CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ĐỀ TÀI: "MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC VỆ SINH CÁ NHÂN
CHO TRẺ 5- 6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC BRU-VÂN KIỀU"
Quảng Bình, tháng 9 năm 2018
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ĐỀ TÀI: "MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC VỆ SINH CÁ NHÂN CHO
TRẺ 5- 6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC BRU-VÂN KIỀU"
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Kim Thủy.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quảng Bình, tháng 9 năm 2018
2
1.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài, sáng kiến, giải pháp:
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ tiếp bước cha anh đê
"Sức khỏe là vàng", nếu trẻ không được chăm sóc tốt thường xuyên đau ốm,
bệnh tật thì không những ảnh hưởng đến kinh tế gia đình mà còn đê lại gánh nặng
cho xã hội.
Giáo dục vệ sinh cá nhân đối với trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, phải
thực hiện thường xuyên, liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình- nhà trường và xã
hội có như thê mới đem kết quả tốt.
Giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ bao gôm từ việc hình thành kiến thức giúp
trẻ nắm chắc các thao tác, quy trình rửa tay, lau mặt, ... đến tự giác thực hiện các
hoạt động vệ sinh và đê trở thành thói quen tốt.
Đối với trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi dạy vệ sinh cho trẻ bắt đầu từ những hoạt
động đơn giản nhưng vô cùng quan trọng và cần thiết đó là: dạy trẻ biết rửa tay
bằng xà phòng dưới vòi nước; lau mặt, chải răng; không được dùng tay quệt mũi,
không ngôi lê dưới đất làm bẩn quần áo, biết đi đại tiêu tiện đúng nơi qui định, biết
giữ gìn quần áo, chân tay sạch sẽ, gọn gàng ... biết giữ gìn vệ sinh môi trường
trong lớp cũng như ở nhà luôn sạch sẽ.
Song việc giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ là nhiệm vụ không mấy dễ dàng,
nhiệm vụ này thực hiện tốt hay không phụ thuộc rất nhiều yếu tố: khả năng của trẻ,
năng lực và tâm huyết của đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, đô dùng
dụng cụ vệ sinh và sự phối kết hợp chặt chẽ, thống nhất giữa nhà trường với gia
đình trẻ.
Đối với trẻ mẫu giáo từ 3- 4 tuổi đây là thời kỳ tâm sinh lý trẻ phát triên
mạnh nhất. Song cơ thê trẻ non nớt, nhạy cảm, sức đề kháng yếu. Nếu chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục không chu đáo sẻ kìm hãm sự phát triên của trẻ, làm cho
trẻ thường xuyên mắc các bệnh tật, ốm đau.
Trẻ người dân tộc BRu-Vân Kiều khi mới đến trường mọi thứ đều xa lạ
chưa quen cô, quen bạn, chưa hiêu được ngôn ngữ Tiếng Việt... chưa quen với chế
độ sinh hoạt của lớp; tránh né bạn, không chấp nhận sự giúp đỡ của cô giáo, thậm
chí còn la khóc, không ăn, không ngủ, không chịu tham gia vào mọi hoạt động của
lớp nói chúng và giáo dục vệ sinh nói riêng.
Vân Kiều" làm Sáng kiến kinh nghiệm trong năm học này.
Đề tài "Một số giải pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ 3- 4 tuổi" chắc
cũng có nhiều người nghiên cứu, tìm hiêu nhưng họ là người đang công tác tại các
5
vùng thuận lợi, trong lớp chủ yếu trẻ người Kinh nên các nhiệm vụ, biện pháp thực
hiện của họ không thê áp dụng phù hợp đối với đơn vị vùng có nhiều trẻ người
đông bào thiêu số. Vì vậy, năm học này, tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài này với
mong muốn đóng góp được một số biện pháp hữu hiệu giúp chị em đông nghiệp
có thê vận dụng có hiệu quả tại vùng đông bào dân tộc, vùng núi, vùng sâu, vùng
xa.
* Điêm mới của đề tài là thực hiện một số giải pháp:
Hướng dẫn cho trẻ nắm vững quy trình lau mặt, rửa tay;
Giáo dục trẻ vệ sinh thông qua các hoạt động trong ngày
Tổ chức cho trẻ làm một số công việc tự phục vụ;
Phối hợp với phụ huynh chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Đề tài nhằm giải quyết tình trạng hạn chế về chất lượng chăm sóc vệ sinh
cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
1.2. Phạm vi áp dụng đề tài, sáng kiến:
Đề tài "Một số giải pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ 3- 4 tuổi người
dân tộc Bru-Vân Kiều" có thê áp dụng cho giáo viên tại trường tôi đang công tác
và có khả năng áp dụng trong các đơn vị thuộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi
biên giới và đây là đề tài thuộc lĩnh vực chăm sóc vệ sinh cho trẻ mẫu giáo 3-4
tuổi.
* Đề tài này được kết cấu theo những nội dung chính sau đây:
Phần I. Phần mở đầu:
Phần II. Nội dung
Phần III. Kết luận
Tuy nhiên, đề tài này cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất
của trẻ. Được trang cấp đầy đủ đô dùng, dụng cụ vệ sinh.
Hội phụ huynh đã có chuyên biến về nhận thức, quan tâm chăm lo cho các cháu.
Tuy vậy, thực hiện đề tài này tôi gặp nhiều khó khăn sau đây:
* Khó khăn:
Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của chúng ta thì nguôn nước đóng vai
trò hết sức quan trọng, không những thế nguôn nước cũng ảnh hưởng đến sức khỏe
của con người. Nếu nguôn nước sạch thì sẽ cho ta một sức khỏe tốt và ngược lại
nguôn nước bẩn thì sẽ gây ra nhiều bệnh tật. Có nguôn nước sạch phục vụ sinh
hoạt cho người dân ở vùng thuận lợi thì không khó nhưng đối với vùng núi, vùng
đặc biệt khó khăn thì nguôn nước vô cùng khan hiếm. Hầu hết người dân ở đây sử
dụng nước suối đê phục vụ sinh hoạt hằng ngày nên hạn chế đến chất lượng cuộc
7
sống và công tác vệ sinh cho trẻ. Dẫn đến ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, sinh ra
nhiều bệnh tật như: bệnh ngoài da, tiêu chảy, viêm đường hô hấp....
Kinh tế của người dân còn nhiều thiếu thốn, chật vật, phong tục tập quán
của người dân còn lạc hậu. Một số trẻ tiêm chủng không đầy đủ, đúng lịch, khám
bệnh không đúng định kỳ, chữa bệnh không kịp thời.
Nhà ở của phụ huynh chưa xây dựng kiên cố, chủ yếu ở nhà sàn, công trình
vệ sinh chưa có, các dụng cụ phục vụ sinh hoạt gia đình chưa đầy đủ, đô dùng
phục vụ vệ sinh chưa quan tâm đúng mức.
Phụ huynh hầu như không mấy khi lau nhà, hướng dẫn trẻ đánh răng, chải
đầu, soi gương, lau mặt, rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước; quần áo trẻ không
được thay giặt thường xuyên; ít dành tiền đê mua áo quần, dày dép cho con; đa số
trẻ mặc đi mặc lại những bộ quần áo đã cũ hoặc do cô giáo mang từ miền xuôi
mang lên.
Trình độ dân trí thấp, phụ huynh chưa hiêu rõ tầm quan trọng của việc học
tập của con em mình; chưa có kiến thức về chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng và giáo
Kỹ năng lau mặt
Ký năng rữa tay
Kỹ năng tự phục vụ
Số trẻ SDD thê thấp còi
Số trẻ SDD thê cân nặng
Bệnh ngoài da
Kết quả trên cho thấy:
19
19
19
19
19
19
Kết quả
Đạt
SL
13
15
14
14
17
15
%
68
79
74
vệ sinh như lau mặt, rửa tay.... cần phải thực hiện nghiêm túc. Vì vậy, đê giúp trẻ
nắm được quy trình và thao tác vệ sinh lau mặt, rửa tay... tôi đã sưu tầm một số
Clip về hoạt động lau mặt, rửa tay rôi trình chiếu cho trẻ xem. Sau khi trẻ quan sát
9
cô gợi hỏi trẻ: Các con đã xem được những gì? Các bạn đã làm gì? Làm như thế
nào?...
Quy trình rửa tay, lau mặt theo gợi ý hướng dẫn trong chương trình giáo dục
mầm non yêu cầu giáo viên phải nắm chắc đê hướng dẫn cho trẻ. Đông thời do khả
năng phát triên về ngôn ngữ, nhận thức của trẻ người dân tộc Vân Kiều còn hạn
chế nên khi hướng dẫn cho trẻ giáo viên cần nói ngắn gọn, dễ hiêu, lời nói kết hợp
với thao tác linh hoạt, chính xác.
Ví dụ: Quy trình rửa tay theo hướng dẫn trong chương trình giáo dục được
thực hiện qua 6 bước.
Bước 1: Đầu tiên cô mở vòi nước nhẹ, úp 2 lòng bàn tay vào nhau và đê
dưới vòi nước chảy, sau đó cô xoa đều xà bông vào 2 lòng bàn tay, chà xát 2 lòng
bàn tay vào nhau đê tạo bọt.
Bước 2: Dùng ngón tay của bàn tay này cuốn và xoay lần lượt từng ngón
tay của bàn tay kia và ngược lại.
Bước 3: Dùng lòng bàn tay chà xát chéo lên mu bàn tay kia và ngược lại.
Bước 4: Dùng đầu ngón tay của bàn tay này miết vào các kẽ giữa các ngón
tay của bàn tay kia và ngược lại.
Bước 5: Chụm năm đầu ngón tay của bàn tay này cọ vào lòng bàn tay kia
bằng cách xoay đi xoay lại.
Bước 6: Cô đê tay dưới vòi nước xát nhẹ 2 lòng bàn tay vào nhau, rửa từ
mu bàn tay đến các ngón tay và rửa cho sạch xà phòng.
Đối với trẻ ở lớp tôi đã hướng dẫn quy trình này như sau:
Bước 1: Cô đặt 2 lòng bàn tay dưới vòi nước sau đó, lấy xà bông xoa đều
Bước 4: Gấp khăn đặt dọc lên lòng bàn tay rôi lau trán, má bên trái.
Bước 5: Gấp khăn đặt dọc lên lòng bàn tay rôi lau trán, má bên phải.
Bước 6: Cuối cùng lau cằm, cổ và bỏ khăn vào chậu.
Nhờ cách hướng dẫn ngắn gọn này mà trẻ dễ nhớ, dễ hiêu và thực hiện tốt
hơn rất nhiều so với cách hướng dẫn ban đầu. Đông thời khi trẻ thực hành lau cô
vừa hướng dẫn trẻ vừa khuyến khích trẻ nhắc đi nhắc lại nên giúp trẻ nắm chắc
quy trình thao tác.
Giải pháp 2: Giáo dục trẻ vệ sinh thông qua các hoạt động trong ngày.
Cơ thê trẻ còn non yếu, rất dễ bị các yếu tố của môi trường tác động làm ảnh
hưởng tới sức khỏe. Vì vậy, đê đảm bảo sức khỏe cho trẻ trước giờ đón trẻ tôi đến
sớm 30 phút mở cửa thông thoáng quét dọn nhà cửa sạch sẽ, lau nhà bằng khăn
11
ẩm, lớp học thoáng mát không ẩm ướt, xung quanh lớp không có vật sắc nhọn, các
thiết bị điện nước phải đảm bảo an toàn, phòng vệ sinh sắp xếp gọn gàng luôn khô
ráo, phối kết hợp với phụ huynh mua dép cho trẻ đi trong lớp và trong nhà vệ sinh.
Đô dùng cá nhân phải dùng riêng và có ký hiệu rõ ràng.
Trẻ thực hiện vệ sinh được tốt thì đầu tiên trẻ phải nhớ đúng ký hiệu của
mình, đê giúp trẻ nhớ ký hiệu của mình thì tôi tập cho trẻ nhận biết ký hiệu với
nhiều hình thức khác nhau: Khi lấy đô dùng, dụng cụ cho trẻ như: vỡ, dép, cốc ca
uống nước, khăn lau mặt… tôi hỏi trẻ về ký hiệu của mình.
Ví dụ: Vỡ con có ký hiệu gì? Nếu trẻ nhầm tôi nhắc lại cho trẻ nhớ. Quá
trình tập cho trẻ nhiều lần, lặp đi lặp lại thường xuyên sẽ giúp trẻ nhớ ký hiệu của
mình. Khi trẻ lấy đúng đô dùng thì trẻ mới hướng dẫn trẻ thực hiện vệ sinh, nếu trẻ
không nhận biết được đô dùng của mình mà dùng nhầm đô dùng của bạn khác thì
nguy cơ lây lan các bệnh về mắt, răng miệng rất nguy hiêm.
Việc dạy cho trẻ nhận biết ký hiệu đã khó nhưng việc dạy trẻ thực hiện vệ
sinh lại càng khó khăn, vất vả hơn. Với hoạt động rửa tay bằng xà phòng đối với
trẻ 3-4 tuổi thì rất khó, ở lứa tuổi này khi rửa tay trẻ chỉ biết thích đùa nghịch với
cầu đi vệ sinh cần đi ngay.
Đến giờ đón trẻ tôi cho trẻ tự mặc dép trong nền nhà. Khi đón trẻ vào lớp
hướng dẫn trẻ mặc thêm hoặc tự cởi bớt quần áo; tự cởi dày hoặc đeo dép, tự cất
mũ nón vào nơi quy định....
Giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh chung: vào mùa hè không đi dép
trong nhà, về mùa đông thì không đi dép trong nhà ra ngoài sân; không khạc nhổ
lung tung, khi ho phải biết che miệng.
Giáo dục trẻ biết bảo vệ trường lớp luôn luôn sạch sẽ: tham gia làm vệ sinh
trong sân trường, nhặt lá cây đê vào nơi quy định, sau khi hoạt động giáo dục xong
cần biết sắp xếp đô dùng đô chơi ngay ngắn vào giá góc...
Trẻ miền núi thường không được sự quan tâm của bố mẹ nên trước khi đến
lớp trẻ cần chủ động yêu cầu bố mẹ thay quần áo, rửa tay chân, lau mặt mũi sạch
sẽ.
Trước giờ trả trẻ cô tổ chức cho trẻ lau mặt, rửa chân tay, cô chải tóc, sửa
sang lại quần áo cho trẻ....
Trong lớp số trẻ người Kinh và một số trẻ dân tộc Vân Kiều có kiến thức kỹ
năng tốt tôi đã phân công kèm cặp những cháu yếu. bằng cách khi tổ chức cho trẻ
rửa tay, lau mặt tôi đã phân công các cháu này đứng gần các cháu yếu, phát hiện
những thao tác của bạn chưa đúng, những hành vi chưa tốt thì nhắc nhỡ hoặc trao
đổi cùng cô đê kết hợp giúp bạn thao tác tốt hơn.
14
Giải pháp 4: Phối hợp với phụ huynh giáo dục vệ sinh cho trẻ khi ở nhà:
Đê việc chăm sóc, giáo dục vệ sinh trẻ đem lại hiệu quả cao, công tác phối
hợp với phụ huynh đóng vai trò hết sức quan trọng. Qua những lúc đón trả trẻ,
những buổi họp phụ huynh, tôi đã tuyên truyền với phụ huynh về tầm quan trọng
của công tác vệ sinh. Thông qua các buổi họp tôi đã hướng dẫn phụ huynh thường
xuyên tổ chức cho trẻ rửa tay bằng xà phòng, lau mặt, tắm, giặt, gội đầu nhằm
phòng tránh bệnh tật.
Ngoài việc đánh răng phụ huynh có thê cho trẻ ngậm nước muối loãng giúp
sát khuẩn miệng và vệ sinh tai, mũi họng ....
Hướng dẫn phụ huynh tham gia công tác vệ sinh môi trường, nhà cửa, đô
dùng sinh hoạt hằng ngày nhằm tránh dịch bệnh có thê xảy ra.
Đưa trẻ tiêm chủng mở rộng đầy đủ và đúng lịch theo quy định của y tế.
Ngoài việc hướng dẫn và tuyên truyền về công tác vệ sinh chăm sóc sức
khỏe, phòng chống bệnh tật cho trẻ tôi còn chia sẻ với gia đình trẻ về cách tổ chức
cuộc sống gia đình, hướng dẫn cho phụ huynh biết cần mua một số vật dụng cần
thiết phục vụ công tác vệ sinh như: xô, chậu, xà phòng, nước xả, dầu gội đầu...;
mua một số đô dùng phục vụ sinh hoạt gia đình như: soong, nôi, bát, thìa, chăn
màn, chiếu, dày dép, quần áo...; biết quan tâm, thường xuyên trò chuyện với trẻ,
nắm được đặc điêm tính cách, khả năng và nhu cầu của trẻ đê từ đó phối hợp với
giáo viên chăm sóc, nuôi dạy cho tốt.
Nhờ áp dụng các giải pháp trên đến nay lớp tôi đã có kết quả đáng phấn
khởi.
* Kết quả đạt được:
Nội dung
Kỹ năng lau mặt
Ký năng rữa tay
Kỹ năng tự phục vụ
Số trẻ SDD thê thấp còi
Số trẻ SDD thê cân nặng
Bệnh ngoài da
Kết quả
Tổng
số trẻ
19
19
10,5
3
16
1
5,3
2
10,5
3. PHẦN KẾT LUẬN
3.1. Ý nghĩa của đề tài, sáng kiến, giải pháp:
16
Giáo dục vệ sinh cho trẻ là nhiệm vụ rất cần thiết đối với mọi người đặc biệt
ngành học Mầm non. Thông qua giáo dục vệ sinh giúp trẻ phát triên toàn diện về
thê chất, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm và hình thành những hành vi văn
minh, phát triên nhân cách con người mới cho trẻ.
Trong cuộc sống hằng ngày việc giữ gìn vệ sinh thân thê cho trẻ không
những chỉ dừng lại ở mức chấp hành những yêu cầu, quy định về giáo dục vệ sinh,
mà còn thê hiện mối quan hệ, tình cảm giữa con người với con người. Bởi thông
qua việc thực hiện các hoạt động và thao tác vệ sinh mà thê hiện tính nhân văn sâu
sắc, tình người cao cả; Những thói quen tốt, những hành vi văn minh cô giáo trang
bị từ hôm nay sẻ là hành trang theo trẻ trong suốt cuộc đời.
Bằng cử chỉ hành động nhẹ nhàng mỗi khi cô giáo thực hiện các hoạt động
vệ sinh trẻ sẻ cảm nhận được tình cảm, sự yêu thương vô vàn của cô giáo dành cho
nó, nó càng tự tin hơn, yên tâm hơn khi mỗi ngày bên cô giáo.
Giữ gìn vệ sinh cơ thê sạch sẽ giúp trẻ luôn có thê lực khỏe mạnh, có sức
chống đở bệnh tật, hạn chế suy dinh dưỡng. Trẻ khỏe mạnh, ít ốm đau là niềm vui,
nguôn hạnh phúc của mỗi gia đình và toàn xã hội.
Hội đông khoa học của ngành đê cho bản Sáng kiến kinh nghiệm này được hoàn
thiện hơn, không những có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn trường và còn
vươn đến các đơn vị mầm non thuộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới./.
Kim Thuỷ, ngày 18 tháng 9 năm 2018
(Đã ký)
Nguyễn Thị Lan
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
......................................................................................................................................
18
....................................................................................................................................
Kim Thủy, ngày 18 tháng 9 năm 2018
TM.HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
(Đã ký)
HIỆU TRƯỞNG
Nguyễn Thị Luân
19