SKKN TÍCH hợp KIẾN THỨC LIÊN môn NGỮ văn, địa lí TRONG dạy LỊCH sử 10, 11, 12 ở TRƯỜNG TRUNG tâm GDNN GDTX ĐÔNG sơn - Pdf 57

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Lịch sử cũng như các môn học khác, có vai trò tác động đến con người
không chỉ về trí tuệ mà còn cả về tư tưởng, tình cảm. Bên cạnh đó, còn góp phần
xây dựng con người phát triển hoàn thiện về: “ĐỨC-TRÍ-THỂ-MĨ”. Ở những
mức độ khác nhau. Nếu Văn học giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong
thơ ca để càng yêu quý hơn con người, dân tộc Việt nam thì thông qua Lịch sử,
các em không chỉ thấy được quá trình phát triển của đất nước, một dân tộc mà
rộng hơn là cả một xã hội loài người. Ngoài ra nó còn góp phần quan trọng trong
việc hình thành, bồi dưỡng nhân sinh quan, thế giới quan khoa học. Như vậy, so
với các môn học khác thì môn Lịch sử có nhiều ưu thế trong việc giáo dục tư
tưởng, tình cảm đối với thế hệ trẻ. Những kiến thức Lịch sử không chỉ đơn thuần
dạy cho các em biết yêu, ghét trong đấu tranh giai cấp, biết yêu quý lao động mà
còn góp phần định hình cho học sinh cách ứng xử đúng đắn trong cuộc sống.
Bởi “ Bắt nguồn từ một sự thực là trong khoa học Lịch sử có những yếu tố nghệ
thuật”.
Mặc dù có vai trò, chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục thế hệ
trẻ, nhưng hiện nay, việc dạy học Lịch sử chưa hoàn thành tốt vai trò của mình
và một thực tế đáng buồn là học sinh không thích học môn Lịch sử, xem nhẹ
môn Lịch sử. Các em tiếp thu kiến thức một cách hời hợt, thiếu chính xác, thiếu
hệ thống. Vì đa phần các em cho rằng học Lịch sử phải ghi nhớ quá nhiều sự
kiện khô khan, Lịch sử là một môn học nghiên cứu về quá khứ mà quá khứ là
cái đã qua không thể thay đổi nên chỉ học cho qua chứ không có gì vận dụng vào
thực tế.
Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân gây nên song cơ bản không phải do
bản thân môn Lịch sử mà do quan niệm, phương pháp dạy học chưa phù hợp,
chưa đáp ứng được yêu cầu môn học đề ra. Giáo viên dạy Lịch sử chưa phát huy
được thế mạnh của bộ môn, chưa chỉ ra cho các em nhận thức được đây là bộ
môn khoa học, cần phải só sự học tập, nghiên cứu nghiêm túc. Giáo viên chưa
thể hiện được không khí của lịch sử trong giờ học nên để học sinh rơi vào tình
trạng thụ động, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh làm cho không

thời cổ đại đến thời cận đại, hiện đại.
- Mở rộng, lý giải, bình luận, đánh giá các sự kiện lịch sử thế giới từ thời cổ
đại đến thời cận đại, hiện đại, từ đó liên hệ tình hình trong nước.
Liên hệ, so sánh, hướng dẫn, phân loại các hiện tượng, vấn đề lịch sử để
có thể giải quyết các câu hỏi, tình huống khó.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực
khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Trong dạy học (DH) các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp
các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền
thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung
cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung
giáo dục dân số, giáo dục môi trường, giáo dục an toàn giao thông trong các
môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích
hợp từ các môn học truyền thống.
Dạy học tích hợp trong nhà trường sẽ giúp học sinh học tập thông minh và
vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng, phương pháp của khối lượng tri thức toàn
diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ
trong cuộc sống hiện đại.

2


Dạy học liên môn Văn-Sử-Địa là một trong những nguyên tắc quan trọng
trong dạy học nói chung và dạy học Lịch Sử nói riêng, đây được coi là một quan
niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng
cao chất lượng giáo dục.
Từ năm học 2012 – 2013, Bộ GD&ĐT đã đưa vấn đề vận dụng kiến thức

2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Với chương trình lịch sử lớp 10
Bài 5: “Trung Quốc thời phong kiến”. Ở bài này, kiến thức địa lí được vận
dụng để xác định lược đồ, bản đồ Trung Quốc thời phong kiến, về Vạn lí trường

3


thành thời Tần ...Từ đó học sinh hiểu được tình trạng cát cứ của Trung Quốc
trước thời Tần và tại sao nhà Tần xây dựng Vạn lí trường thành.

Vạn lí trường thành của Trung Quốc
Kiến thức văn học sẽ hỗ trợ học sinh mở rộng và khắc sâu hơn về sự phát
triển của Trung Quốc thời Đường. Ví dụ: Thơ Đường phát triển rực rỡ. Học sinh
có thể liên hệ các bài thơ nổi tiếng của Lí Bạch (“Xa ngắm thác núi Lư”), Đỗ
Phủ (“Bài ca nhà tranh bị gió thu phá”), Bạch Cư Dị (“Tì bà hành”). Hoặc liên
hệ kiến thức liên môn, học sinh hiểu rõ hơn về lịch sử Trung Quốc thông qua
nhận thức thành tựu văn hóa Trung Quốc thời Minh-Thanh. Các bộ tiểu thuyết
nổi tiếng, như: Tam quốc diễn nghĩa miêu tả cuộc đấu tranh về quân sự, chính trị
phức tạp giữa ba nước Ngụy, Thục, Ngô, liên hệ trong văn học với đoạn trích
“Hồi trống cổ thành”; Tác phẩm Thủy hử tường thuật cuộc khởi nghĩa nông dân
do Tống Giang lãnh đạo chống chế độ phong kiến của nông dân Trung Quốc...

Tam quốc diễn nghĩa- La quán Trung
4


Thủy Hử- Thi Nại Am
Bài 11: “Tây Âu thời hậu kì trung đại”. Ở bài này, kiến thức địa lí được
vận dụng dùng lược đồ để xác định các cuộc phát kiến địa lí lớn trên thế giới.

quyết chiến chiến lược, hướng tiến công của ta và của địch của địch…
Kiến thức văn học sẽ hỗ trợ nhằm hiểu rõ tinh thần yêu nước của nhân
dân ta cùng với chiến lược đánh giặc của các vị tướng. Ví dụ, phần cuộc kháng
chiến chống Tống thời Lí, Lí Thường Kiệt đã sử dụng chiến thuật chiến tranh
tâm lí, đọc bài thơ “Nam quốc sơn hà” để khích lệ quân ta đánh giặc và làm nao
núng tinh thần quân giặc; hoặc trong kháng chiến chống Mông – Nguyên, bài
“Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn đã thể hiện rõ tinh thần yêu nước, lòng căm
thù giặc của tướng sĩ và quân dân Đại Việt ta đương thời.

Nam quốc sơn hà

Hịch tướng sĩ

Bài 25: “Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ
Tổ quốc cuối thế kỉ XVIII”. Ở bài này, kiến thức địa lí được vận dụng dùng lược
đồ để xác định về công cuộc thống nhất đất nước cuối thế kỉ XVIII, các trận
quyết chiến chiến lược, hướng tiến công của ta và của địch…

7


Kiến thức văn học sẽ hỗ trợ học sinh hiểu rõ công lao của Quang Trung –
Nguyễn Huệ qua một số vần thơ, như “Anh hùng áo vải, Đánh bại quan Thanh,
Lên ngôi hoàng đế”, “Một trận rồng lửa giặc tan tành, Bỏ thành cướp đó trốn
cho nhanh, Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến, Trăm họ chật đường vui tiếp
nghênh...”.
8


Chân dung anh hùng áo vải Nguyễn Huệ

đắng đã chia phần hạnh phúc, Sao vàng bay theo liềm búa công nông, Luận
cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc, Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin, Bốn bức
tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp, Tưởng bên ngoài, đất nước đợi
mong tin...”. Những tư tưởng vĩ đại của Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga
10


có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến trình cách mạng thế giới và cách mạng
Việt Nam.

Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga
Bài 21: « Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong
những năm cuối thế kỉ XIX ». Ở bài này, kiến thức địa lý được vận dụng dùng
lược đồ để xác định phong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX. Qua
lược đồ, học sinh có thể khai thác nơi diễn ra vụ biến Kinh thành Huế, nơi ban
chiếu Cần vương, toàn cảnh diễn biến phong trào Cần vương, nơi có cuộc khởi
nghĩa tiêu biểu,...

Lược đồ khởi nghĩa phong trào Cần Vương
Kiến thức văn học được vận dụng giúp học sinh hiểu hơn về lãnh tụ cuộc
khởi nghĩa Hương Khê (Phan Đình Phùng): “Cần vương xuống hịch ruổi sao,
Phải lấy máu đào đền đáp giang sơn, Mười lăm quân thứ rõ ràng, Suốt từ
Thanh Hóa đi sang Quảng Bình, Trong tay mấy vạn tinh binh, Đã trừ quân đạo
lại bình quân Tây”.
11


Bài 23: « Phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đến Chiến tranh
thế giới thứ nhất (1914) ». Kiến thức văn học được vận dụng giúp học sinh hiểu
hơn về hai nhân vật yêu nước kiệt xuất đầu thế kỉ XX (Phan Bội Châu, Phan

dụng công nghệ thông tin, máy chiếu sẽ chiếu rõ hành trình 30 năm ra đi tìm
đường cứu nước của Bác, qua khắp Âu – Á – Mĩ - Phi.
Kiến thức văn học được vận dụng giúp học sinh hiểu sâu hơn tại sao
Nguyễn Tất Thành lại quyết định ra đi tìm đường cứu nước, ví như “Đất nước
đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi, Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn
Bác, Khi bờ bãi dần lui, làng xóm khuất, Bốn phía nhìn không bóng một hàng
tre. Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ? Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê
hương! Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở, Xa nước rồi, càng hiểu nước đau
thương...” (trích “Người đi tìm hình của nước” – Chế Lan Viên). Kiến thức văn
học cũng được vận dụng khi Bác đọc được Luận cương Lê nin, tìm thấy con
đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam “Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người
đã khóc, Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin. Bốn bức tường im nghe Bác lật từng
trang sách gấp, Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin...” (trích “Tiếng hát
con tàu” – Chế Lan Viên). Học sinh sẽ có cách nhìn toàn diện hơn về cuộc đời
hoạt động của Bác Hồ.
Bài 16: «Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám
(1939-1945)». Ở bài này, kiến thức địa lí được vận dụng dùng lược đồ để xác
định Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Khai thác lược đồ, học sinh xác định
được Tổng khởi nghĩa tháng Tám diễn ra đồng loạt trên cả nước và ở từng địa
phương, xác định được Khu giải phóng Việt Bắc... về Cách mạng tháng Tám ở
Thủ đô Hà Nội, Huế, Sài Gòn, học sinh hình dung ra khí thế cách mạng sôi sục
của dân tộc.
Kiến thức văn học được vận dụng giúp học sinh khắc sâu sự kiện Bác Hồ
về nước ngày 28/01/1941 bằng câu thơ Tố Hữu: “Ôi sáng xuân nay, Xuân 41,
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ, Bác về, im lặng, con chim hót, Thánh thót bờ
lau vui ngẩn ngơ...”. Ngoài ra, tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” trong chương
trình Văn học 12 cũng được vận dụng để học sinh khắc sâu sự kiện Nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 02-9-1945: “Hỡi đồng bào cả nước, Tất cả
mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không
ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự

vang của dân tộc. Đó là chiến thắng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ.
“Cắm cờ lên đỉnh cuối cùng, Tăng về nép dưới bóng rừng nghỉ ngơi, Cửa tròn
vừa mới hé thôi, Nhô đầu ra, ngập một trời tiếng ve, Hình ảnh đẹp góp phần
quan trọng làm nên chiến thắng là cô giáo liên Trường Sơn: Vẫn nguyên vành
mũ lá sen, Vẫn đôi dép lốp vốn quen đường rừng, Vẫn quân phục cũ nửa chừng,
Dáng em không lẫn giữa rừng người chen” (“Tiếng ve trưa”- Vương Trọng:
Trên đường phố Sài Gòn).
2.4. Hiệu quả của sáng kiến:
2.4.1. Bài học kinh nghiệm
- Giáo viên tâm huyết với nghề, không ngừng trao đổi kinh nghiệm giảng
dạy, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học. Nắm bắt về lí luận và kiến
thức, kĩ thuật dạy học liên môn.
- Sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ quá trình tìm tòi kiến thức, cập nhật
tác phẩm Văn học, Địa lý gắn liền với kiến thức Lịch sử; rút kinh nghiệm qua
từng tiết học, ứng dụng Văn học, Địa lý vào giảng dạy cho phù hợp.
- Thường xuyên đánh giá học viên qua từng tiết học, rút kinh nghiệm kịp
thời.
2.4.2. Kết quả
16


Khi thực hiện giảng dạy tích hợp kiến thức môn lịch sử với các bộ môn
Ngữ văn, Địa lý ở trường Trung tâm GDNN-GDTX Đông Sơn, bước đầu đã thu
được kết quả nhất định :
Để kiểm tra kết quả của việc giảng dạy tích hợp bộ môn Lịch sử, tôi đã tổ
chức lấy ý kiến của học sinh các khối lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy về hứng thú
học bộ môn lịch sử. Kết quả cụ thể như sau :
Bảng 1 : Ý kiến của học sinh trước và sau khi thực hiện phương pháp
giảng dạy tích hợp :



Tổng
số

%

Rất thích

Không
thích

Thích

SL

%

SL

%

K.11

52

10

19,2%

42


35

72,9%

13

27,1%

K.10

42

15

35,7%

27

64,3%

K10

141

11
0

78%


lớp
số

Năm học 2017 - 2018

Năm học 2018 - 2019

Mức độ

Mức độ

Rất thích

Thích

SL

%

SL

%

Không
thích
SL

Khối
lớp


30

75%

10

35%

K.12

71

25

35,2%

46

64,8%

K.12

48

35

72,9%

13


50

30,3% 115 69,7%

54

23,6%

Cộng 229

175 76,4%

Không
thích

Thích

SL

17

%


3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Dạy học liên môn là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung
và trong dạy học Lịch Sử nói riêng. Tuy nhiên để thực hiện tốt và có hiệu quả
đòi hỏi sự nỗ lực ở cả thầy và trò. Và việc thực hiện nó không phải bài nào,
không phải phần nào cũng thực hiện được.

hứng thú trong học tập bộ môn Lịch sử.
Trong khuôn khổ của một SKKN cấp ngành, với thời gian không nhiều,
chắc chắn những vấn đề nêu ra cần phải được tìm hiểu, nghiên cứu và bổ sung
18


nhiều hơn. Hy vọng người viết sẽ nhận được những ý kiến đóng góp chân tình,
khách quan từ phía các đồng nghiệp, các cấp lãnh đạo để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 27 tháng 3 năm 2019
XÁC NHẬN CỦA GIÁM ĐỐC

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
NGƯỜI VIẾT

Trần Thị Thủy

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách Giáo khoa Lịch sử lớp 10, 11, 12 (Chương trình THPT, ban Cơ bản, tái
bản 2018).
2. Sách Giáo khoa Ngữ văn, Địa lí, GDCD lớp 10, 11, 12 (Chương trình THPT,
ban Cơ bản, tái bản 2018).
3. Tập Bản đồ Giáo khoa Lịch sử THPT.
4. Tìm kiếm thông tin trên mạng Intrenet.
5. 10 sự kiện nổi bật trong nước năm 2018 (thông tin mạng Intrenet).
6. 10 sự kiện nổi bật thế giới năm 2018 (thông tin mạng Intrenet).

Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
Năm học đánh
xếp loại
(Phòng, Sở,
giá xếp loại
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

1.

Phương pháp gây hứng thú
học tập môn Lịch sử 11 qua
khắc họa sâu sắc biểu tượng
nhân vật lịch sử.

Hội đồng
Loại C
khoa học Sở
GD&ĐT
Thanh Hóa

2012 - 2013

2.

Nâng cao hứng thú học tập
môn Lịch sử Việt Nam giai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status