cho sản phụ. Các
nguyên nhân thường gặp của chảy máu sau đẻ: đờ tử cung, chấn
thương đường sinh dục (đặc biệt là vỡ tử cung), rối loạn bong rau, sổ
rau và rối loạn đông máu.
1. ĐỜ TỬ CUNG
Đờ tử cung là dấu hiệu cơ tử cung không co chặt lại thành khối an
toàn sau khi rau đã sổ để thực hiện tắc mạch sinh lý, gây chảy máu.
Trên lâm sàng đờ tử cung có hai mức độ:
-Đờ tử cung có hồi phục: Cơ tử cung giảm trương lực sau đẻ nhưng
còn đáp ứng với các kích thích cơ học, hoá học.
-Đờ tử cung không hồi phục: Cơ tử cung không còn khả năng đáp
ứng với bất kỳ kích thích nào.
1.1. Nguyên nhân
-Do chất lượng cơ tử cung yếu do đẻ nhiều lần, tử cung có sẹo mổ, u
xơ tử cung, tử cung dị dạng.
-Do tử cung bị căng giãn quá mức vì đa thai, đa ối, thai to.
-Do chuyển dạ kéo dài.
-Do nhiễm khuẩn ối.
-Do còn sót rau, màng rau trong buồng tử cung (đờ tử cung thứ
phát).
-Do sản phụ suy nhược, thiếu máu, tăng huyết áp, nhiễm độc thai
nghén.
1.2. Triệu chứng lâm sàng
-Chảy máu ngay sau khi sổ rau là triệu chứng phổ biến nhất, máu từ
chỗ bám của rau chảy ra ứ đọng lại trong buồng tử cung rồi mỗi khi
có cơn co tử cung lại đẩy ra ngoài một khối lượng máu. Nếu tử cung
âm hộ, âm đạo, máu tụ đường sinh dục, rách cổ tử cung, vỡ tử
cung): Chấn thương đường sinh dục là một nguyên nhân gây chảy
máu từ chỗ rách và xảy ra sau khi sổ thai. Nếu không xử trí kịp thời
làm mất máu nặng gây đờ tử cung và rối loạn đông máu.
2.1. Nguyên nhân
-Do đỡ đẻ không đúng kỹ thuật
-Do đẻ nhanh
-Do thai to
-Do cổ tử cung chưa mở hết mà sản phụ đã rặn
-Do can thiệp thủ thuật không đúng chỉ định và không đủ điều kiện.
2.2. Triệu chứng và chẩn đoán
-Chảy máu xuất hiện ngay sau khi thai sổ, lượng máu mất nhiều hay
ít tuỳ tổn thương nặng hay nhẹ.
-Máu đỏ tươi chảy rỉ rả hay thành dòng, liên tục.
-Tử cung co tốt nhưng máu vẫn chảy ra ngoài âm hộ, máu đỏ tươi.
-Chẩn đoán rách ở tầng sinh môn và âm hộ dễ dàng qua quan sát
(rách ở tiền đình chảy máu nhiều).
-Chẩn đoán rách âm đạo bằng tay nhưng đặt van quan sát thì tốt
hơn.
-Chẩn đoán rách cổ tử cung và cùng đồ bằng cách cho 2 ngón tay
theo bề ngoài cổ tử cung, sát tới cùng đồ, nếu có chỗ khuyết là rách
cổ tử cung. Nhưng muốn chính xác là phải dùng van và 2 kẹp hình
tim kéo từng đoạn cổ tử cung để quan sát tìm chỗ rách (quan sát
vòng quanh cổ tử cung).
2.3. Xử trí: Phải bóc rau nhân tạo và kiểm soát tử cung ngay sau khi
sổ thai để chẩn đoán.
-Xử trí theo nguyên tắc tiến hành song song cầm máu và hồi sức
chống sốc.
-Khâu phục hồi các vết rách rách bằng chỉ tự tiêu mũi rời (ở cổ tử
cung, cùng đồ và âm đạo) và khâu nhiều lớp ở chỗ rách tầng sinh
-Cho kháng sinh toàn thân: Amoxilin 250mg x 4viên/ngày x 7 ngày.
-Theo dõi tiếp tục mạch, huyết áp, chảy máu và co hồi tử cung.
-Hồi sức truyền máu nếu thiếu máu cấp.
-Tiếp tục theo dõi mạch, huyết áp, chảy máu và co hồi tử cung.
-Nếu còn ra máu cho thêm thuốc oxytocin tiêm bắp hoặc truyền tĩnh
mạch.
-Có thể khi cần, phải kiểm soát tử cung lại.
3.2. Rau không bong
3.2.1. Định nghĩa và phân loại
Đây là một bệnh hiếm gặp của rau (tỷ lệ 1/2000). Ở người đẻ nhiều
lần, nạo thai nhiều lần, tiền sử có viêm niêm mạc tử cung khi đẻ các
gai rau bám trực tiếp vào cơ tử cung không có lớp xốp của ngoại sản
mạc, có khi gai rau xuyên sâu vào chiều dày lớp cơ tử cung (giống
như các răng của một chiếc lược).
Người ta có thể phân biệt:
-Rau cài răng lược toàn phần: Toàn bộ bánh rau bám vào lớp cơ do
đó không bong ra được và không chảy máu.
-Rau cài răng lược bán phần: Chỉ một phần bánh rau bám sâu vào
cơ tử cung do đó bánh rau có thể bong một phần, gây chảy máu.
Lượng máu chảy ra nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tình trạng co rút của
lớp cơ tử cung và mức độ bong rau.
3.2.2. Triệu chứng lâm sàng
-Nếu là rau cài răng lược toàn phần: ít gặp, không chảy máu.
-Nếu là rau cài răng lược bán phần thì sau khi thai đã sổ 30 phút rau
không bong được, nhưng có chảy máu nhiều hay ít tuỳ theo diện rau
bong rộng hay hẹp.
-Chỉ có thể chẩn đoán chắc chắn dựa vào thử bóc rau không kết quả
hay chỉ bóc được một phần và máu chảy nhiều.
-Cần chú ý phân biệt với:
+Rau bám chặt: Trường hợp rau không bong do lớp xốp kém phát
sinh môn trước khi sổ đầu, tránh để rách. Khi có tổn thương đường
sinh dục cần thăm khám kỹ tìm ra chỗ rách và xử trí kịp thời.
-Theo dõi sát sản phụ 6 giờ đầu sau đẻ, đặc biệt là trong 2 giờ đầu
để phát hiện sớm các trường hợp chảy máu