Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật việt nam từ thực tiễn huyện yên mô, tỉnh ninh bình - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI - 2019


Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH ................. 66
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ............. 66
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp từ
thực tiễn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ........................................................... 67
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 77


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BT

: Bồi thường

HT

: Hỗ trợ

GPMB

: Giải phóng mặt bằng

THĐ

: Thu hồi đất




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển mạnh mẽ về tất cả các
mặt của cuộc sống xã hội. Thực tiễn xây dựng đất nước cho thấy, từ khi đổi mới đến
nay, do có đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta với những bước đi thích
hợp, từ đó đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội... Những thành tựu đạt được là rất to lớn, tạo cho Việt Nam thế
và lực mới trong thế thế kỷ mới.
Cùng với công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất
nhiều dự án đầu tư xây dựng đã được triển khai thực hiện. Nhịp độ phát triển càng
lớn thì nhu cầu về thu hồi đất càng cao và trở thành thách thức lớn đối với phát triển
kinh tế cũng như các vấn đề chính trị, xã hội của quốc gia. Thu hồi đất, một mặt đáp
ứng nhu cầu phát triển đất nước, đồng thời đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mang tính
thời sự “nóng bỏng” như an ninh lương thực, đảm bảo an ninh trật tự, an sinh xã
hội, sự đồng thuận trong nhân dân…
Thực tiễn công tác thu hồi đất, đặc biệt là thu hồi đất nông nghiệp vì mục
đích an ninh, quốc phòng hoặc mục đích kinh tế - xã hội trong thời gian còn nhiều
vấn đề gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự. Có cả những
tình huống, một số phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng vấn đề khiếu kiện đất đai để
kích động chống đối với mục đích chính trị. Do vậy, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trở thành một vấn đề quan
trọng và nhạy cảm khi nó tác động tới mọi mặt của xã hội, đặc biệt là đến sản xuất
và đời sống của người dân bị thu hồi đất.
Hiện nay khi tình trạng “đất chật người đông” thì quyền lợi của người sử
dụng đất khi Nhà nước giao đất và thu hồi đất trở nên vô cùng nóng bỏng và cấp
bách, tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến bất ổn trong xã hội.
Thời gian qua, tuy Nhà nước đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy
định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng

Trong Luận văn đã đề cập và làm rõ hơn cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và sự tác động của nó đến đời sống, sinh hoạt của
người dân có đất bị thu hồi. Thông qua đó Luận văn đã phân tích, đánh giá thực
trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Khu đô thị

2


Dương Nội, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Từ đó nêu lên một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở
Việt Nam hiện nay [31].
Luận văn Thạc sĩ về "Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại Hà Nam" của Trần Thị Huyền Lê, Đại học
Quốc gia Hà Nội (năm 2015). Trong Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận về
bồi thường, hỗ trợ và hệ thống hóa các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Luận văn đã đánh giá thực trạng pháp luật và
thực tiễn thi hành về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh Hà Nam. Đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất [15].
Luận văn Thạc sĩ về "Pháp luật về bồi thường, hỗ trỡ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh" của Nguyễn
Văn Vững, Học viện Khoa học xã hội (năm 2016). Luận văn đã nghiên cứu những
quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đất đai.
Qua đó phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một địa phương cụ thể [43].
Bài viết "Những vấn đề xã hội nảy sinh từ việc thu hồi đất nông nghiệp cho
phát triển đô thị, khu công nghiệp và giải pháp khác phục" của tác giả Lê Văn Lợi –
Tạp chí Khoa học chính trị số 06 năm 2013, đã phân tích những vấn đề xã hội nảy
sinh khi đất nông nghiệp bị thu hồi từ việc người nông dân thất nghiệp đến việc

nông nghiệp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp;
- Phân tích, đánh giá thực thực hiện pháp luật trong bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Qua đó, chỉ ra những ưu điểm, tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và nêu
nguyên nhân của tình trạng này;

4


- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các văn bản pháp
luật của Việt Nam về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp.
Luận văn đi sâu hơn về thực tiễn thực hiện các văn bản pháp luật của cơ
quan nhà nước ở Trung ương, của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư tại địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi đối tượng, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Về phạm vi không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện các
quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp tại địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình từ khi Luật Đất đai năm 2013 có
hiệu lực đến nay

của luận văn có thể được tham khảo để ứng dụng vào thực tiễn thực tiễn thi hành
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số địa phương cụ thể.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và lý luận pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Yên Mô,
tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ
thực tiễn của huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có đến 70% dân số lao động trong lĩnh
vực này. Vì vậy từ xưa cho đến nay đất nông nghiệp có vai trò vô cùng to lớn đối
với sự phát triển của nước ta, nó được coi là tư liệu sản xuất truyền thống quan
trọng bậc nhất với người dân. Chả thế mà nhà sử học Phan Huy chú đã cho rằng:
“của báu một nước không gì quý bằng đất đai, nhân dân và của cải đều do đấy mà
sinh ra” [47].
Vậy đất nông nghiệp là gì? Đây là một thuật ngữ không xa lạ đối với mỗi

hai, đất nông nghiệp khác đã được nêu rõ cụ thể các loại đất gồm đất để xây dựng
nhà kính và các loại nhà khác cho mục đích trồng trọt (có cả hình thức trồng trọt
không ở trên đất); đất làm chuồng trại để chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và
những động vật khác mà pháp luật cho phép; đất trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và
chăn nuôi dùng vào mục đích học tập và nghiên cứu, thí nghiệm; đất dùng để ươm
tạo cây giống và con giống cùng với đất trồng hoa và cây cảnh (Điều 10 Luật Đất
đai năm 2013).
Như vậy có thể thấy trong Luật Đất đai năm 2013 khái niệm về đất nông
nghiệp cơ bản không có nhiều điểm khác với Luật đất đai năm 2003, mà chỉ mở
rộng hơn về phạm vi, đã chỉ ra các loại đất có thể sử dụng và khai thác phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp.
Qua những phân tích ở trên, đất nông nghiệp có thể được hiểu như sau: Đất
nông nghiệp gồm các loại đất mà đặc tính sử dụng của chúng là giống nhau, nó vừa
là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tài liệu lao động vừa là đối tượng lao động và đặc
biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt,
chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp, lâm nghiệp.

8


1.1.2. Khái niệm về thu hồi đất nông nghiệp
Trong Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
khẳng định nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu của toàn dân mà Nhà nước là đại diện
chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua việc quản lý, định đoạt đất
đai. Một trong những quyền quan trọng của Nhà nước, đó là giao đất, cho thuê đất
và thu hồi đất đối với người sử dụng đất.
Vậy thu hổi đất là gì? Trước năm 2003, ở nước ta không có văn bản luật nào
định nghĩa rõ khái niệm về thu hồi đất mà chỉ đơn giản là nêu ra các trường hợp
phải thu hồi đất (Điều 14 và Điều 26 trong Luật đất đai 1987 và Luật đất đai 1993).

Từ Hiến pháp năm 2013, khi ban hành Luật Đất đai năm 2013 khái niệm về
thu hồi đất đã được cụ thể như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết
định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” (Điều 4 Luật
Đất đai năm 2013).
Từ đó, có thể hiểu thu hồi đất là việc Nhà nước thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã trao cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất
đai bằng các quyết định hành chính do Nhà nước ban hành. Từ khái niệm này có
thể hiểu: Thu hồi đất nông nghiệp là việc Nhà nước thu lại đất nông nghiệp và
quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho người sử dụng đất theo quy định của
pháp luật về đất đai bằng các quyết định hành chính do Nhà nước ban hành.
Nếu nói thu hồi đất nông nghiệp có tác động tích cực đến đời sống xã hội
như việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang các mục đích sử
dụng khác để để khai thác có hiệu quả hơn góp phần phát triển kinh tế xã hội của cả
nước thì cũng không thể không nhắc đến hệ quả trái chiều của việc thu hồi đất nông
nghiệp. Như đã phân tích ở trên, đất nông nghiệp không chỉ là tư liệu sản xuất mà
nó còn là nguồn sống, là cả một nền văn hóa truyền thống của người dân do vậy hệ
quả của việc thu hồi đất nông nghiệp là vô cùng lớn, nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời
sống của người dân có đất bị thu hồi.
Tác động đầu tiên chính là việc thiệt hại về mặt tài sản, người bị thu hồi đất
nông nghiệp không những bị mất đi quyền sử dụng đất, họ phải chịu cả việc thiệt
hại về công sức bỏ ra để xây dựng các công trình hạ tầng trên đất, công sức trồng
cây cối, hoa màu trên đất, và cả việc thiệt hại do không được khai thác hoa lợi, lợi

10


tức phát sinh từ đất. Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chính trong nông nghiệp do
vậy những thiệt hại về cây cối, nông sản, hoa lợi, lợi tức trong tương lai là vô cùng
to lớn có thể kéo theo cả những bất ổn về an ninh lương thực của cả một quốc gia.

cách ruộng đất năm 1954 và Nghị định số 151 ngày 14/4/1959 của Thủ tướng Chính
phủ quy định về thể lệ tạm thời trựng dụng ruộng đất. Sau này khi Luật đất đai
1988, Luật đất đai 1993 lần lượt được ban hành kéo theo đó là các văn bản dưới luật
ra đời đã quy định rõ hơn về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất lần đầu tiên được nêu ra một
cách rõ ràng hơn là trong Luật đất đai 2003. Tuy nhiên tại Điều 4 của Luật này cũng
chỉ quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là bồi thường về giá trị quyền
sử dụng đất mà thôi. Quy này này là chưa cụ thể và chặt chẽ, bởi vì nó không tính
đến giá trị tài sản ở trên đất bị thiệt hại và còn những tài sản vô hình khác nữa.
Đến năm 2013 khi Luật đất đai mới được ban hành, ngoài quy định về việc
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất thì
trong Luật cũng đã quy định cụ thể về việc hỗ trợ, bồi thường những thiệt hại về tài
sản gắn liền với đất, những chi phí đầu tư vào đất theo quy định của pháp luật. Từ
những quy định trên có thể thấy bồi thường khi nhà nước thu hồi đất có những đặc
điểm sau:
Thứ nhất, bồi thường là hậu quả pháp lý phát sinh sau khi cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính về việc thu hồi đất.
Thứ hai, bồi thường là trách nhiệm đền bù những tổn thất về quyền và lợi
ích chính đáng cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất của họ.
Thứ ba, ngoài việc bồi thường về đất thì Nhà nước còn phải bồi thường tài
sản trên đất và hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi việc làm, ổn định sản xuất… cho
người bị thu hồi đất.
Thứ tư, Nhà nước chỉ bồi thường cho người bị thu hồi đất nếu họ đáp ứng
đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, ta có thể hiểu bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước phải bù đắp những thiệt hại về đất, tài sản và chi phí đầu tư trên đất
cho người sử dụng đất theo các quy định của pháp luật sau khi Nhà nước thu hồi
đất của họ.

12

tài sản vô hình như mất công việc làm, mất cuộc sống ổn định…. Có thể nói hỗ trợ

13


là biện pháp bù đắp thêm cho bồi thường, để các quy định pháp luật về bồi thường
được hoàn thiện hơn, người bị thu hồi đất được đảm bảo hơn về quyền lợi của họ.
Do vậy, trong Luật đất đai năm 2013, tại Điểu 3 đã nêu rõ định nghĩa về việc
hỗ trợ khi thu hồi đất như sau: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ
giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển. Từ đây,
ta có thể hiểu: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là việc người có đất
nông nghiệp bị thu hồi được Nhà nước giúp đỡ khắc phục khó khăn, ổn định sản
xuất, đời sống và phát triển. Các chính sách hỗ trợ gồm: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ tái
định cư, hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống, hỗ trợ tạo việc làm và chuyển đổi nghề
nghiệp, các hỗ trợ khác.
1.1.5. Khái niệm về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Khi Nhà nước thu hồi đất, nếu bồi thường, hỗ trợ là hai khái niệm luôn song
hành với nhau và hỗ trợ bổ sung cho bồi thường thì “tái định cư” lại là khái niệm
nhỏ nằm gói gọn trong “hỗ trợ”. Trong đời sống hằng ngày và trong các văn bản
pháp luật, thuật ngữ “hỗ trợ tái định cư” trở nên quen thuộc với mọi người.
Vậy, cần hiểu như thế nào về TĐC? Nếu nói về ngôn ngữ thông thường thì
TĐC có thể hiểu là ổn định nơi ở trở lại, xây dựng lại. Từ trước cho đến nay, thuật
ngữ “tái định cư” đã được đề cập nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật
nhưng chưa có một định nghĩa cụ thể. Có thể hiểu tái định cư chỉ xảy ra khi Nhà
nước thu hồi đất ở của người sử dụng đất, khi đó Nhà nước phải thu xếp chỗ ở mới
cho họ có thể bằng diện tích đất ở, có thể bằng nhà ở tại khu tái định cư, hoặc cũng
có thể bằng tiền để người bị thu hồi đất tự lo chỗ ở mới.
Theo các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 47/2014/NĐ-CP
thì hỗ trợ tái định cư là một hình thức hỗ trợ, giúp đỡ người dân một phần cho gia
đoạn ban đầu khi bị chuyển đổi công việc đang có hay bị biến động quá trình sinh

thường về đất ở, nếu hộ gia đình, cá nhân đó không còn chỗ ở nào khác trong địa
bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho
thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. [9]
Như vậy, bản chất của TĐC là việc bồi thường về đất và tài sản trên đất cùng
với chi phí di chuyển, hỗ trợ ổn định lại cuộc sống. TĐC thông thường chỉ được thực
hiện khi Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở. Đối với
trường hợp thu hồi đất nông nghiệp thì theo pháp luật Việt Nam hiện nay thì người bị
thu hồi đất sẽ không được bố trí tái định cư. Điều này đã gây nhiều bất cập cho một số
hộ gia đình và cá nhân không có đất ở, họ sinh sống trên đất nông nghiệp nên khi bị thu

15


hồi đất, do không thuộc đối tượng được tái định cư dẫn đến họ vừa mất chỗ ở, vửa mất
kế sinh nhai khiến cho cuộc sống trở nên ngày càng khó khăn hơn.
1.2. Lý luận pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp
1.2.1. Sự cần thiết phải bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp
Đất nước là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọng để phát
triển đất nước (Điều 53 Hiến pháp 2013), việc Nhà nước ta thực hiện thu hồi đất nói
chung và thu hồi đất nông nghiệp nói riêng xuất phát từ nhiều lí do, có thể là do nhu
cầu, mục đích sử dụng đất của Nhà nước cũng có thể do sự vi phạm của người sử
dụng đất. Tuy nhiên, trong thực tế việc Nhà nước thu hồi đất chủ yếu đều xuất phát
từ mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế xã hội. Đất nước ta đang
trong giai đoạn phát triển, để thực hiện mục tiêu trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại vào năm 2020 [10, tr31] do vậy mọi nguồn lực của Nhà nước
đều được tập trung cho việc phát triển kinh tế xã hội. Mà trong đó, việc xây dựng,
hoàn thiện cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc phát triển các dự án kinh tế là điều tất
yếu, bởi cơ sở hạ tầng là tiền đề cho sự phát triển của kiến trúc thượng tầng.

thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì các quy định
pháp luật càng cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản.
Trước năm 2013, các quy định về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng thường được
nằm rải rác ở các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 như trong
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 (Điều 14) và Nghị định 197/2004/NĐCP ngày 3/12/2004 (Điều 18) thì khi Luật đất đai 2013 được ban hành, các nguyên
tắc này đã được Luật hóa thành các điều luật (Điều 74, Điều 83 và Điều 88) để các
cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia vào quan hệ bồi thường, hỗ trợ về đất
phải thống nhất thực hiện. Các nguyên tắc này gồm:
Thứ nhất, người bị thu hồi đất chỉ được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Vậy các điều kiện theo quy định pháp luật là những điều kiện nào? Theo quy
định của Luật đất đai 2013 thì việc bồi thường cho người bị thu hồi đất chỉ phát sinh

17


khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Tuy nhiên, người bị thu hồi đất để
được bồi thường, hỗ trợ thì phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định tại
Điều 75 Luật đất đai 2013. Đây là nguyên tắc được khẳng định tại Điều 74 của Luật
này. Ngoài ra, tại Điều 76 cũng quy định đối với các trường hợp không được bồi
thường về đất nhưng được bồi thường về chi phí đầu tư vào đất. Việc bồi thường về
tài sản gắn liền với đất và tài sản sản xuất, kinh doanh cũng được Nhà nước quy
định khi người bị thu hồi có đủ các điều kiện pháp luật quy định tại Điều 88.
Nếu bồi thường là việc Nhà nước trả lại những thiệt hại trực tiếp cho người
sử dụng đất do việc thu hồi đất gây ra thì ngoài ra người sử dụng đất khi bị thu hồi
đất còn được “Nhà nước xem xét hỗ trợ” (Điều 83 Luật đất đai 2013). Đặc biệt đối
với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp, thì Nhà nước ngoài việc bồi thường còn
phải hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, bố trí việc làm mới để người bị thu hồi đất ổn

Ngoài việc bồi thường về đất thì Nhà nước cũng không thể bỏ qua vấn đề bồi
thường về tài sản gắn liền với đất và tài sản sản xuất, kinh doanh. Nhà nước sẽ chỉ
bồi thường tài sản nếu chủ sở hữu tài sản đó hợp pháp và bồi thường sản xuất, kinh
doanh nếu việc thu hồi đất làm ngừng lại hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nói tòm lại, khi bị thu hồi đất người sử dụng đất sẽ được Nhà nước bồi
thường đảm bảo đầy đủ các thiệt hại nếu các thiệt hại đó xảy ra.
Thứ ba, Nhà nước bồi thường theo giá phù hợp với giá thị trường cho người
sử dụng đất khi bị thu hồi đất.
Đây là nguyên tắc đảm bảo ích lợi cho người sử dụng đất, để họ thấy rằng
Nhà nước bồi thường đất là thỏa đáng và họ sẵn sàng trả lại đất đã được giao. Luật
Đất đai 2013 quy định người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền theo giá đất
cụ thể của từng loại đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm thu hồ đất (Điều
74) và trong Nghị định số 47/2014/NĐ-CP cũng nêu rõ việc bồi thường cho chi phí
đầu tư vào đất còn lại được tính phải phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có
quyết định thu hồi đất (Điều 3). Như vậy, theo quy định thì giá bồi thường đất theo
giá thực tế bị thiệt hại. Tuy nhiên, trong thực tế thì giá bồi thường đất nông nghiệp
thường thấp hơn nhiều so với giá bồi thường đất phi nông nghiệp và đặc biệt là thấp
hơn nhiều nếu so với giá đất trên thị trường, ngoài ra thì việc người bị thu hồi đất
cũng không nhận được tiền bồi thường ngay tại thời điểm thu hồi mà họ thường

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status