1. Mở đầu
- Lý do chọn sáng kiến:
Kĩ năng sống còn có thể được coi như là những nhịp cầu giúp con người
biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có
kĩ năng phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách…Ngược
lại người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc
sống. Người không có kĩ năng ra quyết định sẽ dễ mắc sai lầm hoặc chậm trễ
hơn những người khác và thường có cách ứng phó tiêu cực khi bị căng thẳng,
làm ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ, học tập, công việc của bản thân.
Người không có kĩ năng giao tiếp sẽ khó khăn hơn trong xây dựng các
mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, sẽ khó khăn hơn trong hợp tác
cùng làm việc, giải quyết những nhiệm vụ chung.
Bậc học tiểu học là bậc học nền tảng tạo cơ sở cho học sinh phát triển học
tiếp các bậc học tiếp theo, vì vậy bên cạnh việc trang bị cho học sinh những vốn
kiến thức kĩ năng cơ bản trong học tập, lao động còn cần phải chú ý đến việc rèn
kĩ năng sống cho học sinh, dạy học sinh cách “làm người”, để học sinh có thêm
vốn kinh nghiệm thích ứng với môi trường mới, yêu cầu mới.
Trước đây, nền giáo dục của Việt Nam chỉ tập trung vào việc truyền thụ
kiến thức cho học sinh. Học chỉ để làm giàu thêm vốn kiến thức cho bản thân
mình. Còn lại kĩ năng sống thì tự bản thân các em phải tiếp xúc với kho kiến
thức vô hạn đó là cuộc sống. Trong những năm trở lại đây, giáo dục phổ thông
đã và đang từng bước đổi mới theo hướng từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh. Ngoài việc giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh thông qua một số tiết học cụ thể thì việc giáo dục kĩ
năng sống được tích hợp trong nhiều môn học, trong đó có môn Tiếng Việt. Giáo
dục kĩ năng sống qua môn Tiếng Việt có nhiều thuận lợi vì bản thân nội dung bài
học đã buộc học sinh phải vận dụng rất nhiều kĩ năng ( Tư duy sáng tạo, xúc
cảm, trình bày suy nghĩ, giải quyết vấn đề,...)
Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này nhưng kĩ năng sống phụ
thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh sống. Có những phương pháp thì phù hợp với
học sinh ở vùng miền này, nhưng cũng có những phương pháp không áp dụng
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2
Môn Tiếng Việt theo chương trình trường tiểu học mới VNEN có một vị
trí quan trọng trong giáo dục ở Tiểu học, điều đó được thể hiện ở thời lượng
giảng dạy trong từng khối lớp và nó làm công cụ để học các môn học khác. Mục
tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt
( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt theo chương trình trường tiểu
học mới VNEN góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác của tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt
Nam và nước ngoài.
- Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước và hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện tốt mục tiêu của môn Tiếng Việt, người giáo viên phải thực
hiện đổi mới các phương pháp dạy học theo mô hình học tập kiểu mới VNEN,
sao cho học sinh là người chủ động nắm bắt kiến thức của môn học một cách
tích cực, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, tự phát
hiện và tự giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học. Từ đó chiếm lĩnh nội dung mới
của bài học, môn học.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Thực hành thảo luận nhóm
Chưa biết cách lắng nghe, hay tách ra
Tổng số Biết cách lắng nghe, hợp tác
khỏi nhóm
học sinh
SL
%
SL
%
65
35
53,8
30
46,2
Tổng số
học sinh
Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể
Biết cách ứng xử hài hòa, khá
Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi.
phù hợp.
65
SL
%
%
%
Phẩm chất
Tự học,
GQVĐ
SL
Chăm
học,
chăm làm
Tự tin,
trách
nhiệm
%
Trung
thực, kỉ
luật
SL
%
Đoàn
kết , yêu
thương
%
38,5 20
30,8
65
Đạt
35
53,8 35
53,8 35
53,8 35
53,8 35
53,8 35
53,8 25
53,8
65
Chưa 5
đạt
chậm.
2.2.2. Thuận lợi.
Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp giáo dục về việc nâng cao tầm
quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống. Ngoài việc giáo dục kĩ năng sống
theo tài liệu riêng, Phòng Giáo dục và Đào tạo cũng như nhà trường cũng
khuyến khích giáo viên giáo dục kĩ năng sống lồng ghép qua các môn học. Chỉ
đạo chuyên môn và tổ chuyên môn cũng đã có kế hoạch bồi dưỡng thường
xuyên về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
4
Trường áp dụng dạy học theo mô hình VNEN nên đây là một trong những
thuận lợi để giáo viên phát huy hết khả năng của mình trong việc giáo dục kĩ
năng sống. Bởi cốt lõi của mô hình VNEN đã tích hợp khá nhiều kĩ năng cho
học sinh trong nhiều môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt.
Giáo viên nhiệt tình, có chuyên môn vững vàng, luôn nỗ lực học hỏi để
tìm kiếm, sáng tạo các biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng sống cho học sinh.
Một số học sinh có ý thức trong việc lĩnh hội kiến thức cũng như tích luỹ
kĩ năng sống cho bản thân. Một số em có kĩ năng sống cơ bản tương đối tốt, có
một số năng lực khá cao.
2.2.3. Khó khăn.
Một thực trạng hiện nay cho thấy nhiều người nhầm kĩ năng sống là dũng
cảm, kiên trì,... Đây chỉ là các phẩm chất đạo đức, nó góp phần cho việc thực
hiện các kĩ năng sống chứ không phải chúng là các kĩ năng sống. Chính vì thế
các em học sinh đều chưa tích luỹ được cho mình các kĩ năng sống cần thiết.
Chúng mới chỉ có các kĩ năng sống theo bản năng mà thôi.
Thời gian lồng ghép trong một tiết học ít chưa đủ để giáo viên tổ chức hết
các hoạt động. Để tích hợp thêm kĩ năng sống thì giáo viên phải lồng ghép vào
phần liên hệ hay hoạt động khởi động, củng cố, ứng dụng.
Một bộ phận không nhỏ phụ huynh khoán trắng việc nuôi dạy con cho
dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 trong chương trình VNEN tại trường tiểu học
Bắc Sơn.
2.3.1 Giải pháp 1: Giáo viên nắm vững khái niệm về kĩ năng sống và
các nội dung tích hợp trong môn Tiếng Việt.
2.3.1.1 Nắm vững khái niệm về kĩ năng sống.
Trước hết để giáo dục kĩ năng sống thì bản thân chúng ta phải hiểu rõ kĩ
năng sống là gì?
Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích
nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu
cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Trong giáo dục tiểu học và giáo
dục trung học, kĩ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn
luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc
sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn
đạt, và kĩ năng tổ chức.
Kĩ năng sống thực sự bao gồm:
Kĩ năng thoát hiểm: Trong tai nạn hay tình huống nguy hiểm xảy ra, nếu
giỏi văn, giỏi toán mà không biết cách thoát hiểm thì cái giỏi kia trở nên công
cốc. Lúc bấy giờ, việc cần làm là phải biết cách thoát ra khỏi nơi nguy hiểm một
cách an toàn và hiệu quả. Những kĩ năng này bao gồm: thoát khỏi hỏa hoạn,
ngập lụt, động đất, tai nạn thương tích, xâm hại hay bắt cóc. Đặc biệt thời gian
gần đây, tình trạng băt cóc và xâm hại trẻ em đang là vấn đề nhức nhối. Vì vậy
kĩ năng để thoát khỏi những tình huống này là hết sức cần thiết. Đây là những kĩ
6
năng vô cùng quan trọng mà khi đối mặt với hiểm nguy ta mới thấy việc hiểu
biết về nó thật sự là tài sản quý giá nhất trong kho tàng hiểu biết của mỗi cá
nhân.
Kĩ năng ứng phó, ứng biến: Nhiều tình huống không phải là nguy hiểm
nhưng tiềm tàng mối hiểm nguy, nếu biết cách ứng xử phù hợp thì thiệt hại sẽ là
7
Hy sinh bản thân vì tập thể: Đôi khi trong cuộc sống, hy sinh cái tôi của
chính mình sẽ đem lại lợi ích to lớn cho tập thể và cộng đồng. Nếu trẻ nhỏ hiểu
được điều này, không những trẻ đóng góp được nhiều công sức cho đất nước mà
còn giúp xác định được lý tưởng sống và xây dựng khát vọng sống.
2.3.1.2. Nắm các nội dung tích hợp trong môn Tiếng Việt
Giáo viên cần có kế hoạch về toàn bộ nội dung giáo dục kĩ năng sống tích
luỹ trong chương trình môn Tiếng Việt. Cụ thể như sau:
BÀI
1A
1B
1C
NỘI DUNG BÀI
Thương người như thể
thương thân
Thương người, người
thương
-Thể hiện thông cảm
- Xác định giá trị
- Tự nhận thức về bản thân
Làm người nhân ái
2A
Làm người chính trực
( Tiết 1)
4B
Con người Việt Nam( Tiết
1,2,3)
5A
Làm người trung thực, dũng
cảm ( Tiết 1)
- Biết thể hiện và thuyết phục người
khác.
- Thể hiện thông cảm
- Tự nhận thức về bản thân
- Tìm kiếm và xử lí thông tin
- Tư duy sáng tạo
- Ứng xử lịch sự trong giao tiếp
- Thể hiện sự cảm thông
- Xác định giá trị
- Tư duy sáng tạo
- Tìm kiếm và xử lí thông tin
- Thể hiện và thuyết phục người
khác
- Tự nhận thức về bản thân
- Tư duy phê phán
- Biết hi sinh bản thân vì tập thể
- Thể hiện và thuyết phục người
7A
Ước mơ của anh chiến sĩ
- Hy sinh bản thân vì tập thể
( Tiết 1)
7C
Bạn mơ ước điều gì
( Tiết 1)
9A
Những điều em mơ ước
( Tiết 1)
- Xác định giá trị
- Đảm nhận trách nhiệm (xác định
nhiệm vụ của bản thân)
- Xác định phương hướng.
- Tư duy sáng tạo, phân tích, phán
đoán
- Thể hiện sự tự tin
- Khám phá cuộc sống một cách an
toàn và hiệu quả.
-Lắng nghe tích cực
- Giao tiếp
- Quản lí thời gian và tiền bạc; Tự
nhận thức về bản thân
- Đặt mục tiêu
13B Kiên trì và nhẫn nại
- Xác định gía trị
- Tự nhận thức về bản thân
- Đặt mục tiêu
13C Mỗi câu chuyện nói với
chúng ta điều gì?
- Thể hiện sự tự tin
- Tư duy sáng tạo
-Lắng nghe tích cực
14A Món quà tuổi thơ ( Tiết 1)
- Quản lí thời gian và tiền bạc
14B Đồ chơi của ai
- Xác định gía trị
- Tự nhận thức về bản thân
- Thể hiện sự tự tin
( Tiết 1)
15C Quan sát đồ vật
20C
( Tiết 2)
- Thu thập, xử lí thông tin( về địa
phương cần giới thiêu)
- Thể hiện sự tự tin
- Lắng nghe tích cực, cảm nhận,
chia sẻ, bình luận ( về bài giới thiệu)
- Hy sinh bản thân vì tập thể
21A Những công dân ưu tú
( Tiết 1)
21B Đất nước đổi thay
( Tiết 2)
- Tự nhận thức, xác định giá trị bản
thân
- Tư duy sáng tạo
- Khám phá cuộc sống an toàn và
hiệu quả.
- Thể hiện sự tự tin
- Tư duy sáng tạo
23B Những trái tim yêu thương
( Tiết 1)
24A Sức sáng tạo kì diệu
( Tiết 1)
( Tiết 1)
29A Quà tặng của thiên nhiên
( Tiết 2)
- Đảm nhận trách nhiệm
- Hy sinh bản thân vì tập thể
- Tự nhận thức: xác định giá trị bản
thân
- Đảm nhận trách nhiệm
- Khám phá cuộc sống an toàn và
hiệu quả.
- Phản ứng nhanh khi nêu yêu cầu
mong muốn
29B Có nơi nào sáng hơn đất
nước em ( Tiết 2)
- Ra quyết định. ứng phó
30A Vòng quanh trái đất
- Biết xác định phương hướng,
đường đi.
( Tiết 1)
- Đảm nhận trách nhiệm
- Giao tiếp: trình bày suy nghĩ, ý
chứng kiến thiên tai này ở địa phương các em rồi.
Để thực hiện được biện pháp này, giáo viên cần chuẩn bị một giáo án lồng
ghép các tình huống có kỹ năng cần thiết và phù hợp với học sinh mình ( trong
đó có nêu ra cụ thể các kĩ năng học sinh cần đạt sau khi học bài này; các kĩ thuật
dạy học sử dụng trong bài dạy; các phương tiện cần thiết phục vụ cho tiết dạy…)
13
2.3.4 Giải pháp 4: Tổ chức cho học sinh thực hành kĩ năng sống vừa được
học
Tuỳ theo bài, giáo viên tổ chức cho các em hoạt động tại lớp với tình
huống tương tự bài học để học sinh tự tìm ra hướng giải quyết vấn đề, sau đó
học sinh tự nêu các kĩ năng mà em đã ứng dụng để giải quyết vấn đề đó.
Ví dụ: Trong bài 5B: Đừng vội tin những lời ngọt ngào (tiết 1) Khi dạy
đọc bài Gà Trống và Cáo, tôi cho học sinh đọc phân vai để các em cảm nhận
được đúng trạng thái nhân vật và biết cách ứng xử nhanh nhẹn của Gà Trống mà
học tập. Đồng thời liên hệ với học sinh phải cảnh giác với những lời dụ dỗ của
người lạ để tránh bị lừa gạt.
Ở bài 3B: Tiết 1: Đọc- hiểu bài Người ăn xin. Sau khi tìm hiểu xong nội
dung bài, tôi cho học sinh đóng vai thể hiện lại nội dung bài. Việc làm này vừa
giúp học sinh nắm được nội dung bài, vừa cho các em thực hành ứng xử khi gặp
những người có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, tôi còn cho học sinh một tình
huống tương tự bài học: Nếu em cùng mẹ đi chợ và gặp một người ăn xin ngồi ở
cổng ngả nón ra xin. Em sẽ làm gì? Sau đó yêu cầu học sinh tự thảo luận và
đóng vai để ứng xử tình huống đó. Nhiều nhóm có nhiều cách ứng xử khác
nhau, nhưng nhìn chung các em đều đã có chung cách giải quyết là giúp đỡ chứ
không bỏ qua họ. Điều đó cho thấy các em đã tiếp thu được ý nghĩa bài học một
cách tích cực. Đó là biết thông cảm, chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó
khăn.
2.3.5 Giải pháp 5: Tổ chức hoạt động với nhiều phương pháp tạo sự
viên nhí xuất sắc nhất và khen thưởng.
Trong bài 5B: Đừng vội tin những lời ngọt ngào (tiết 1) Khi dạy đọc bài
Gà Trống và Cáo, giáo viên cho học sinh đọc phân vai để các em cảm nhận
được đúng trạng thái nhân vật và biết cách ứng xử nhanh nhẹn của Gà Trống mà
học tập. Đồng thời liên hệ với học sinh phải cảnh giác với những lời dụ dỗ của
người lạ để tránh bị lừa gạt.
Một số tiết, thời gian không đủ để tổ chức thực hành được thì giáo viên
hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu các tình huống tương tự mà các em đã gặp ở
cuộc sống thường ngày, ghi chép lại và nêu cách giải quyết của bản thân để hôm
sau trình bày trong nhóm cho các bạn nghe và bổ sung chọn cách giải quyết tốt
nhất.
2.3.6 Giải pháp 6: Động viên khen thưởng.
Khen thưởng là để động viên, khích lệ sự tiến bộ của học sinh, để các em
tự tin, hứng thú hơn trong học tập và rèn luyện, không phải để so sánh, xếp hạng
giữa học sinh. Đặc biệt không nên khen thưởng học sinh với những món quà có
giá trị về vật chất cao để tránh việc học sinh nghĩ rằng việc đạt được thành tích
cao là để có được vật chất chứ không hiểu được là nó giúp ích cho chính cuộc
sống của bản thân các em.
Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ
năng sống. Tôi theo dõi hằng ngày các em có biểu hiện tốt ghi vào sổ, trong tiết
sinh hoạt cuối tuần cho các em bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được một
bông hoa thật ý nghĩa để dành tặng mẹ và cô giáo của mình. Hoặc một số món
quà nhỏ như: Cây bút, chiếc khăn quàng, .... Kèm theo lời khen thiết thực để
15
khích lệ các em. Vì thế các em không ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt để
được nhận những món quà nhỏ mà cô giáo thưởng. Đây là một hình thức động
viên về tinh thần rất giá trị và hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, có đạo đức
tốt hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong cuộc sống.
%
55
84,6
Có hình thành kĩ năng
SL
%
10
15,4
Kĩ năng chưa tốt
SL
%
Thực hành thảo luận nhóm
16
Tổng số
học sinh
SL
55
65
Tổng số
học sinh
65
65
Mức
đạt
được
Tự phục
vụ, tự
quản
Phẩm chất
Hợp tác
Tự học,
GQVĐ
Chăm
học, chăm
làm
Tự tin,
trách
nhiệm
Trung
thực, kỉ
luật
Đoàn kết ,
Tốt
50
63,6
50
63,6
45
69,2
40
61,5
50
63,6
50
63,6
50
63,6
Chưa
đạt
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
kiến nghị với các cấp, ban, ngành như sau:
Về phía nhà trường: Hiện nay đã có công văn dạy Kĩ năng sống cho học
sinh, Ban giám hiệu nhà trường cũng như chỉ đạo chuyên môn cần tổ chức thêm
cho giáo viên các buổi tập huấn về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Về phía phụ huynh: Trước hết là cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc rèn
luyện kĩ năng sống cho con em, tạo một chỗ dựa vững chắc để trẻ chia sẻ, bày
tỏ, luôn phối kết hợp với nhà trường trong việc giáo dục và rèn luyện cho các
em, theo dõi mọi biểu hiện của trẻ để có sự giáo dục cho phù hợp.
Trên đây là những suy nghĩ của bản thân về việc nghiên cứu một số biện
pháp giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4 thông qua dạy học môn
Tiếng Việt trong chương trình VNEN.
Bản thân đã cố gắng áp dụng những kinh nghiệm, sáng tạo thêm những
phương pháp mới nhằm nâng cao nhiều kĩ năng sống tốt cho học sinh từ môi
trường giáo dục ở nhà trường, giáo dục và xây dựng cho các em có năng lực tốt,
lối sống lành mạnh để các em có thể tự lập, tự tin hơn trong cuộc sống, đem lại
niềm vui, hạnh phúc cho các em, gia đình và xã hội.
Trong khi trình bày sáng kiến sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, mong
quý đồng nghiệp giúp đỡ, nhận xét bổ sung, góp ý kiến để sáng kiến kinh
nghiệm của tôi hoàn chỉnh hơn giúp nâng cao kết quả học tập cho học sinh trong
môn Tiếng Việt 4.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Bắc Sơn, ngày 20 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết không sao chép nội dung của
18