SKKN Một số biện pháp giúp cho học sinh học tốt Luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 27

PHẦN I: Thông tin tác giả sáng kiến.
- Họ và tên tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Minh Thìn
- Sinh ngày 02 tháng 4 năm 1976
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường TH xã Mông Sơn
- Trình độ chuyên môn: Cao đẳng
- Tên đề tài, sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số biện pháp giúp cho học
sinh học tốt Luyện từ và câu lớp 4”
- Đề nghị xét, công nhận sáng kiến: Chiến sĩ thi đua cơ sở
“Năm học 2013 – 2014” .
- Lĩnh vực áp dụng: “Trong ngành giáo dục” Nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 4 trong trường tiểu học xã Mông Sơn
PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Đặc điểm chung của tổ chuyên môn lớp 4+5 trường tiểu học xã
Mông Sơn .
Năm học 2013 – 2014 tổ chuyên môn khối lớp 5 gồm có 3 đồng chí cán
bộ giáo viên, nhân viên giảng dạy ở 3 lớp với tổng số 74 học sinh được chia làm
3 lớp. Tất cả các em đều được học tập 5 buổi/tuần. Tất cả các thầy cô giáo của tổ
chuyên môn lớp 5 đều đạt trình độ trên chuẩn. Đảm bảo có đủ năng lực chuyên
môn để tham gia giảng dạy và bồi dưỡng học sinh, cuối năm tất cả 100% học
sinh đều hoàn thành chương trình tiểu học.
1
a. Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch được giao
Năm học Số lớp Số học sinh
Số lớp Tỉ lệ so với KH Số học sinh Tỉ lệ so với KH
2013- 2014 3 3/3 = 100% 74
74/74 = 100%
b. Chất lượng giáo dục năm học 2012 – 2013.
Năm học
Học sinh giỏi
đạt giải các cấp

nhiệm 4B đạt được như sau:
+ Xếp loại hạnh kiểm: 37/37 HS = 100% xếp loại hạnh kiểm: Đạt
+ Học lực: Lên lớp thẳng: 37/37 = 100%. Trong đó học sinh được xếp
loại chia ra:
+ HS Giỏi: 7/37 = 18,9%; Khá : 16/37 = 43,2%; Trung bình: 14/37 = 37,9%
- Năm 2012 - 2013: 100 % học sinh xếp loại hạnh kiểm Đạt, tỷ lệ học
sinh được lên lớp thẳng đạt 100%, tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt 52,1% tăng so với
năm học trước 6,7% không có học sinh rèn luyện trong hè, không có học sinh vi
phạm kỷ luật.
2. Lý do chọn sáng kiến.
Trong tư bản luận, Các Mác đã từng nói:” Cùng với lao động và ngôn
ngữ, loài người là nhân tố quyết định sự phát triển của mình”. Vậy con người và
xã hội loài người phát triển mạnh mẽ đạt đến trình độ văn minh hiện đại phải kể
đến yếu tố quan trọng là ngôn ngữ.
Nhờ có ngôn ngữ con người có khả năng tư duy. Ngôn ngữ là công cụ
hiện thực của tư duy. Vì thế tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại với nhau. Người có tư duy tốt sẽ giao tiếp tốt. Trong việc
đào tạo con người, việc cung cấp kỹ năng và sử dụng ngôn ngữ chính là cung
cấp phương tiện để tư duy chiếm lĩnh kiến thức.
Lê-Nin đã từng khẳng định: “ Ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người”. Con người sống thành xã hội. Trong xã hội nhất thiết
2
phải có sự giao tiếp để con người trao đổi thông tin, biểu đạt tâm tư, nguyện
vọng và cảm xúc. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp chủ yếu của xã hội loài người.
Con người học ngôn ngữ từ tuổi còn thơ và suốt cuộc đời không ngừng trau dồi
ngôn ngữ cho chính mình. Con người học ở nhà trường và chính trong cuộc
sống. Nhưng ở nhà trường con người được học ngôn ngữ một cách hệ thống và
chuẩn mực nhất.
Luyện từ và câu là một phân môn của môn Tiếng Việt ,thông qua phân
môn này, học sinh được rèn luyện về khả năng dùng từ chính xác, đúng chính tả.

nghiên cứu tìm ra phương pháp day học tích cực và phù hợp nhất đối với học
sinh, cũng như biện pháp dạy học thống nhất trong dạy phân môn Luyện từ và
câu lớp 4 trong nhà trường.
Với sáng kiến kinh nghiệm này tôi chủ yếu nghiên cứu về phân môn
Luyện từ và câu ở môn Tiếng Việt lớp 4. Đồng thời cùng với đồng nghiệp xây
dựng thành chuyên đề chuyên môn, trực tiếp áp dụng trong giảng dạy từ năm
học 2012-2013 và năm học 2013 - 2014 ở trường tiểu học xã Mông Sơn.
4. Phương pháp nghiên cứu viết sáng kiến.
Việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng phân môn "Luyện từ và câu" sẽ
giúp các em làm giàu vốn từ, vốn tri thức về tâm hồn. Xuất phát từ nhu cầu của
bản thân, xác định tốt, đúng phương pháp giảng dạy phân môn "Luyện từ và
câu", người giáo viên sẽ tìm ra những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng
giáo dục . Qua thực tế nghiên cứu và giảng dạy tôi đã kết hợp sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc sách báo, tạp chí, sách giáo
viên, sách tham khảo…
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, phỏng vấn, phương
pháp phân tích, đánh giá, tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê.
- Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác
như Phương pháp kiểm tra, đánh giá, so sánh.
5. Cơ sở lý luận của sáng kiến:
5.1. Cơ sở hình thành và phát triển kĩ năng tiếng Việt:
-Thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử
dụng tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết ) để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi. Sách giáo khoa tiếng Việt 4 tiếp tục lấy nguyên
tắc giao tiếp làm định hướng cơ bản. Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt
thông qua tất cả các phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu.
Phân môn luyện từ và câu được học từ lớp 2, song đến lớp 4 mới có những tiết
học dành riêng để trang bị kiến thức cho học sinh. Các em được mở rộng, hệ

đương các chủ điểm.
+ HK I: 9 tiết
Nhân hậu – Đoàn kết( tuần 2,3)
Trung thực – Tự trọng ( tuần 5,6)
Ước mơ ( tuần 9)
Ýchí – Nghị lực( tuần 12,13)
Đồ chơi – Trò chơi ( tuần 15;16)
+ HK II: 10 tiết
Tài năng ( tuần 19)
Sức khoẻ ( tuần 20)
Cái đẹp ( tuần22, 23)
Dũng cảm ( tuần 25, 26)
Du lịch – Thám hiểm ( tuần 29,30)
Lạc quan – Yêu đời ( tuần 33,34)
5
-Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống thông qua các bài tập. Tìm từ ngữ
theo chủ điểm. Tìm hiểu nắm nghĩa của từ; Phân loại từ ngữ. Tìm hiểu nghĩa của
thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm; luyện sử dụng từ ngữ.
* Tiếng , cấu tạo từ:( 5 tiết)
-Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ
+ Cấu tạo của tiếng tuần 1: 2 tiết
+ Từ đơn và từ phức tuần 3: 1 tiết
+ Từ ghép và từ láy tuần 4: 2 tiết
-Các dạng bài tập : Nhận diện và phân tích cấu tạo của tiếng , từ; Phân loại
từ theo cấu tạo; Tìm từ theo kiểu cấu tạo; Luyện sử dụng từ.
* Từ loại : (9 tiết)
- Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo từ loại của tiếng Việt .
+ Danh từ ( tuần 5,6,7,8: 5 tiết gồm cả cách viết danh từ riêng)
+ Động từ( tuần 9 và 11: 2 tiết)
+ Tính từ ( tuần 11 và 12: 2 tiết)

a. Đối với giáo viên:
Những năm gần đây, do ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của
phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Phong trào đổi mới
phương pháp dạy học đã được phát động rộng rãi trong các trường Tiểu học của
huyện Yên Bình nói chung và ở trường tiểu học xã Mông Sơn nói riêng. Giáo
viên chúng tôi đã vận dụng phương pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động của
học sinh, qua đó đã đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
cho học sinh trong trường.
Tuy nhiên, việc dạy phân môn luyện từ và câu không ít giáo viên vẫn
chưa thoát khỏi quỹ đạo của phương pháp dạy học truyền thống. Một số giáo
viên vẫn coi học sinh tiểu học là đối tượng nói theo, làm theo khuôn mẫu. Sách
giáo khoa Tiếng Việt 4 cũ tách từ ngữ, ngữ pháp thành hai phân môn riêng biệt.
Sách giáo khoa Tiếng Việt mới tích hợp từ ngữ, ngữ pháp thành phân môn luyện
từ và câu. Do đó việc tiếp cận phương pháp dạy học phù hợp với sách giáo khoa
mới phần nào còn khó khăn.
Vì vậy cần cải tiến phương pháp dạy học "Luyện từ và câu" theo hướng
tích cực hoá hoạt động của người học để giờ học sinh động, hấp dẫn, hiệu quả.
Là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 4, khi nghiên cứu về phương pháp dạy học
phân môn Luyện từ và câu. Tôi đã thấy được mục đích, yêu cầu của một đơn vị
kiến thức mà học sinh được chiếm lĩnh thuộc hệ thống vấn đề nào trong bài
giảng.
Sau khi được tập huấn chuyên môn, tôi đã biết cách phối hợp nhịp nhàng,
khoa học và logic giữa kiến thức về từ và câu. Sử dụng các kỹ thuật dạy học tích
cực như kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật mảnh ghép, sơ đồ tư duy, bàn tay nặn
bột vào dạy học
-Với đặc thù của phân môn luyện từ và câu là trang bị những kiến thức cơ
bản về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt để các em học tốt các môn học khác. Bởi
vậy, việc bồi dưỡng và nâng cao hiểu biết về từ, câu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt
văn hoá góp phần kích thích sự phát triển tư duy, hoàn thiện nhân cách cho học
7

2012 - 2013 74 0 9 51 14
2013 - 2014 92 0 11 68 13
Từ bảng phân loại khảo sát trên cho thấy trình độ nhận thức của HS, số
học sinh khá giỏi chiếm tỉ lệ khá cao. Song số học sinh yếu và học sinh trung
bình còn nhiều, cần nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo trực tiếp
tham gia giảng dạy để cuối năm các em học tốt hơn hoàn thành được chương
trình môn học lớp 4. Để tất cả các học sinh nào cũng đọc tốt phân môn luyện từ
và câu cũng như hiểu và làm được bài tập theo chuẩn kiến thức kĩ năng của môn
học.
8
* Quan điểm của bản thân và những vấn đề cần giải quyết
Từ thực tế của công tác dạy và học cũng như kết quả học tập của các em
học sinh khối lớp 4 trong nhà trường. Đặc biệt để dạy tốt phân môn Luyện từ và
câu Tiếng Việt lớp 4, học sinh sẽ biết đọc tăng cho khả năng tư duy, tiếp thu
kiến thức tốt hơn ở môn toán và các môn học khác.
Dựa trên những kiến thức kĩ năng chuẩn cũng như các phương pháp, biện
pháp dạy học tích cực xây dựng và vận dụng phù hợp với trình độ học sinh của
nhà trường giúp các em lĩnh hội tốt nhất chương trình SGK và phương pháp học
tập bậc tiểu học, phát triển được khả năng tư duy của bản thân các em, cũng như
nâng cao khả năng sư phạm của đội ngũ giáo viên toàn trường. Qua thực tế sinh
hoạt chuyên đề chuyên môn phần nào chúng tôi đã giải quyết được vấn đề nêu ra
và đã tìm ra biện pháp tối ưu nhất trong công tác dạy và học của nhà trường.
2. Nội dung của sáng kiến.
2.1. Nội dung phương pháp và biện pháp dạy học chủ yếu phân môn
Luyện từ và câu lớp 4:
2.1.1. Nghiên cứu nội dung dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4
Qua thực tế nghiên cứu và giảng dạy: Với mỗi bài dạy lí thuyết các bài
học về cấu tạo tiếng, cấu tạo từ và từ loại đều gồm 3 phần: Nhận xét, ghi nhớ,
luyện tập.
+ Nhận xét là phần cung cấp ngữ liệu và nêu câu hỏi, gợi ý cho học sinh

phương pháp thực hành giao tiếp để tạo niềm hứng thú cho học sinh(Cụ thể là:
Phải tạo được tình huống thiết thực tự nhiên, cho học sinh vận dụng những kiến
thức để thực hành giao tiếp trong những tình huống cụ thể, phù hợp với tình
huống, tạo ở các em nhu cầu và hứng thú vận dụng những kiến thức được học để
thực hành giao tiếp ). Sử dụng trò chơi học tập hợp lí và đúng lúc cũng là
phương pháp rất thích hợp trong dạy học ở tiểu học nói chung và phân môn
Luyện từ và câu nói riêng.
Ví du: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ : “Đồ chơi- trò chơi” cuối giờ học
giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Giáo viên có thể chuẩn bị các câu
hỏi yêu cầu học sinh mô tả đồ chơi hoặc trò chơi đã biết,hoặc ngược lại nêu cách
chơi để học sinh đoán tên trò chơi, đồ chơi sau đó tổ chức 2 đội chơi(1 đội nêu
câu đố, 1 đội trả lời và đổi lại)
b/ Đối với các bài hình thành khái niệm(hình thành kiến thức lí thuyết)
Để phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4. Giáo viên cần kết
hợp sử dụng một cách linh hoạt phương pháp phân tích ngôn ngữ với phương
pháp luyện tập theo mẫu, phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp thảo
luận nhóm…để giờ học căng thẳng, nặng nề đối với học sinh.
Ví dụ: Ở lớp 2,3 khái niệm về động từ được diễn đạt đơn giản là những từ
ngữ chỉ hoạt động . Lên lớp 4 các em học khái niệm động từ là những từ chỉ
hoạt động, trạng thái . Khi dạy học giáo viên vận dụng phương pháp luyện tập
theo mẫu để học sinh rễ ràng tiếp thu kiến thức. Cụ thể là giáo viên làm mẫu
bằng cách tìm thêm các từ chỉ hoạt động và các từ chỉ trạng thái rồi xếp thành 2
nhóm từ cho học sinh quan sát tự nhận ra sự khác biệt giữa chúng.
c/ Đối với bài Luyện tập về từ và câu.
Tùy từng nội dung luyện tập cụ thể giáo viên vận dụng các phương pháp
dạy học như: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp thảo luận nhóm,
phương pháp trò chơi học tập…để học sinh có thể thực hành các kiến thức lí
thuyết đã được học,biết cách áp dụng các kiến thức Tiếng Việt được học một
10
cách linh hoạt vào các tình huống sử dụng ngôn ngữ cụ thể.

xây dựng trò chơi.
Luật chơi: Trò chơi học tập có luật chơi rõ ràng, đơn giản,dễ hiểu, dễ
thực hiện, không đòi hỏi thời gian dài cho huấn luyện.
Ví dụ: Thi Ai nhanh ai đúng.
Trò chơi Tiếp sức.
Trò chơi Đi tìm đồng đội.
Trò chơi Truyền điện.
11
1, Trò chơi Ai nhanh ai đúng.
Trong một thời gian cố định, 2 đội ( 5 đến 6 người) thi tìm nhanh từ
phù hợp với chủ điểm, nội dung cho trước.
Sau đó kiểm tra: Giáo viên, Học sinh làm trọng tài.
2, Trò chơi Tiếp sức – Tìm từ, điền từ…
Diễn ra 2 nhóm, khi có hiệu lệnh xuất phát, từng em lần lượt thay nhau
lên bảng tìm từ, điền từ.
Sau đó kiểm tra, đội nào làm đúng, tìm nhiều từ là thắng.
Ví dụ: Thi tìm nhanh từ chỉ đặc điểm.
3, Trò chơi Truyền điện.
Hai đội (5người/ 1 đội), (2 đội) cùng tham gia.
Đội 1 nêu 1 từ chỉ sự vật, đội 2 nêu 1 từ khác chỉ đặc điểm của sự vật đó.
Nếu đúng được đố ngược lại.
4, Trò chơi: Đi tìm đồng đội.
Một, hai học sinh cầm chủ điểm.
Số học sinh còn lại cầm bảng ghi từ.
Sau hiệu lệnh 2 phút các từ tìm về đúng chủ điểm của mình.
Kiểm tra nhận xét.
2.1.4. Biện pháp hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu:
-Việc phân tích ngữ liệu của bài tập giúp học sinh nắm vững yêu cầu của
bài tập và thực hành tốt nhằm rút ra kiến thức. Giáo viên cần cho học sinh đọc
thầm, trình bày yêu cầu của bài tập, giải thích thêm cho học sinh nắm rõ yêu cầu

- Giấy rách phải giữ lấy lề.
- Thuốc đắng giã tật.
- Cây ngay không sợ chết đứng.
- Đói cho sạch rách cho thơm.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm 4, đọc kĩ nội dung bài tập,
xác định yêu cầu, trao đổi tìm hiểu nghĩa của từng thành ngữ, tục ngữ (cả nghĩa
đen lẫn nghĩa bóng). Rồi học sinh tiến hành phân loại, sau đó báo cáo kết quả
trước lớp, lớp nhận xét, bổ sung, thống nhất kết quả. Nếu câu nào các em chưa
hiểu nghĩa giáo viên phải giải thích cho các em rõ. Ngoài ra, cho các em tìm
thêm một số câu thành ngữ, tục ngữ có nội dung theo chủ điểm và yêu cầu học
thuộc để vận dụng.
*Ví dụ: Khi dạy bài - Mở rộng vốn từ: Ước mơ.
- Hướng dẫn học sinh bước đầu tìm được một số từ cùng nghĩa với từ ước
mơ bắt đầu bằng tiếng ước, bằng tiếng mơ, ghép được từ ngữ, hiểu ý nghĩa và
nhận biết được sự đánh giá của từ ngữ đó.
+ Bài tập 2: Tìm thêm những từ cùng nghĩa với “ ước mơ”.
- Bắt đầu bằng tiếng “ước”: ước ao, ước muốn, ước vọng, ước mong…
- Bắt đầu bằng tiếng “mơ”: mơ tưởng, mơ ước, mơ mộng…
- Đối với bài tập này các em chỉ cần tìm thêm một thành tố thứ hai đứng
sau thành tố đã cho để tạo nên một từ cùng nghĩa với “ ước mơ”.
- Nêu một ví dụ minh họa về một loại ước mơ. Như chúng ta biết trong
13
cuộc sống ai cũng có những ước mơ của mình. Có những ước mơ chính đáng và
không chính đáng. Từ đó, học sinh có thể lấy bất kỳ một ví dụ cho mỗi loại ước
mơ sao cho thích hợp. Như “ Ước mơ sau này sẽ làm thầy (cô) giáo, làm kĩ sư,
làm bác sĩ, làm chú công an, anh bộ đội…”.
2.1.6. Biện pháp nâng cao kiến thức về từ, câu, kĩ năng dùng từ, đặt
câu và sử dụng dấu câu:
- Kiến thức tiếng Việt là cả một kho tàng phong phú. Ngay từ khi mới bập
bẹ biết nói, các em đã biết dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp. Thế nhưng đến lớp 4

từ " sự ", " cuộc", " lòng ", như: lòng kiên nhẫn, sự hi sinh,
-Thường là từ gốc Hán như : Truyền thống, Tổ quốc,
- Đối với việc giúp học sinh phân tích và nhận diện danh từ chỉ đơn vị với
các tiểu loại danh từ khác, cần chỉ cho học sinh thấy rằng các từ chỉ đơn vị như:
14
cái, con, tấm, dãy, cơn, có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng là: một, hai,
các, vài, lũy, trong khi đó không phải từ chỉ sự vật nào cũng có thể kết hợp
được với từ chỉ số lượng.
- Các danh từ chỉ sự vật nếu không thể biểu thị một sự vật đơn thể như:
bàn, ghế, áo, người, mà biểu thị các sự vật tồn tại thành tổng thể như: nước,
mưa, quần áo, thì không thể kết hợp với từ chỉ số lượng. Giáo viên có thể
cung cấp cho học sinh một số danh từ chỉ loại thường gặp như:
Danh từ chỉ loại đi với vật thể: cái, con, cây, quả, người, ( người thợ,
cây bàng, con khỉ, ) ông, bà, ( ông bác sĩ, bà kĩ sư, )
Danh từ chỉ loại đi với danh từ chất thể ( vải, nước, nhôm, đồng ) : cục,
thanh, tấm, giọt, hạt, ( Ví dụ như: tấm vải, giọt nước, ) Danh từ chỉ loại đi
với danh từ chỉ hiện tượng: cơn, làn, trận, (cơn mưa, trận bão, )
- Khi dạy kiến thức sơ giản về câu, học sinh dễ nhầm lẫn vị ngữ trong câu
kể ai thế nào ? là động từ chứ không phải là tính từ. Các em thường có xu hướng
xác định mọi câu kể có động từ thuộc câu kể Ai làm gì? Các em quen với động
từ là từ chỉ hành động bởi khái niệm " trạng thái", " tình thái" chưa được hình
thành hoặc hình thành chưa rõ ràng. Vì vậy, khi dạy học, giáo viên kết hợp miêu
tả bằng động tác hoặc hình vẽ với những ví dụ để học sinh hình dung sự khác
nhau giữa hành động và trạng thái.
- Hành động thể hiện trực tiếp những đặc điểm vận động của chủ thể (Ví
dụ : chạy, nhảy, viết, đi, ) Trạng thái thể hiện mối liên hệ giữa vận động của sự
vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh hoặc không gian, thời gian. ( Ví dụ: Mặt
trời toả nắng. Bé Hoa ngủ. Hoa nở rộ trong vườn. )
- Giáo viên nên giới thiệu thêm một số động từ chỉ trạng thái thường dùng
thể hiện ý nghĩa về sự cần thiết như: cần, nên, phải, Từ chỉ khả năng như: có

Học tiếng Việt, sử dụng tiếng Việt cũng như con người bước vào cuộc đời
đều phải mang theo mình những hành trang cần thiết, đó là những kinh nghiệm,
những bài học về cuộc sống, những hiểu biết về thế giới xung quanh.
Muốn học tốt môn Tiếng Việt, giáo viên cần cho học sinh hiểu tầm quan
trọng của việc tích luỹ kiến thức. Nguồn kiến thức về cuộc sống xung quanh,
tình cảm gia đình, cộng đồng và những cảnh vật trong cuộc sống đó là: bờ tre,
giếng nước, đường làng, Nguồn kiến thức vô cùng quan trọng để các em tích
lũy đó là kiến thức sách vở trong chương trình tiểu học, sách báo, tạp chí,
Muốn có được kiến thức ấy, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát thực tế, ghi
chép váo kí ức, lập cuốn sổ tay " Từ điển tiếng Việt" ghi thành từng mục từ ngữ
hay theo chủ đề từ cùng nghĩa, trái nghĩa, tục ngữ, ca dao, châm ngôn, những
gương người tốt, việc tốt. Sắp xếp thành chuyên mục như vậy sẽ dể tìm, dể lấy
để vận dụng đặt câu, dùng từ ngữ khi giao tiếp
* Ví dụ: Khi dạy bài " Mở rộng vốn từ: Dũng cảm" ( tuần 26 )
Bài tập 1: Tìm những từ ngữ cùng nghĩa và trái nghĩa với từ " dũng cảm",
các em có thể dùng "Từ điển tiếng Việt " của mình để thi đua tìm được nhiều từ
cùng với các bạn hoặc các em sẽ ghi chép thêm những từ ngữ của các bạn tìm
được mà trong sổ mình chưa có.
- Từ cùng nghĩa : quả cảm, gan dạ, gan góc, anh dũng,
- Từ trái nghĩa: nhát gan, nhút nhát, hèn nhát, bạc nhược,
2.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Với sáng kiến kinh nghiệm này tôi chủ yếu nghiên cứu về phân môn Tiếng
Việt lớp 4. Cùng với đồng nghiệp xây dựng thành chuyên đề chuyên môn ở tổ
chuyên môn lớp 4+5, chúng tôi đã cùng nhau tìm hiểu xây dựng chuyên đề
chuyên môn từ những năm học trước.
Việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng phân môn "Luyện từ và câu" sẽ
giúp các em làm giàu vốn từ, vốn tri thức về tâm hồn. Từ đó, các em tích luỹ cho
mình những kiến thức cần thiết, tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn
16
khác trong tiếng Việt như: Chính tả, Tập làm văn, Đồng thời học tốt các môn

Năm học Tổng số
HS
Giỏi Tỉ lệ
%
Khá Tỉ lệ
%
TB Tỉ lệ
%
Yếu Tỉ lệ
%
2012-2013 74 14 18,9 28 37,8 29 39,3 3 4,0
2013-2014 92 19 20,7 31 33,7 40 43,5 2 2,1

Kết quả cho thấy: Khi được áp dụng phương pháp giảng dạy mới vào
phân môn thì kết quả thu được khả quan hơn , khả năng vận dụng kiến thức của
học sinh có tiến bộ hơn , số học sinh yếu đã giảm đi rõ rệt.
- Nhờ áp dụng các biện pháp trên nên chất lượng môn tiếng Việt so với
17
đầu năm có nhiều tiến bộ rõ nét. Trước đây các em chưa hiểu nghĩa từ, vận dụng
từ còn sai, đặt câu còn khô khan, rời rạc, chưa đủ ý hoặc dài dòng. Nay các em
đã hiểu nghĩa của từ theo từng chủ điểm, biết giải nghĩa từ, vận dụng từ vào
trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Các em đã biết dùng từ hay, giàu hình ảnh, biết
phát hiện câu chưa đúng. Đặc biệt các em đã biết vận dụng để làm các bài tập
làm văn hay.
Chương III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh trong lớp đã nắm bắt kiến thức
nhanh và vận dụng vào làm bài một cách vững vàng. Vì vậy tôi đã cùng với
Giáo viên trong tổ khối lớp 4+5 trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời xây
dựng chuyên đề về môn học này để cùng nhau nâng cao chất lượng phân môn

nghiệm giảng dạy để nâng cao tay nghề. Sáng tạo trong giảng dạy.
- Nhận thức đúng vai trò của môn, phân môn: Luyện từ và câu là khởi
nguồn của mọi quá trình nhận thức và giao tiếp.
- Nắm chắc nội dung, lựa chọn phương pháp giảng dạy sát đối tượng,
với nội dung bài học.
- Trong giảng dạy người giáo viên cần có dự kiến tình huống xảy ra và
biện pháp tháo gỡ, khắc phục.
* Đối với nhà trường và các cấp quản lý.
- Nhà trường cần tạo điều kiện về cơ sở vật chất để giáo viên và học sinh
có điều kiện học tập tốt nhất.
- Bổ sung kịp thời những trang bị, sách tham khảo để phục vụ cho bộ
môn.
- Động viên khuyến khích kịp thời những học sinh, giáo viên đạt thành
tích cao trong giảng dạy và học tập.
- Quan tâm bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn tinh
thông về chuyên môn kỹ năng sư phạm.
- Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chuyên môn, nhà trường.
* Với thời gian nghiên cứu không nhiều, kinh nghiệm nghề nghiệp còn
hạn chế chắc chắn bài viết của tôi còn nhiều thiếu sót. Riêng đối với bản thân
tôi, điều cần thiết và không thể coi nhẹ là phải dạy tốt lý thuyết, từ đó mới phát
triển được các tư duy, suy luận cho học sinh. Để rèn luyện kĩ năng học phân
môn Luyện từ và câu cho học sinh, thì trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải
lựa chọ các phương pháp dạy tốt. Giáo viên phải đặt ra tình huống để các em
suy nghĩ, tìm tòi cách giải khác nhau.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ không tránh khỏi
những mặt hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý
kiến quý báu của cấp trên và đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện và đạt
kết quả cao hơn, đồng thời được áp dụng rộng rãi trong việc dạy học phân môn
Luyện từ và câu trong mon Tiếng Việt. Kính mong sự đóng góp ý kiến của Ban
lãnh đạo, các đồng chí giáo viên để tôi trưởng thành hơn.

4. Phương pháp nghiên cứu viết sáng kiến.
5. Cơ sở lý luận của sáng kiến:
5.1. Cơ sở hình thành và phát triển kĩ năng tiếng Việt:
5.2.Cơ sở chương trình SGK Tiếng Việt lớp 4:
2
2
3
4
4
5
5
5
3
Chương II: NỘI DUNG
1. Thực trạng về việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp
4 của giáo viên và học sinh trường tiểu học xã Mông Sơn
a. Đối với giáo viên:
b. Đối với học sinh:
2. Nội dung của sáng kiến.
2.1. Nội dung phương pháp và biện pháp dạy học chủ yếu phân
môn Luyện từ và câu lớp 4:
2.1.1. Nghiên cứu nội dung dạy học phân môn luyện từ và câu
lớp 4
2.1.2. Biện pháp tổ chức hoạt động cho các dạng bài tập.
2.1.3. Phương pháp sử dụng trò chơi học tập để dạy “ Luyện từ
và câu lớp 4”
2.1.4. Biện pháp hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu:
2.1.5. Biện pháp dạy nội dung mở rộng và hệ thống hoá vốn từ:
2.1.6. Biện pháp nâng cao kiến thức về từ, câu, kĩ năng dùng từ,
đặt câu và sử dụng dấu câu:

XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG Hiệu trưởng
23
ĐÁNH GIÁ , XẾP LOẠI CỦA HĐTĐ NGÀNH GD&ĐT YÊN BÌNH

ĐÁNH GIÁ , XẾP LOẠI CỦA HĐSK HUYỆN YÊN BÌNH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status