Pháp luật về bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐỖ VĂN KHÁNH

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 83 80 101 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Thúy Nga

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Những thành tựu to lớn của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
trong quá trình đổi mới đất nước đã làm thay đổi diện mạo của các địa phương, thành
tựu về tăng trưởng kinh tế đã đưa hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo.
Với mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế, các chương trình xóa đói giảm
nghèo, trợ giúp những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội cũng được triển khai
trên phạm vi toàn quốc,Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia có tốc độ giảm
nghèo nhanh nhất thế giới. Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam – Andrew
Steer khẳng định: “Nói về thành tựu trong kinh tế, có thể đưa ra nhiều con số ấn
tượng: Tốc độ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam diễn ra rất nhanh, chỉ đứng sau
Trung Quốc, tỷ lệ người nghèo giảm đi với tốc độ thuộc loại nhanh nhất trên thế
giới; mức tăng trưởng xuất khẩu cao gấp hai lần so với mức trung bình của các
nước đang phát triển; trong vòng 10 năm, Việt Nam đã nâng tổng GDP của mình
lên gấp hai lần; tỷ lệ người lớn không biết chữ ở mức thấp nhất trong số các nước
đang phát triển. Nhưng tôi vẫn ấn tượng nhất đối với tốc độ giảm nghèo của Việt
Nam vì nó thể hiện những cam kết của Chính phủ đối với người dân, nhất là những
người ở các vùng xa xôi có nhiều thiệt thòi trong phát triển”8. Bên cạnh những
thành tựu đã đạt được, xét trên bình diện tổng thể, là một quốc gia phần lớn dân số
làm trong lĩnh vực nông nghiệp, dựa vào nền nông nghiệp còn chưa phát triển vẫn
lấy sức người là chính, máy móc chưa trở thành lực lượng chủ yếu trong sản xuất,
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên, công cuộc mưu sinh ở các địa phương hiện
nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, sự phân hóa xã hội ngày càng gia tăng, khoảng
cách thu nhập và điều kiện sống giữa các vùng miền, địa phương, thành thị và nông
thôn, nông dân và các ngành nghề khác còn chênh lệch nhiều, tỷ lệ thất nghiệp vẫn
còn cao, tình trạng nghèo và tái nghèo vẫn chưa được giải quyết triệt để, thành quả
đạt được của tăng trưởng, phát triển kinh tế chưa thực sự được phân phối một cách
hợp lý trong các đối tượng người nghèo và người yếu thế trong xã hội, vì thế sự
phân hóa xã hội ngày càng rõ rệt và phức tạp 16.


thấp và không ổn định, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Hộ nghèo còn
nhiều, việc giảm nghèo vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi. Hộ nghèo là đối
tượng ít được hưởng phúc lợi xã hội hơn cả. Những vấn đề xã hội dành cho hộ

2


nghèo chưa được giải quyết triệt để. Họ thường ở trong tình trạng thiếu việc làm,
phải di cư ra thành thị để tìm việc với giá lao động thấp. Bên cạnh đó là khả năng
cạnh tranh của lao động này còn thấp vì chưa đào tạo nên khó đáp ứng các yêu cầu
của thị trường lao động. Có thể nói hộ nghèo là đối tượng dễ gặp rủi ro nhất trong
xã hội, nhất là khi ốm đau việc khám và điều trị với chi phí hàng chục triệu đồng là
điều quá sức đối với hộ nghèo, hậu quả là vẫn còn rất nhiều hộ trong tình trạng đói
nghèo, không có nhiều cơ hội để duy trì cuộc sống và vươn lên theo mặt bằng
chung của đời sống dân sinh.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã
có nhiều chính sách quan tâm nhằm giải quyết các vấn đề của hộ nghèo trong đó
phải kể tới các chính sách về an sinh xã hội, trọng tâm hướng tới là pháp luật về
bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo, tuy nhiên trên thực tiễn việc triển khai thực hiện
vẫn chưa giải quyết được vấn đề một cách triệt để. Xuất phát từ cơ sở và thực
trạng đặt ra, tác giả lựa chọn chủ đề: “Pháp luật về Bảo hiểm y tế đối với hộ
nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn thạc
sĩ chuyên ngành luật kinh tế của mình.
2.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo hiểm y tế và hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế hướng tới đối tượng là
hộ nghèo là nhu cầu tất yếu khách quan của đời sống kinh tế - xã hội, quốc kế dân
sinh, trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu và nhiều quốc gia quan tâm về vấn đề

luật an sinh xã hội ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Nga qua đó trình bày
những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Pháp luật an sinh xã hội – Một số nghiên cứu so sánh và kiến nghị, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 11/2007 của PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu đã chỉ ra “An
sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy
công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Để chính sách này đảm bảo tốt hơn đời sống
cho người dân, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã hội, đẩy mạnh sự
nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thì việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
an sinh xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết”.
Quyền an sinh xã hội và đảm bảo thực hiện trong pháp luật Việt Nam (Sách
chuyên khảo) do nhà xuất bản ĐHQGHN, 2014 của PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu đã

4


đề cập đến vấn đề an sinh xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế từ khái quát đến cụ
thể nhất cho thấy “an sinh xã hội đã hình thành một hệ thống rộng lớn, gồm nhiều
nội dung, do nhiều văn bản pháp luật quan trọng, có tầm hiệu lực cao điều chỉnh,
tạo thành một mạng lưới pháp lý bảo vệ, bảo đảm đời sống của người dân trong xã
hội, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an toàn xã hội, đặc biệt là trong bối
cảnh nền kinh tế thị trường”.
Bảo hiểm y tế cho người nghèo ở tỉnh Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ Kinh
doanh và quản lý, Đại học quốc gia Hà Nội, 2014 của Nguyễn Thị Ái Linh đã làm
rõ hơn những vấn đề lý luận về bảo hiểm y tế nói chung và bảo hiểm y tế cho người
nghèo nói riêng. Thông qua đó phân tích thực trạng hoạt động bảo hiểm y tế cho
người nghèo ở tỉnh Nghệ An từ năm 2009 đến năm 2013, chỉ ra những hạn chế,
nguyên nhân, chỉ rõ những vấn đề cấp bách đặt ra đòi hỏi phải được giải quyết hiệu
quả. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động bảo hiểm y tế cho

với hộ nghèo và đánh thực trạng pháp luật về bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế đối với hộ
nghèo từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên.
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ
bản sau:
Một là, hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận pháp luật về bảo hiểm y tế đối
với hộ, bao gồm: Khái quát chung về bảo hiểm y tế, bản chất và tiêu chí đánh giá hộ
nghèo, nội dung pháp luật về bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về bảo hiểm y tế
đối với hộ nghèo và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, bao gồm: Thực
trạng cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; khó khăn
vướng mắc trong việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng
Yên; Nguyên nhân của những thành tựu và khó khăn, vướng mắc trong thực hiện
pháp luật về bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong giai
đoạn hiện nay.
Ba là, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo từ thực
tiễn tỉnh Hưng Yên.

6


4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo
hiểm y tế cho hộ nghèo. Đồng thời luận văn cũng tập trung vào nghiên cứu những
quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng
Yên hiện nay bao gồm: đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, đóng bảo hiểm y tế,
phương thức đóng, phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế, mức hưởng bảo hiểm y tế,
quỹ bảo hiểm y tế. Thôn qua đó đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật được thực

KHÁI QUÁT CHUNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Pháp luật bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo
1.1.1. Khái niệm về bảo hiểm y tế và pháp luật bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là thuật ngữ không còn quá mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, thuật
ngữ bảo hiểm y tế để có thể được hiểu một cách khái quát và chung nhất, dưới góc độ
của từng ngành, lĩnh vực còn có rất nhiều quan niệm khác nhau.
Để có một khái niệm chung về bảo hiểm y tế cần phải tìm về thời điểm xuất
hiện thuật ngữ này. Bảo hiểm y tế được đưa ra đầu tiên vào năm 1694 bởi Hugh the
elder Chamberlen: “Bảo hiểm y tế là hình thức chi trả chi phí y tế cho người được
bảo hiểm tính trên rủi ro sức khỏe đã được thỏa thuận khi mua bảo hiểm và số tiền
chi trả chi phí y tế phải cân đối với số phí bảo hiểm y tế mà những người tham gia
bảo hiểm đóng góp”[10].
Tại Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định những
quy chuẩn tối thiểu về an sinh xã hội (1952) có đề cập đến bảo hiểm y tế trong một
nội hàm chung “... là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khó về kinh
tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do
ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong,
sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả sự cung cấp các khoản tiền trợ giúp cho các gia
đình đông con”[10].
Dưới góc độ khác, Tuyên bố Alma-Ata năm 1978 về “Sức khỏe cho mọi
người” của tổ chức y tế thế giới WHO đưa ra “Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm
không kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc
độ quyền con người”6.
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: “Thực chất của bảo hiểm y tế
là chế độ khám chữa bệnh nằm trong chính sách bảo hiểm xã hội, nhưng do lịch sử
hình thành và phát triển ở nước ta có sự khác biệt và theo thói quen nên chúng ta

8

đưa ra một quan niệm chung nhất về “nghèo” xung quanh nó đã có rất nhiều quan
niệm và được tiếp cận dưới nhiều phương diện khác nhau theo hướng đa chiều.

9


Thuật ngữ nghèo dưới sự tiếp cận của các học giả để có một cái nhìn tổng quát nhất,
họ đã đưa ra các quan niệm sau đây:
Charles Booth (1840 – 1916) là tác giả một cuốn sách nhiều tập, nơi cung
cấp một cuộc khảo sát về cuộc sống và nghề nghiệp của tầng lớp lao động cuối thế
kỷ 19 ở London có tựa đề “The Life and Labour of the People in London” (Cuộc
sống và Lao động của người dân ở London) (1989 -1903) khi đưa ra khái niệm mức
nghèo, ông đã sử dụng thu nhập để làm thước đo nghèo đói theo đó một mức mà
dưới ngưỡng đó thì gia đình không thể có được những nhu cầu tối thiểu để tồn tại.
Trên cơ sở thu nhập đó ông đưa ra tính toán thu nhập để đáp ứng mức lương thiết
yếu của họ, cộng thêm các khoản chi quần áo và nhà ở.
Theo quan điểm của nhà xã hội học, nhà cải cách xã hội và nhà công nghiệp
người Anh – Benjamin Seebohn Rowntree (1871 -1954), trong cuốn sách “Nghèo,
Nghiên cứu thị trấn”, xuất bản 1901 đã cho rằng nghèo đói là tình trạng thiếu thốn
một số lượng tiền cần để “có được những thứ tối thiểu cần thiết cho việc duy trì thể
chất thuần túy”, số tiền cần thiết cho mức sống tồn tại này bao gồm nhiên liệu và
ánh sáng, tiền thuê nhà, thực phẩm, quần áo và đồ gia dụng và cá nhân, được điều
chỉnh theo quy mô gia đình, đây có thể được coi là một trong những tiêu chí làm
thước đo nghèo đói. Và ông cũng lập luận rằng nghèo đói là kết quả của tiền lương
thấp đi, ngược lại với quan điểm truyền thống cho rằng người nghèo chịu trách
nhiệm cho hoàn cảnh của chính họ.
Nghèo hiểu theo nghĩa tuyệt đối dưới quan điểm của Robert Mc Namara
(1916 – 2009) khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới để có cái nhìn tổng quan về
các vấn đề của các nước đang phát triển, ông định nghĩa:
“Nghèo ở mức độ tuyệt đối... là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.

Lao động quốc tế (ILO) quan niệm “ Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham
gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”.
Ranh giới nghèo tương đối dùng để chỉ trị số tiêu chuẩn cho trước được đưa
ra. “Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong chính trị và công
chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình,...Việc chọn lựa một con số phần
trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng đều
không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do. Vì thế mà chúng được
quyết định qua những quá trình chính trị”19.
Định nghĩa theo tình trạng sống dùng để chỉ “những khía cạnh khác ngoài
thu nhập khi định nghĩa “nghèo con người”, thí dụ như cơ hội đào tạo, mức sống,

11


quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định
chính trị và nhiều khía cạnh khác. Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc cũng đã
đưa ra chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI). Các chỉ thị
cho HDI bao gồm tuổi thọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn,
sức mua thực trên đầu người và nhiều chỉ thị khác. Trong “Báo cáo phát triển thế
giới 2000” Ngân hàng Thế giới đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách
quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng.
Định nghĩa nghèo cho tới nay chưa có định nghĩa chính thức tuy nhiên quan
niệm về nghèo đói trong Tuyên bố Liên Hợp Quốc, 06/2008 được lãnh đạo của tất
cả các tổ chức UNICEF (UN) thông qua hiện đang được các quốc gia thừa nhận:
“Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi
khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản
thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không
có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa
là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong điều kiện rủi ro, không

chính sách tăng trưởng kinh tế, khả năng ổn định thị trường, mức độ ổn định
chính trị, an ninh quốc phòng và hệ thống pháp luật luôn bất ổn, không hợp lý,
sự bất bình đẳng trong phân biệt chủng dân tộc, màu da và phân hóa giàu nghèo
giữa các vùng miền có tác động không nhỏ trở thành một trong những nguyên
nhân gây ra tình trạng đói nghèo.
Các nguyên nhân khác về mặt nhân học như tỷ lệ phụ thuộc với tỷ số người
không tham gia lao động (bao gồm cả người già và trẻ em) với số người tham gia
lao động không cân bằng trong trường hợp thu nhập từ người trong độ tuổi tham gia
lao động chính không bù đắp được các chi phí trong việc đáp ứng các nhu cầu tối
thiểu cho sinh hoạt, đương nhiên các hộ gia đình sẽ có khả năng rơi vào vòng đói
nghèo.Về mặt giới tính, những thành kiến đối với vai trò của phụ nữ trong xã hội
vẫn còn khắt khe, nữ giới thường gặp phải nhiều khó khăn, dễ rơi vào hoàn cảnh
nghèo hơn so với một hộ là nam giới làm chủ hộ trong khi người phụ đóng vai trò là
lực lượng sản xuất quan trọng trong gia đình, trong việc quản lý tài chính gia đình
cũng là một trong những tác nhân gây ra hiện tượng nghèo đói.
* Chuẩn nghèo và hộ nghèo
Chuẩn trong Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, Hà Nội -1995 được hiểu là một
mực thước chung để đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của một hệ thống. Chuẩn
thường được quy định bởi một cơ quan có thẩm quyền.

13


Tại Việt Nam ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các
tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội (Molisa). Chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
được xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu
vực và vùng miền khác nhau. Chuẩn nghèo là khái niệm dùng để chỉ các quy chuẩn,
thước đo, chỉ số quan trọng phản ánh mức sống của xã hội về sự thiếu hụt hoặc
không thỏa mãn được các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại và xu hướng tiếp cận


 Tiêu chí xác định hộ nghèo
Về phương pháp xác định hộ nghèo, theo nhóm các tác giả Florence
Morestin, Patricia Grant & Valéry Ridde - Trường Đại học Tổng hợp Montréal,
Canada, 2009, trong bài Báo cáo “Tiêu chuẩn và quy trình xác định người nghèo
là người thụ hưởng chương trình ở các nước đang phát triển” (“Les critères et
les processus d’identification des pauvres en tant que bénéficiaires de
programmes dans les pays en développement”) đã đưa ra các tiêu chuẩn và quy
trình để xác định hộ nghèo bao gồm:
Một là, quy trình xác lập các tiêu chí xác định người nghèo/hộ gia đình
Quy trình xác lập các tiêu chí xác định hộ gia đình bao gồm:
- Quy trình hành chính:
Đây là quy trình được thực hiện trực tiếp bởi các các cơ quan/đơn vị (có
thể là Chính phủ hoặc một Bộ/ngành hoặc cũng có thể là một tổ chức phi chính
phủ) quản lý các chương trình dành cho người nghèo. Các cơ quan/đơn vị quản
lý nghiên cứu xác lập bộ tiêu chí đánh giá xác định người nghèo/hộ gia đình. Ví
dụ, tại Ấn Độ, các tiêu chí xác định hộ gia đình được một nhóm chuyên gia xây
dựng và đề xuất Chính phủ ban hành.
- Quy trình cộng đồng:
Một số quốc gia sử dụng quy trình xác lập các tiêu chí xác định hộ gia
đình có sự tham gia của cộng đồng. Vì vậy các tiêu chí xác định hộ gia đình
được xây dựng trong quá trình tham vấn ý kiến của người dân. Ví dụ, để xây
dựng các tiêu chí xác định hộ gia đình, người ta đã tổ chức các cuộc thảo luận
với nhóm người dân (tại Bangladesh), hoặc thực hiện nhiều phương pháp khác
nhau như thảo luận nhóm người dân, phỏng vấn sâu, điều tra hộ gia đình,... (tại
Tanzania).

15



(đệm, quạt máy, tivi, đài, phương tiện vận
chuyển,…); Đất đai (hình thức sở hữu, diện tích,
mục đích sử dụng, loại đất,…); Phương tiện sản
xuất (thiết bị máy móc, gia súc, gia cầm,….).

2

Thành phần gia đình

Gồm các tiêu chí liên quan đến số lượng thành
viên của hộ; số lượng người sống phụ thuộc; chủ
hộ (tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ
học vấn,…).

3

Thu nhập

Các tiêu chí liên quan đến việc xác định: Khoản

16


Stt

Phân nhóm chỉ tiêu

Các tiêu chí đánh giá
thu nhập của cá nhân hoặc của hộ gia đình được
nhận hàng ngày/hàng tháng/hàng năm; lực lượng

Tình trạng sức khỏe

Có thể bao gồm : Tiếp cận thông tin về chăm sóc
sức khỏe; Tình trạng ốm đau, bệnh tật của các
thành viên trong hộ gia đình; Tình trạng khuyết
tật, tàn tật (về thể chất và tinh thần) ảnh hưởng
đến khả năng lao động của các thành viên trong
hộ gia đình,…

8

Giáo dục

Gồm các tiêu chí về: Trình độ văn hóa, trình độ
đào tạo của chủ hộ và các thành viên của hộ; Số
trẻ em bỏ học,…

9

Tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản và tín
dụng

Các tiêu chí thuộc nhóm này liên quan đến việc
đánh giá: Tình trạng sử dụng các dịch vụ về điện,
nước sạch, vệ sinh tại hộ gia đình; Khả năng vay
tín dụng của hộ, khả năng gửi tiền tiết kiệm,…
của hộ gia đình.

17

(1) Tín dụng vi mô thể hiện là một cơ chế mang tính kinh tế và có hiệu quả
để đấu tranh chống đói nghèo trên thế giới, chính vì vậy, việc xác định đúng đối
tượng được hưởng lợi là rất quan trọng. Tại Hội nghị Thượng đỉnh về tín dụng vi
mô được tổ chức tại Abidjan, Côte d’Ivoire – Pháp năm 2000, tác giả Anton
Simanowitz đã đề cập đến vấn đề “Làm thế nào để loại bỏ những rào cản trong việc
xác định các hộ nghèo nhất”. Tác giả này đã đưa ra 2 phương pháp xác định nghèo
đói cho phép xác định một cách có hiệu quả những hộ rất nghèo. Đó là:
Xác định hộ gia đình bằng cách sử dụng chỉ số về Nhà ở của CASHPOR
(CASHPOR Housing Index – CHI) và Phương pháp xác định hộ gia đình bằng cách
sử dụng bảng xếp hạng, bao gồm các chỉ số về sự giàu có (Participatory Wealth
Ranking – PWR). Cả hai phương pháp trên đều căn cứ trên các thông tin sẵn có, thu
thập các dữ liệu tối thiểu cần thiết để phục vụ cho quá trình đánh giá và khuyến
khích những cá nhân/hộ gia đình rất nghèo cùng tham gia vào quá trình đánh giá.

18


(2) Xác định hộ gia đình bằng cách sử dụng chỉ số về nhà ở của CASHPOR.
Chỉ số nhà ở của CASHPOR này đã được sử dụng trong xác định hộ gia đình
tại Trung Quốc và khu vực miền Nam Ấn Độ (Xem Phụ lục Bảng số 3.1) Phương
pháp này được thực hiện theo 3 giai đoạn như sau : (i) Xác định các khu vực có tỷ lệ
nghèo cao; (ii) Sử dụng yếu tố nhà ở của hộ gia đình như là một chỉ số proxy để loại
trừ các hộ gia đình không có biểu hiện của nghèo đói; (iii) Tiến hành phỏng vấn các
hộ gia đình còn lại, hoặc đánh giá tài sản thực của hộ để xác định các tài sản của hộ
theo các tiêu chí đề ra.
Khi sử dụng phương pháp này, cần xác định các chỉ số liên quan đến điều kiện
nhà ở và điểm số cho mỗi chỉ số liên quan để tính điểm cho hộ gia đình. Ngưỡng
điểm chuẩn để phân loại hộ: (i) Từ 3 điểm trở xuống: Hộ chắc chắn rất nghèo. (ii) Từ
4 đến 6 điểm: Hộ gia đình. (iii) Trên 6 điểm: Hộ chắc chắn không nghèo.
Như vậy, tổng số điểm của hộ gia đình sẽ được so sánh với ngưỡng điểm

trong cộng đồng và họ có thể tự do lựa chọn các tiêu chí đánh giá theo quan điểm
của mình.
Bốn là, công cụ xác định hộ rất nghèo (danh mục các chỉ số kiểm chứng)
Việc lựa chọn danh mục các chỉ số kiểm chứng tình trạng nghèo đói của các
hộ gia đình phụ thuộc nhiều vào quan niệm, cách nhìn nhận về nghèo đói của từng
địa phương. Đồng thời, việc xác định những đặc trưng chủ yếu riêng của địa
phương trong mọi trường hợp đều có thể đo lường được qua các chỉ tiêu gián tiếp
đơn giản. Các chỉ tiêu này có thể được phân thành 4 lĩnh vực chính như sau:
- Các chỉ tiêu về thu nhập và chi tiêu;
- Các chỉ tiêu về điều kiện kinh tế;
- Các chỉ tiêu về xã hội;
- Các chỉ tiêu về các yếu tố nghèo theo nghĩa rộng.
Nhóm chỉ tiêu này phổ biến được dùng đánh giá ở cấp độ cộng đồng và liên
quan đến khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ gia đình: tiếp cận dịch
vụ y tế, giáo dục, nước sạch, điều kiện tự nhiên,…
Nhìn chung:
 Về các tiêu chí xác định hộ gia đình
Thực tế là không thể liệt kê được hết các tiêu chí phản ánh được đầy đủ các khía
cạnh cuộc sống của mỗi cá nhân/hộ gia đình. Việc lựa chọn và tối đa hóa các tiêu chí
đánh giá căn cứ vào bối cảnh kinh tế – xã hội đặc trưng của mỗi vùng, mỗi quốc gia là vô

20


cùng cần thiết để có thể phản ánh được rõ nét nhất các điều kiện và tính đa chiều của tình
trạng nghèo đói. Chính vì vậy, các tiêu chí đánh giá được lựa chọn cần thiết phải đáp
ứng được những yêu cầu sau:
- Các tiêu chí để xác định cần phải được rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu;
- Các tiêu chí cần phải mang tính đại diện, phổ biến và đảm bảo có sự tương
quan với nghèo đói và đảm bảo phản ánh nhiều chiều cạnh khác nhau của nghèo đói;

- Tiêu dùng cá nhân: Được thể hiện thông qua thu nhập và chi tiêu của mỗi
cá nhân hoặc của hộ gia đình.
- Hưởng và sở hữu các nguồn lực: Nguồn lực ở đây được hiểu gồm nguồn
lực kinh tế (vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất) và nguồn lực phi kinh tế (vốn
con người, vốn xã hội). Nguồn lực này là cần thiết cho mỗi cá nhân/hộ gia đình để
có thể tồn tại.
- Tiếp cận các dịch vụ do Nhà nước cung cấp: Mỗi cá nhân có cơ hội, khả
năng tiếp cận được các dịch vụ xã hội công cơ bản như giáo dục, y tế,…
- Việc làm: Mỗi cá nhân có được cơ hội có việc làm tạo thu nhập để có thể
ổn định cuộc sống, hoà nhập xã hội.
- Nhân cách: Mỗi cá nhân có quyền và cơ hội khẳng định vị trí, vai trò,
nhân cách của mình trong xã hội.
- Quyền tự chủ: Mỗi cá nhân có quyền tự do, tự quyết định và tự chịu trách
nhiệm trong mọi hoạt động phù hợp với các giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội.
- Giải trí: Mỗi cá nhân có quyền nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tham gia các
sinh hoạt xã hội,… phù hợp với các giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội”5.
Như vậy, cách đánh giá và xác định người nghèo, hộ nghèo đã có chuyển
biến theo hướng tiếp cận rộng hơn các chiều cạnh phát triển toàn diện của con
người hay nói một cách khác là tiếp cận theo hướng đa chiều nhằm khắc phục
những giới hạn về các tiêu chí trước đã đưa ra theo một tiêu chí đơn giản chỉ là
những người hoặc hộ gia đình gặp khó khăn về kinh tế và không đủ khả năng tài
chính để có thể duy trì mức sinh hoạt tối thiểu của cá nhân hay của hộ gia đình. Vì
thế, ở mỗi quốc gia cần phải căn cứ vào sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa – xã
hội, giáo dục,... ở từng giai đoạn để có thể đưa ra các tiêu chí và quy trình xác định
người nghèo, hộ nghèo trong việc xây dựng các quan niệm về chuẩn nghèo, ngưỡng
nghèo làm thước đo sao cho phù hợp, đúng đối tượng.
 Quan niệm về chuẩn nghèo

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status