luan van thac si nghien cuu hanh vi cua nha dau tu tren san chung khoan - Pdf 57

HUỲNH THANH NHÃ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH
TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2013


HUỲNH THANH NHÃ

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân
hàng Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH
TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2013


Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Nghiên cứu hành vi của nhà đầu tư trên sàn chứng
khoán” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận văn này là trung thực, các nội dung
trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc, và các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tp.HCM ngày 20 tháng 9 năm
2013 Người cam đoan


-

Cảm ơn gia đình, em trai đã ở bên canh và khuyến khích tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.

-

Các anh chị em bạn bè lớp Cao học TCDN đêm 3 K21 và lớp Đại cương đêm 12
K21 Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã cùng nhau trao đổi, chia sẻ kiến
thức trong suốt quá trình tham gia khóa học.


-

Những anh chị em đã tham gia khảo sát cho đề tài này. Các bạn đã góp một
phần không nhỏ vào luận văn này của tôi.


MỤC LỤC
1. TỔNG QUAN

1

1.1. Tóm tắt:

1

1.2. Giới thiệu



2.3.2. Xu hướng đại diện (Representativeness)

14

2.3.3. Xu hướng bầy đàn (Herding)

15

2.3.4. Xu hướng “Neo” (Anchoring)

16

2.3.5. Xu hướng Bất hòa trong nhận thức (Cogintive dissonance)

17

2.3.6. Xu hướng Sợ hối hận (Fear of regret)

18

2.3.7. Xu hướng Gian lận con bạc (Gambler's fallacy)

19



2.3.8. Xu hướng Kế toán (Mental Accounting)

20


25

3.5.1. Phân tích sự khác biệt (Discriminant Analysis)

25

3.5.2. Phương pháp tính điểm có trọng số

27

3.5.3. Kiểm định Chi – bình phương cho sự độc lập

27

4. Các kết quả nghiên cứu

29

4.1: Phân tích sơ bộ và Kiểm tra Đa cộng tuyến

29

4.2. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu lên danh mục đầu tư

32

4.3. Phân tích sự khác biệt:

33

4.4.7. Xu hướng gian lận con bạc (Gambler's fallacy)

61

4.4.8 Xu hướng kế toán(Mental Account)

64

4.4.9. Xu hướng nhận thức muộn (Hindsight)

67

5. TÓM TẮT KẾT QUẢ VÀ KIẾN NGHỊ

70

5.1. Tóm tắt:

70

5.2. Một số kết quả chính

70

5.3. Kiến nghị

73

5.3.1. Đối với các nhà đầu tư


“Một trong những sự thật thú vị trên thị trường chứng khoán đó là mỗi lần một
người mua, một người bán, thì cả 2 đều nghĩ mình sắc sảo hơn người còn lại” William Feather.
Mô hình tài chính truyền thống cố gắng để chứng minh việc các nhà đầu tư sử
dụng mô hình để đưa ra quyết định của mình là dựa trên lý trí. Mặc dù nhiều lý thuyết
truyền thống vẫn còn tồn tại và phát triển qua nhiều thập kỷ, nhưng lý trí của nhà đầu
tư là một giả thuyết trung tâm cần xem xét. Theo Nofsinger (2001), lĩnh vực tài chính
đã phát triển trong vài thập kỷ qua, dựa trên giả thuyết là người ta đưa ra những quyết
định mang tính lý trí và họ không có xu hướng nghiêng về dự đoán tương lai. Người ta
nghĩ rằng các nhà đầu tư hẳn là phải dựa nhiều vào lý trí để có những quyết định mang



tính khả thi. Một nhà đầu tư được xem là lý trí khi (i) người đó luôn cập nhật niềm tin
của mình và bày tỏ thái độ khi nhận được thông tin mới, (ii) có những lựa chọn có thể
chấp nhận được. (Thaler, 2005).
Trong những cái được xem như là “bất thường”, thì việc nền kinh tế thế giới bị
sụp đổ bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 là một kết quả. Phần lớn các
nhà kinh tế học và những chuyên gia kinh tế chiếm giữ những ghế quan trọng trong
chính phủ và các tổ chức tài chính bị bắt bất ngờ và kéo theo đó là những sự kiện như
phá sản, vỡ nợ. Thậm chí sau khi cuộc khủng hoảng đã bắt đầu, nhiều người trong số
họ vẫn không thể phân tích được cường độ của nó. Ngược một chút về quá khứ, trường
hợp của một quỹ bảo hộ có tên là Long Term Capital Management cần được nhắc đến.
Mặc dù được hợp tác với cựu phó chủ tịch của Hội đồng dự trữ liên bang, đạt được 2
giải Nobel về kinh tế, nhân viên bao gồm 24 thạc sĩ, họ cũng rơi vào thất bại
(Nofsinger, 2001).
Sự thất bại của những nhà kinh tế và những học thuyết của họ, đã đưa ra một
câu hỏi: Có phải các nhà đầu tư là dựa vào lý trí không ? Hay là họ bị ảnh hưởng bởi
những cuộc chiến của cảm xúc như là sợ hãi và tham lam, điều mà sẽ dẫn đến những
quyết định xấu.
Bernstein (1998) nói rằng “Bằng chứng cho thấy những mô hình được lặp đi

khi đưa ra quyết định đầu tư bằng cách theo 2 bước dưới đây (i) hiểu cảm xúc của
chính mình và điểm yếu tâm lý bằng cách nghiên cứu những sự bất thường hoặc “xu
hướng” và xác định xem anh ta đã mắc phải sai lầm trong quá khứ chưa hoặc có một
xu hướng nào đó trong tương lai không; và (ii) sau khi đã đạt được mục đích ở bước
trước đó rồi, hiểu cách hành xử vô lý của những người khác và hưởng lợi từ các sai lầm
đó (Parikh, 2011).
1.3. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là :


- Kiểm tra liệu các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán có hoàn toàn dựa
trên lý trí khi đưa ra quyết định đầu tư hay họ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý khác.


- Kiểm tra xem có sự khác biệt trong việc ra quyết định đầu tư giữa nhóm nhà đầu tư
có kinh nghiệm và ít kinh nghiệm không.
Nghiên cứu tập trung vào 9 xu hướng hành vi, bao gồm: Sự quá tự tin, Tính đại
diện, tính Bầy đàn,, tính Neo, Bất hòa trong nhận thức, Sợ hối hận, Gian lận con bạc,
Sai lầm kế toán và Sự nhận thức muộn. Tác động của 9 yếu tố này được phân tích trên
sàn chứng khoán Hồ Chí Minh. Ảnh hưởng được phân tích là có hay không có sự tác
động của các yếu tố hành vi đến việc mua/bán hoặc nắm giữ cổ phần.
Dữ liệu chính của nghiên cứu được tập hợp từ một bảng câu hỏi điều tra. Bảng
câu hỏi được phát cho các nhà đầu tư trên sàn môi giới và được đăng trực tuyến để tiếp
cận các nhà đầu tư thích giao dịch qua internet hơn. Kết quả cuối cùng bao gồm 104
nhà đầu tư được chia thành 2 khu vực theo độ tuổi và theo số năm kinh nghiệm: Nhà
đầu tư có kinh nghiệm là những người có trên 5 năm kinh nghiệm, còn nhà đầu tư trẻ
thì có ít hơn hoặc 5 năm kinh nghiệm. Với mỗi xu hướng, sẽ sử dụng kỹ thuật “Thang
đo 3 điểm, 5 điểm” của Likert. Một phân tích tổng thể sẽ được thực hiện bằng cách sử
dụng phân tích Sự khác biệt, để kiểm tra xem hành vi của nhà đầu tư trẻ và nhà đầu tư
có kinh nghiệm có khác nhau không? Thêm nữa, mỗi một xu hướng sẽ được phân tích

Tversky, 1979). Lựa chọn của con người cũng bị ảnh hưởng bởi “hiệu ứng khuôn khổ”.
Tác động này chỉ ra cách mà trong đó, vấn đề giống nhau được biểu hiện bằng nhiều
cách khác nhau và tác động đến việc ra quyết định. Nó cũng chứng minh được những
sự đảo chiều có hệ thống của xu hướng khi vấn đề tương tự nhau được biểu diễn ở
những cách khác nhau (Tversky and Kahneman, 1981).
Chức năng tối đa hóa giá trị trong lý thuyết triển vọng thì khác so với lý thuyết
danh mục đầu tư hiện đại. Trong lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, việc tối đa hóa tài


sản thì dựa trên vị thế cuối cùng của tài sản trong khi lý thuyết triển vọng quan tâm đến
lợi nhuận và thua lỗ. Một khía cạnh quan trọng của quá trình hình thanh khung nữa đó


là con người có xu hướng cho rằng kết quả của việc kinh doanh là lợi nhuận và
thua lỗ, chứ không phải là tình trạng cuối cùng của tài sản. Lợi nhuận và thua lỗ
được xác định là có liên quan đến một điểm tham chiếu trung lập nào đó và những sự
thay đổi được đo lường một cách tương đối chứ không phải là đo lường một cách tuyệt
đối (Kahneman và Tversky, 1979).
Khi nó liên quan đến đầu tư trên thị trường, điểm tham chiếu là giá mua của cổ
phiếu. Thật vậy, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm cho rằng giá mua của cổ phiếu
dường như là một trong số những điểm tham chiếu được sử dụng bởi các nhà đầu tư .
tuy nhiên, cũng có thể có một vài điểm tham chiếu bổ sung ảnh hưởng đến một nhà
đầu tư. Ví dụ, giá cổ phiếu tối đa trong lịch sử lợi nhuận gần đây được phát hiện là ảnh
hưởng đến quyết định của nhà đầu tư.
Yếu tố trung tâm nhất của lý thuyết triển vọng là hàm giá trị hình chữ S.

Hàm giá trị được định nghĩa về những sự thay đổi trong tài sản chứ không đề
cập đến tình trạng cuối cùng của tài sản. Hình dạng của hàm thì lõm trong khu vực lợi
nhuận, và lồi trong khu vực thua lỗ phản ánh sự lo ngại rủi ro trong phạm vi lợi nhuận,
sự ưa thích rủi ro trong khu vực thua lỗ. Một đặc tính hấp dẫn của hàm giá trị nữa là nó



này tạo ra quy tắc ngón tay cái , con người có thể sử dụng khi gặp phải một tình huống
tương tự. Hiện tượng này được gọi là sử dụng dựa trên kinh nghiệm chủ quan


heuristics. Nó cũng có liên quan đến nền kinh tế hiện đại, khi số lượng các công cụ tài
chính và mật độ thông tin tăng lên một cách đáng kể. Sử dụng heuristics cho phép đẩy
nhanh tiến độ của việc đưa ra quyết định tài chính so với việc xử lý theo lý trí những
thông tin sẵn có. Ưu điểm của điều này là có thể tiết kiệm được thời gian, trong khi
nhược điểm chính đó là nó phụ thuộc vào kinh nghiệm trước đây. Những mô hình tài
chính truyền thống loại bỏ heuristic và giả định tất cả các quyết định đều dựa trên
những công cụ thống kê có lý trí (Shefrin, 2000).
2.2. Một số nghiên cứu thực nghiệm:
Một vài nghiên cứu thực nghiệm có giá trị được tóm tắt sau đây:
Hoffmann, Shefrin and Pennings (2010) phân tích những sự khác biệt có hệ
thống trong danh mục của các nhà đầu tư và chiến lược ảnh hưởng đến danh mục đầu
tư họ chọn lựa như thế nào và lợi nhuận họ kiếm được. Những phân tích trong nghiên
cứu này được thực hiện trên những hồ sơ giao dịch của một mẫu khách hàng (65,325
tài khoản cá nhân với trên 9 triệu lượt giao dịch từ tháng 1/2000 đến tháng 3/2006), từ
trang môi giới trực tuyến lớn nhất ở Hà Lan. Dữ liệu được thu thập thông qua 1 bảng
câu hỏi. Kết quả có thể hữu ích với những nhà hoạch định chính sách. Người ta nhận ra
rằng các nhà đầu tư nào mà dựa vào các phân tích cơ bản thì sẽ có doanh thu và kỳ
vọng cao hơn, chịu nhiều rủi ro hơn, và quá tự tin, làm tốt hơn các nhà đầu tư mà dựa
vào phân tích kỹ thuật.
Chandra (2008) nghiên cứu tác động của các yếu tố hành vi và tâm lý của nhà
đầu tư khi đưa ra quyết định, và kiểm tra phản ứng của họ với rủi ro và hành vi ra
quyết định. Nghiên cứu này dựa vào dữ liệu thứ cấp. Thông qua nghiên cứu, tác giả
nhận thấy không giống như lý thuyết tài chính truyền thống đã nói, các nhà đầu tư cá
nhân không phải lúc nào cũng đưa ra quyết định một cách lý trí. Quyết định đầu tư bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status