Dạy học văn bản “ vợ chồng a phủ’’ của tô hoài bằng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát huy các kỷ năng, năng lực cho học sinh - Pdf 57

PHẦN I- MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Một trong những vấn đề cốt lõi của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi
với hành, lý luận gắn với thực tiễn, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học. Từ đó rèn luyện cho học sinh
năng lực vận dụng kiến thức nhằm giải quyết các vấn đề trong học tập và
trong thực tiễn
Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển kỷ năng,
năng lực của học sinh là phương hướng phù hợp với nhịp độ phát triển của
thời đại đổi mới của đất nước. Nắm được phương pháp trên và đưa nó ứng
dụng vào giảng dạy, học tập môn ngữ văn ở trường THPT đối với các nhà
quản lý giáo dục và đặc biệt đối với các giáo viên đứng lớp là điều hết sức
quan trọng để có thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kì hiện
đại.
Trong trường phổ thông, Ngữ văn là một môn học có đặc thù riêng, vừa
mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Dạy văn bản văn học là bằng
tài năng sư phạm của mình, giáo viên đưa học sinh hòa mình trong tác phẩm,
rung động với nó, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp
của tác phẩm. Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm và cả tâm hồn mình, học
sinh khám phá ý nghĩa từng câu, từng chữ, cảm nhận sức sống của từng hình
ảnh, hình tượng nhân vật, theo dõi diễn biến cốt truyện… làm cho văn bản
khô khan biến thành một thế giới sống động đầy sức cuốn hút. Trước đây để
làm được điều này, giáo viên chủ yếu thuyết giảng, học sinh chăm chú lắng
nghe, ghi chép. Giờ đây, người giáo viên phải là người biết thiết kế, tổ chức
các hoạt động để học sinh có thể tự chiếm lĩnh được kiến thức. Qua đó hình
thành cho học sinh những năng lực cần thiết: Năng lực thu thập thông tin liên
quan đến văn bản; Năng lực giải quyết các tình huống đặt ra trong các văn
1



2


động trải nghiệm chắc chắn sẽ làm cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn
hơn tạo niềm say mê tìm tòi, tư duy sáng tạo, từ đó phát triển năng lực học tập
và kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của mình.
Với những ý nghĩa và lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: Dạy học
văn bản “ Vợ chồng A Phủ’’ của Tô Hoài bằng các hoạt động trải nghiệm
sáng tạo nhằm phát huy các kỷ năng, năng lực cho học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đối với học sinh: Biết vận dụng kiến thức liên môn, tăng cường trải
nghiệm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học.
Đồng thời vận dụng được kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề nảy sinh
trong học tập cũng như trong thực tiễn cuộc sống.
- Đối với giáo viên: Thiết kế bài giảng sáng tạo, nâng cao hiệu quả bài
học là niềm say mê tiếp thêm sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ trồng người.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về lý luận dạy học trải nghiệm sáng tạo, tích hợp liên môn
và phát triển năng lực học sinh . Lấy tác phẩm làm đối tượng nghiên cứu
trong phạm vi bài “ Vợ chồng A Phủ ’’ của Tô Hoài.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Để thực hiện tốt vấn đề nghiên cứu tôi đã chọn học sinh khối 12 nơi
tôi công tác làm đối tượng nghiên cứu, chọn 2 lớp 12A2 ( lớp thực nghiệm)
và 12A10 (lớp đối chứng). Hai lớp được chọn làm đối tượng tham gia nghiên
cứu có những nét tương đồng về đặc điểm và trình độ.
- Lấy kết quả bài kiểm tra 15 phút để làm đối chứng (kết quả bài kiểm
tra ở phần phụ lục)
5. Giả thuyết khoa học
Dạy học văn bản “ Vợ chồng A Phủ ’’ của Tô Hoài theo định hướng

tạo, phát huy năng lực học sinh qua dạy học văn bản “ Vợ chồng A Phủ ’’ của
Tô Hoài.

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận.
1.1.Cơ sở pháp lí

4


Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về
phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý.
Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giảng viên với
kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải
tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.
Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày nay đòi hỏi
nguồn nhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng.
Nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của mỗi đơn
vị, doanh nghiệp nói riêng và của đất nước nói chung. Kiến thức và sự hiểu
biết về nguyên tắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, logíc tất yếu
đòi hỏi chất lượng đào tạo ngày càng phải tốt hơn. Một trong những định
hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính
hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.
Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực
và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của
người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà
trường.
Đổi mới PPDH môn ngữ văn ở trường THPT là kết quả của một quá
trình nghiên cứu, thực hiện kiên trì và được nghiệm thu. Khâu đột phá về chất

đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của
chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo
viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ
thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật
đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu
trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những
hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần
kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích
cực nhận thức của học sinh.
Việc đổi mới giáo dục Trung học dựa trên những đường lối, quan điểm
chỉ đạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính

6


sách và quan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục Trung học. Việc
đổi mới phương pháp dạy học cần phù hợp với những định hướng đổi mới
chung của chương trình giáo dục trung học.
Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo
dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn
bản:
– Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của
học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh.
– Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận

thân, đồng thời rèn cho các em thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm
năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy. Từ đây tạo
tiền đề để phát triển con người toàn diện trong bối cảnh phát triển của cách
mạng công nghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội
nhập quốc tế.
Những quan điểm, định hướng nêu trên là cơ sở lí luận và môi trường
pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới
phương pháp dạy học theo định hướng phát triển kỷ năng, năng lực người học
nói riêng.
1.2. Mục tiêu của dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
- Cung cấp, bồi dưỡng kiến thức về văn học cho học sinh
Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói
chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp. Đi vào cụ thể, môn
học Ngữ văn nhấn mạnh 3 mục tiêu chính sau:
+ Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ
thống về ngôn ngữ và văn học- trọng tâm là Tiếng Việt và Văn học Việt Nam ,

8


phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
+ Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng Tiếng Việt,
tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là
phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống.
+ Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình
yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự
cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho
học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn
trọng và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại"

tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng
tạo, phát huy các kỷ năng, năng lực của mình.
1.3.2. Khái niệm năng lực học sinh
Bộ Giáo dục Quebec Canada, trong cuốn Công nghệ Giáo dục kỹ thuật
và dạy nghề (nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch sang tiếng Việt), định nghĩa
năng lực là “khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kỹ năng
tương ứng với ngưỡng quy định.
Theo trường phái của Anh: “Năng lực giới hạn bởi ba yếu tố: Kiến thức,
kĩ năng, thái độ. Đây còn gọi là mô hình ASK”.
Theo trường phái của Mỹ: “Năng lực là bất kỳ yếu tố tâm lý của cá
nhân có thể giúp hoàn thành nhanh chóng công việc hay hoạt động nào đó
một cách hiệu quả”.
Các nhà tâm lí học Việt Nam cho rằng: “Năng lực là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một
hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao”. Người ta
cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn,
trong đó, năng lực chung là cốt lõi, là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng
để phát triển năng lực chuyên môn.
1.3.3. Khái niệm kỷ năng sống
Hiện nay chưa có một khái niệm nào thống nhất trên toàn thế giới về kĩ
năng sống, kĩ năng sốngđược tiếp cận theo nhiều quan điểm khác nhau.

10


Quan niệm rộng nhất là quan niệm do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và
Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) đưa ra, dựa trên cơ sở là bốn mục
tiêu cơ bản của việc học: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình –
Học để cùng chung sống. Dựa vào đó, UNESCO định nghĩa “Kĩ năng sống là
năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc

thức trải nghiệm sáng tạo.
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú
ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải
quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng
thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc
học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng
tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Các hoạt động cá
nhân, nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp học sinh huy động kiến
thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân, vừa xây dựng được ý thức hợp tác,
tinh thần học tập lẫn nhau.
Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn
học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển
năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Thực tế cho thấy, áp dụng phương pháp học này, học sinh tỏ ra rất hào
hứng với nội dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được bổ sung
nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả.
Môn Ngữ văn trong chương trình THPT có thể trải nghiệm sáng tạo
bằng nhiều hình thức:
- Có thể quan sát hình ảnh để trao đổi một vấn đề nào đó có liên quan
đến bài học, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi nhẹ nhàng.
- Một số hoạt động có thể yêu cầu học sinh đọc diễn cảm, kể chuyện,
ngâm thơ, hát hoặc vẽ tranh về chủ đề liên quan đến bài học. Các hoạt động
này trong một số trường hợp thiết kế thành cuộc thi nhằm tạo không khí sôi
nổi, hứng thú cho học sinh.
- Tổ chức hoạt động trải nghiệm bằng trò chơi, hoạt động tham quan
thực tế, sắm vai, hoạt động nhóm, ứng dụng giải quyết vấn đề thực tiễn.

12



Các chuyên gia giáo dục cũng khẳng định, hoạt động trải nghiệm sáng
tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà
giáo, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực
tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư
cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất
nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình.
Việc đưa hoạt động trải nghiệm, sáng tạo vào trong nhà trường như một
phương pháp dạy học góp phần khắc phục những tồn tại của chương trình
giáo dục hiện nay, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng đã
yêu cầu đa dạng hóa các hình thức học tập chú trọng các hoạt động trải
nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh.
Tăng cường hoạt động trải nghiệm sáng tạo, phát huy năng lực là giải
pháp có tính khả thi cao, có thể vận dụng trong bất kỳ điều kiện nào của nhà
trường, phương pháp này không chỉ hữu ích với học sinh mà còn nhẹ nhàng,
hiệu quả đối với giáo viên trong một tiết dạy. Đồng thời làm cho bài học thêm
sinh động tránh nhàm chán.HS cũng thay đổi nhận thức về di tích lịch sử.
Nhiều thầy cô giáo sau khi đưa học sinh của mình đi tham quan, đã khẳng
định: nhất định sẽ dẫn con đến di tích đó. Điều này cho thấy hoạt động trải
nghiệm sáng tạo của học sinh có tác động tích cực. Bản thân HS thông qua
cách làm clip đã biết lồng âm thanh, hình ảnh, phối cảnh, phối hình, tạo thoại.
Cách làm sáng tạo của học sinh nhiều khi khiến thầy cô ngạc nhiên vì khi giao
việc cho các em họ cũng không nghĩ các em làm được như vậy. Thế nhưng
thực tế học sinh đã làm được điều vượt hơn cả mong đợi của giáo viên.
Khi cho học sinh trải nghiệm sáng tạo, có những cái nhà trường không
có đủ điều kiện, thời gian để truyền đạt hết kiến thức khi học ở trên lớp,
nhưng thực tế trải nghiệm đã bổ sung cho các em. Các em trưởng thành cả về
trình độ và nhận thức, vốn sống. Bản thân các em rút ra được kinh nghiệm
14




sinh. Nội dung thông tin trong các văn bản đọc - hiểu hết sức phong phú, có
liên quan đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống và nhiều môn học khác, do vậy
tích hợp liên môn là một điều quan trọng và cần thiết, đồng thời cần giúp học
sinh có phương pháp đọc, khả năng tự tìm kiếm nguồn thông tin đa dạng của
cuộc sống.
Để đọc - hiểu văn bản, cần định hướng cho học sinh phải thực hiện các
nhiệm vụ sau:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối thông tin để tạo nên
những hiểu biết về văn bản.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
- Vận dụng những hiểu biết về văn bản đã học vào việc đọc các loại văn
bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
1.4.2. Định hướng tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy
môn Ngữ văn THPT.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp học sinh biết huy động kiến thức,
kỹ năng để tiếp nhận kiến thức, kỹ năng mới và vận dụng chúng vào hoạt
động thực tiễn. Thực tế cho thấy, áp dụng phương pháp học này, học sinh tỏ ra
rất hào hứng với nội dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp của học sinh được
bổ sung nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả.
Hoạt động trải nghiệm được tổ chức trong suốt tiến trình của bài học,
giáo viên cần xác định đúng mục đích, mức độ yêu cầu. Các hoạt động cá
nhân, nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp học sinh huy động kiến
thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân vừa xây dựng được ý thức hợp tác,
tinh thần học tập lẫn nhau.
Trong chương trình Ngữ văn THPT nói chung và Ngữ văn 11 nói
riêng, có rất nhiều tác phẩm có thể ứng dụng trải nghiệm sáng tạo, nhưng ở
phạm vi một sáng kiến, người viết chỉ nêu định hướng ở một tác phẩm để

Mỗi đơn vị kiến thức được hướng dẫn học theo một cấu trúc thống nhất
gồm các hoạt động, trong đó có hoạt động cá nhân, hoạt động cặp đôi, hoạt
động nhóm, hoạt động cộng đồng. Mỗi hoạt động được xây dựng với mục

17


tiêu, yêu cầu và phương pháp cụ thể. Các hoạt động này hỗ trợ, bổ sung cho
nhau trong suốt tiến trình bài học.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng nhận thức về nhiệm vụ tăng cường hoạt động trải
nghiệm sáng tạo, phát huy kỷ năng, năng lực học sinh.
Đối với giáo viên, việc rèn kỹ năng sống đã được nhà trường chỉ đạo
thực hiện song vẫn mang tính hình thức như chỉ thể hiện trên giáo án hoặc ở
các tiết dạy thao giảng. Học sinh chưa được giáo viên chú trọng rèn kỹ năng
sống thường xuyên. Vì vậy các em còn nhút nhát, thiếu tự tin, khi tham gia
các hoạt động tập thể các em bộc lộ rất rõ điểm yếu này. Các giáo viên đã có ý
thức đổi mới phương pháp dạy học Văn nhưng việc thực hiện mới chỉ mang
tính hình thức, thử nghiệm chứ chưa mang lại hiệu quả mong muốn. Một số
giáo viên vẫn có thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều:
giáo viên giảng, học sinh lắng nghe, ghi nhớ và nhắc lại đúng điều mà giáo
viên đã truyền đạt. Giáo viên chủ động cung cấp kiến thức cho học sinh, áp đặt
những kinh nghiệm, hiểu biết, cách cảm, cách nghĩ của mình tới học sinh. Một
bộ phận không nhỏ giáo viên chưa được trang bị kĩ càng, đồng bộ về quan
điểm và lí luận phương pháp dạy học Văn mới. Ngoài ra sự thiếu thốn về
phương tiện và thiết bị dạy học như tranh, ảnh, sơ đồ, dụng cụ nghe nhìn để
minh họa cho bài giảng, tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học cho giáo viên
ở nhiều trường học đã khiến cho việc áp dụng phương pháp dạy học mới gặp
nhiều bất lợi, dẫn đến tình trạng dạy chay, học chay.
Về phía học sinh, mặc dầu môn Văn có vị trí, chức năng quan trọng đặc

những tác phẩm văn học hay. Do vậy, khi làm bài học sinh thường suy luận chủ
quan, thô tục hóa văn chương. Điều đó cho thấy học sinh rất lơ mơ về kiến thức
Ngữ văn. Hiện nay, một số học sinh không có thói quen đọc sách, các tác phẩm
văn học để tích lũy kiến thức, vốn từ, phục vụ cho việc học môn văn. Thậm chí
nhiều học sinh cho rằng Ngữ văn là bộ môn không thực tế, vô bổ. Hiện trạng này
cho thấy vấn đề cảm thụ và diễn đạt văn chương của học sinh là rất đáng báo
động.

19


Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là
giảng dạy những tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện ngắn, trước đây, bản
thân tôi cùng các đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền
thống. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri
thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số
giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương
pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích
cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng
sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả
năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Việc ứng dụng
công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa
được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường trung học phổ thông.
Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tôi thấy dù có thành công mấy đi
chăng nữa thì học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ
tri thức một cách máy móc mà chưa phát huy hết được năng lực chủ động,
sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới.
Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn
trở làm cách nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều
quan trọng hơn là học sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được

phẩm, một vài nét đặc sắc về nghệ thuật đủ để thưởng thức và gây hứng thú.
Thứ tư: Dạy học thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò.
Mỗi cá nhân trong quá trình học tập đều có hạn chế, bởi mỗi người thường chỉ
chú ý vào một số điểm, bỏ qua hoặc không đánh giá hết ý nghĩa của các kiến
thức khác. Trong điều kiện đó, nếu biết cách hợp tác trong học tập, giữa thầy
giáo và HS, HS với HS có thể nhắc nhở nhau, bổ sung cho nhau, làm cho kiến
thức được toàn diện và sâu sắc.
Có thể nói, các kĩ năng của học sinh ít được chú ý rèn luyện trong giờ
dạy văn. Môn văn có thể phát huy nhiều kĩ năng : kĩ năng phân tích ngôn ngữ,
kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng làm chủ cảm xúc..., nhưng
phần lớn giờ học chỉ đi sâu vào những kĩ năng tiếp nhận lí thuyết mà chưa
phát huy những kĩ năng sống cho học sinh.

21


Để tránh sự nghèo nàn, đơn điệu trong dạy văn là một vấn đề không
dễ. Ở đó có những vấn đề thuộc về ý thức, thái độ, tình cảm nghề nghiệp,
năng lực của giáo viên, song việc giáo dục kỹ năng sống gắn với dạy học ngữ
văn sẽ góp phần giảng dạy môn Ngữ văn sinh động và hiệu quả.
Mục tiêu của môn Ngữ văn ở trường phổ thông là hình thành và phát
triển ở học sinh năng lực chung (tức năng lực giao tiếp, bao gồm kiến thức
tiếng Việt cùng với bốn kĩ năng cơ bản: Nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng
dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau
trong cuộc sống) và năng lực chuyên biệt (tức năng lực văn học, gồm tiếp
nhận hoặc cảm thụ văn học, sáng tác văn học.
3. Thiết kế giáo án thực nghiệm

VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI
(3 tiết)

4. Tổ chức hoạt động trải nghiệm và định hướng các năng lực hình
thành:
a. Tổ chức hoạt động trải nghiệm
- Trò chơi: Tổ chức trong hoạt động khởi động giúp tạo hứng thú cho
học sinh trước khi vào bài học mới.
- Hoạt động nhóm: Thảo luận nhóm tạo sự tham gia tích cực của học
sinh trong học tập. Học sinh được tham gia trao đổi, thảo luận, bàn bạc, chia
sẻ vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Qua đó học sinh được tự do bày tỏ
quan điểm, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân
giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết các vấn đề khó khăn.
- Đóng vai:
+ Học sinh chuyển thể một số đoạn trong văn bản thành kịch bản sân
khấu sau đó diễn đoạn kịch đó. Từ đó học sinh cảm nhận sâu sắc nhân vật,
tình huống và ý nghĩa tác phẩm
+ Xử lý một tình huống giả định trong cuộc sống với vai trò là người
hùng biện về một số vấn đề trong văn bản liên quan đến cuộc sống. Từ đó
giúp học sinh rèn luyện những kỹ năng thực hành ứng xử và bày tỏ thái độ,
quan điểm của mình đối với các vấn đề trong cuộc sống.

23


b. Định hướng các năng lực hình thành
- Năng lực chung: Năng lực tự học; năng lực phát hiện và giải quyết
vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực ngôn ngữ.
- Năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực trải nghiệm ( đóng vai, thuyết trình)
+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.
+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.
+ Năng lực hợp tác thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

2. Kiểm tra bài cũ:
3. Giới thiệu bài mới:
Tô Hoài thuộc thế hệ nhà văn cầm bút từ trước Cách mạng. Năm 1952,
ông đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc. Với thế mạnh của một nhà văn
phong tục, Tô Hoài đã nhanh chóng nắm bắt được hiện thực cuộc sống đồng
bào các dân tộc: Thái, Mường, H'mông …và ông đã viết liền một hơi 3 tác
phẩm gộp lại thành tập "Truyện Tây Bắc", trong đó tiêu biểu nhất là “Vợ
chồng A Phủ”.
Trước khi tìm hiểu nội dung văn bản, chúng ta cùng tiến hành một hoạt
động khởi động - trải nghiệm .
4. Hoạt động dạy và học :
TIẾT 1
Giáo viên (GV) tổ chức cho học sinh (HS) hoạt động khởi động .
Mục đích: Kiểm tra việc đọc văn bản ở nhà của HS nhằm giúp HS huy động
kiến thức, kỹ năng, tạo hứng thú tiếp nhận bài mới .
Yêu cầu: HS thể hiện những vấn đề liên quan đến tác phẩm.
Cách tiến hành:
GV:
- Chiếu hình ảnh minh họa cho một vấn đề liên quan đến bài học:
Hình ảnh đôi trai gái người Mèo đang thổi sáo.
- Gọi một bạn HS trong lớp có năng khiếu về âm nhạc thổi sáo bài
“Tình ca Tây Bắc” (tiết mục thổi sáo này GV cho HS chuẩn bị từ
trước).

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status