MỤC LỤC
Thứ tự
Tên mục
Trang
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Cơ sở lý luận
Thực trạng trong giáo dục phân môn Luyện từ và câu
1
1
1
2
2
3
Trong giai đoạn đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học
sinh, giúp học sinh học tập một cách tích cực, tự giác là một yêu cầu cấp thiết đối
với ngành giáo dục. Một trong những mục tiêu của việc đổi mới chương trình sách
giáo khoa phổ thông là: "Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tư duy sáng tạo
và năng lực tự học của học sinh". Việc đổi mới này phải được thực hiện tất cả các
bậc học, tất cả các môn học.
Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học xác định là môn học công cụ bởi mục tiêu
quan trọng của nó. Phân môn Luyện từ và câu lớp Ba có nhiệm vụ cung cấp cho
học sinh một số tri thức sơ giản về từ, câu, và dấu câu. Học sinh được lĩnh hội kiến
thức thông qua một hệ thống bài tập. Như vậy sách giáo khoa tạo điều kiện để giáo
viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học,
Trong đó, giáo viên đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học
sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và phát triển.
Phân môn Luyện từ và câu được tách thành một phân môn độc lập, nó có vị trí
quan trọng như các phân môn khác: Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn,... Song ở lớp
3 tiết học dành cho phân môn này rất ít (Chỉ có một tiết /tuần). Vì vậy giáo viên
phải biết bổ sung vào một tiết buổi chiều để tăng thời lượng cho phân môn này.
Khi dạy luyện từ và câu ở tiểu học chúng ta đều phải hướng tới ba mục tiêu chính
đó là: Cung cấp thêm vốn từ cho học sinh, giúp các em có thể sử dụng từ ngữ một
cách chính xác, học sinh biết sử dụng từ Tiếng Việt để giao tiếp văn hóa. Ở lớp Ba
kiến thức truyền thụ cho học sinh có nhiều phần liên quan tới lớp Hai nên giáo viên
phải nắm chắc kiến thức Luyện từ và câu lớp Hai. Các bài tập thường là những bài
tập trừu tượng, giáo viên phải hướng dẫn mẫu một phần bài tập, học sinh phải biết
tư duy để làm được các phần bài tập còn lại. Trong các môn tự nhiên, Toán được
coi là môn học khó thì trong các môn xã hội, phân môn Luyện từ và câu lại được
coi là phân môn vừa khô vừa khó. Đây là phân môn cả người dạy và người học
cảm thấy khó khăn khi truyền đạt cũng như khi lĩnh hội. Giáo viên ngại dạy môn
học này bởi đây là phân môn có nhiều tình huống sư phạm nhất. Đôi khi tình
huống năm ngoài dự đoán của người dạy. Học sinh cũng thấy khi tìm từ và làm các
Tiếng Việt, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp khảo sát điều tra thực tế.
+ Phương pháp thống kê.
+ Phương pháp phân tích số liệu.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
2
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận
Nói và viết là điều không xa lạ đối với bất cứ người nào, song nó lại hết sức
phức tạp, dùng từ và câu để nói, viết thế nào cho đúng, cho hay là một việc không
phải dễ. Chính vì điều này nên Luyện từ và câu được đánh giá là phân môn khó
trong môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Khi học Luyện từ và câu người học phải vận
dụng tổng hợp rất nhiều kiến thức và kĩ năng đã có ở những lĩnh vực, những phạm
vi khác nhau vào thực hiện các nhiệm vụ học tập. Dạy Luyện từ và câu ở lớp Ba,
người giáo viên phải thực hiện được các nhiệm vụ như sau:
- Mở rộng vốn từ theo các chủ điểm trong Sách giáo khoa. Đây là vốn từ cần
thiết và thường dùng mỗi chủ điểm. Dạng bài mở rộng vốn từ với một lượng bài
khá lớn. Các bài tập về mở rộng vốn từ vừa giúp học sinh lớp Ba hình thành kiến
thức cần thiết về từ qua các chủ điểm, vừa rèn kĩ năng giao tiếp một cách sinh
động. Một trong những nội dung quan trọng của việc rèn kĩ năng sử dụng Tiếng
Việt ở bậc Tiểu học là giúp học sinh biết sử dụng từ một cách phù hợp trong các
bài viết, đặc biệt trong Tập làm văn. Dùng từ đúng, phù hợp với nội dung văn
cảnh, giúp các em thể hiện ý văn sáng sủa, rõ ràng, mặt khác giúp người đọc hiểu
nội dung bài văn, câu văn một cách dễ dàng, chính xác.
- Ôn luyện để nắm chắc hơn một số kiến thức và kĩ năng đã học ở lớp 2:
+ Về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm,
bài tập Luyện từ và câu.
- Các em đã được làm quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 và có nhiều
kiến thức liên quan ở lớp 2 nên các em học tập có phần tự tin hơn.
b. Khó khăn
+ Đối với giáo viên
- Hình thức để dạy một tiết Luyện từ và câu còn đơn điệu, thiếu sáng tạo, chưa
thực sự sinh động cuốn hút học sinh.
- Trình độ của giáo viên chưa đồng đều, lượng kiến thức của phân môn trong
một tiết dạy còn nhiều bài tập. Khiến người dạy đôi lúc không muốn sử dụng nhiều
phương pháp như vấn đáp, gợi mở... Vì mất nhiều thời gian, giáo viên phải nói
nhiều, làm việc nhiều dẫn đến hoạt động của cô, trò đôi lúc chưa nhịp nhàng. Học
sinh chưa phát huy hết tính tích cực trong học tập.
- Thời lượng dành cho phân môn Luyện từ và câu còn ít, một tiết / tuần
- Đồ dùng dạy học hiện đại còn rất hạn chế. Cơ sở vật chất chưa được tốt.
+ Đối với học sinh
- Tình hình thực tế học sinh lớp Ba ở đây vốn từ các em còn hạn chế. Các em
chỉ hiểu nghĩa của từ ở mức độ đơn giản trong khi từ ngữ Tiếng Việt vô cùng
phong phú. Khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn
chậm.
- Các từ cần giải nghĩa đa số là từ Hán Việt nên học sinh khó hiểu, khó giải
nghĩa.
- Các từ, các thành ngữ, tục ngữ cần giải nghĩa, cần tìm có nghĩa gần giống
nhau, khiến cho học sinh khó phân biệt nghĩa của chúng.
- Ranh giới giữa các từ hoặc từ trong Tiếng Việt không mang tính xác định,
không dễ nhận biết nên các em còn thiếu tự tin khi học phân môn này.
- Đa số gia đình các em sống về nghề nông còn nghèo, cha mẹ còn lo đi làm
thuê để kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em.
c. Thực trạng của giáo viên khi dạy phân môn luyện từ và câu ở lớp 3
- Giáo viên chưa nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa, phương
pháp dạy học đặc trưng của phân môn.
6,6
6,9
SL
18
19
TL
60,1
65,5
Chưa hoàn
thành
SL
TL
10
33,3
8
27,6
d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động
- Đối với học sinh tiểu học, các em ở lứa tuổi chưa có được vốn từ ngữ dồi
dào trong khi đó các bài tập trong sách giáo khoa lại khá phong phú, đa dạng nên
so với đối tượng học sinh là khó. Mặt khác giáo viên cũng có nhiều khó khăn trong
việc giúp học sinh nắm vững được các kiến thức cơ bản của từng bài để từ đó các
em có thể phát triển theo hướng làm thêm được các bài tập nâng cao.
- Học sinh chưa có hứng thú học tập phân môn này. Đa số các em đều cho
rằng Luyện từ và câu là môn học khó. Một số kiến thức còn trừu tượng, khó hiểu,
không gần gũi với học sinh. Phần lý thuyết cũng không có học sinh chỉ được hiểu
qua những bài tập làm mẫu của giáo viên rồi cảm nhận và làm các bài tập còn lại,
- Thông qua các bài tập:
+ Tìm từ ngữ theo chủ điểm
+ Tìm hiểu, giải nghĩa từ
+ Hệ thống, phân loại vốn từ
+ Luyện cách sử dụng từ
* Ôn luyện kiến thức đã học ở lớp Hai
- Ôn vè các từ chỉ sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm (chủ yếu thông qua
các bài tập có yêu cầu nhận diện).
- Ôn về các kiểu câu đã học ở lớp Hai: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Các
thành phần trong câu đá ứng các câu hỏi Ai / là gì? Làm gì? Thế nào? ở đâu? Bao
giờ? Vì sao? Để làm gì? Thông qua các bài tập:
+ Trả lời câu hỏi
+ Tìm bộ phận câu trả lời câu hỏi
+ Đặt câu hỏi cho từng bộ phận câu
+ Đặt câu theo mẫu, ghép các bộ phận thành câu,.…
- Ôn về một số dấu câu cơ bản: dấu chấm, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu chấm
hỏi, dấu chấm than thông qua các bài tập:
+ Chọn dấu câu đã cho điền vào chỗ trống
+ Tìm dấu câu thích hợp điền vào chỗ trống
+ Điền dấu câu đã cho vào chỗ thích hợp
+ Tập ngắt câu
* Bước đầu làm quen với các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa
- Về biện pháp so sánh, sách giáo khoa có nhiều loại bài tập như:
+ Nhận diện (tìm) những sự vật được so sánh, những hình ảnh so sánh, các vế
so sánh, các từ so sánh, đặc điểm so sánh,…
+ Tập nhận biết tác dụng của so sánh
+ Tập đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh.
- Về biện pháp nhân hóa, sách giáo khoa có những bài tập như:
+ Nhận diện về nhân hóa: Cái gì được nhân hóa? nhân hóa bằng cách nào?
+ Tập nhận biết cái hay của nhân hóa
nhất định. Nhờ quy luật này, từ mới có thể sử dụng được trong lời nói. Vì khi sử
dụng từ, nhờ hệ thống liên tưởng, học sinh sẽ nhanh chóng huy động, lựa chọn
được từ ngữ phù hợp với yêu cầu giao tiếp.
Toàn bộ bài tập mở rộng, hệ thống hóa vốn từ yêu cầu học sinh tìm những từ
theo một dấu hiệu chung nào đó. Ở Tiểu học biện pháp được dử dụng phổ biến
nhất để hệ thống hóa vốn từ là mở rộng vốn từ theo chủ điểm. Các chủ điểm này có
phạm vi rộng hẹp rất khác nhau, vì thế các bài tập rất đa dạng, phong phú. Nhóm
từ theo chủ điểm bao gồm các từ thuộc những từ loại khác nhau. Để giải các bài
tập này, tôi gợi ý cho học tìm trong vốn từ của mình những từ có mang những nét
nghĩa phù hợp với chủ điểm. Cũng có thể liên tưởng theo các lớp từ vựng: đồng
nghĩa, trái nghĩa. Cuối cùng là tìm các từ có cùng cấu tạo.
Giải các bài tập mở rộng hệ thống hóa vốn từ, học sinh sẽ được xây dựng
được những nhóm từ khác nhau. Để hướng dẫn học sinh làm những bài tập này,
giáo viên cần có vốn từ cần thiết và biết phân loại vốn từ.
* Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập giải nghĩa từ
Tầm quan trọng của việc dạy nghĩa của từ cho học sinh đã được thừa nhận từ
lâu trong phương pháp dạy học Tiếng Việt. Nó là nhiệm vụ quan trọng trong sự
phát triển ngôn ngữ của trẻ em. Việc giải nghĩa từ được tiến hành trong các giờ
học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có giải nghĩa
từ.
Để dạy nghĩa của từ trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa của từ và phải biết
giải nghĩa phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh. Ở Tiểu
học, tôi thường sử dụng một số phương pháp giải nghĩa sau:
+ Giải nghĩa bằng trực quan là phương pháp đưa ra các vật chất, tranh ảnh, sơ
đồ,... Để giải nghĩa từ.
Trực quan chiếm vị trí quan trọng trong giải nghĩa từ ở tiểu học vì nó giúp
học sinh hiểu nghĩa từ một cách dễ dàng, nhưng cách giải nghĩa này đòi hỏi giáo
viên phải chuẩn bị khá công phu và không thể dùng để giải thích những từ trừu
tượng. Biện pháp này nên dùng ở các lớp đầu cấp.
Ví dụ: Bài tập yêu cầu học sinh "nhìn vào tranh vẽ xem đâu là đỉnh núi, chân
nhận kiến thức lí thuyết ngôn ngữ của học sinh. Đối với mỗi nhóm bìa học, lựa
chọn phương pháp thích hợp.
Biện pháp 2: Thường xuyên tạo ra những tình huống có vấn đề trong tiết
học, từ đó gây cho học sinh những bất ngờ thú vị khi học phân môn này.
Ví dụ 1: Khi dạy bài so sánh trang 42, tập 1 tôi đố học sinh câu hỏi Cái dấu
hỏi giống như cái gì? (Học sinh trả lời: Cái dấu hỏi như vành tai nhỏ). Từ đó tôi
giới thiệu cho học sinh biết đây là câu có hình ảnh so sánh bài học hôm nay các em
sẽ được học bài “So sánh”.
Ví dụ 2: Khi dạy bài Luyện từ và câu: Bài So sánh - dấu chấm trang 24 tập 1.
Trước khi vào bài tập 3: Đặt dấu chấm thích hợp trong đoạn văn và viết hoa những
chữ đầu câu, tôi nói: Trong bài cuộc họp của chữ viết bạn Hoàng không biết dùng
dấu chấm câu có đoạn bạn viết thế này: Tôi gắn bảng phụ đoạn văn bạn Hoàng viết
trên bảng và cho học sinh đọc “Chú lính bước vào đầu chú. Đội chiếc mũ sắt dưới
chân. Đi đôi giày da trên trán lấm tấm mồ hôi.” Cho học sinh nhận xét đoạn văn
bạn Hoàng viết, bạn dùng dấu chấm đúng hay sai? (Học sinh trả lời ‘Sai’) Giáo
viên nói vậy bây giờ chúng ta sẽ giúp bạn Hoàng sửa lại dấu chấm câu cho đúng .
Tôi cho học sinh sửa dấu chấm câu cho đúng, học sinh sẽ sửa được và cho học
sinh đọc đoạn văn vừa sửa rồi so sánh với đoạn văn chưa sửa .
Khi học sinh đã sửa xong giáo viên hỏi: Nếu dùng dấu chấm không thích hợp
thì nghĩa của câu văn thế nào? (Nghĩa của câu văn sẽ khác đi làm cho người đọc
cảm thấy buồn cười). Từ đó học sinh sẽ thận trọng đặt dấu câu, dấu chấm câu cho
đúng ở các bài tập cùng dạng và vân dụng khi viết văn. Những tiết học như thế sẽ
sinh động hơn, học sinh cảm thấy hứng thú học tập hơn. Như vậy tôi đã dùng
phương pháp dạy học nêu vấn đề và đòi hỏi học sinh phải giải quyết vấn đề cho
những tình huống đặt ra.Tình huống có vấn đề đóng vai trò quan trọng trong dạy
học nêu vấn đề. Việc giải quyết vấn đề trong tình huống cụ thể, học sinh nắm tri
thức và phát triển tư duy sáng tạo. Phương pháp này nhằm phát huy tính độc lập
suy nghĩ và tính sáng tạo của học sinh.
Biện pháp 3: Tạo thói quen sử dụng Từ điển Tiếng Việt cho các em trong
một số tiết Luyện từ và câu
vậy kết quả học tập sẽ được nâng cao.
- Việc sử dụng trò chơi học tập làm cho tiết học giảm bớt phần khô khan tăng
thêm phần sinh động, hấp dẫn. Những bài tập tổ chức chơi trò chơi thường là các
bài tập cuối tiết hoặc các bài tập dưới dạng củng cố mở rộng kiến thức nó thường
diễn ra khoảng 5 đến 6 phút.
Ví dụ : Tiết Luyện từ và câu bài so sánh trang 42, tập 1. Chia 3 đội chơi mỗi
đội 3 em đại diện cho tổ chơi trò chơi tiếp sức học tập, 3 em trong đội phải nối tiếp
nhau mỗi em viết một câu có hình ảnh so sánh. Kết quả tôi thấy các em viết được
các câu có hình ảnh so sánh rất nhanh và rất hay. Như vậy chỉ trong khoảng 5 phút
các em đã viết được 9 câu câu văn có hình ảnh so sánh mà còn tạo cho các em
không khí thoải mái trong tiết học mà khắc sâu được kiến thức mới học đồng thời
giúp học sinh biết cách sử dụng từ để viết câu có hình ảnh so sánh thành thạo. Tôi
tin rằng những tiết học như thế các em sẽ nhớ lâu hơn và mong muốn được tham
gia các trò chơi ở các tiết tiếp theo.
Biện pháp 6: Tạo tâm thế thoải mái cho các em trong học tập
Tiết học được coi là thành công nếu tiết học đó học sinh có thể lĩnh hội không
chỉ nội dung chính trong sách giáo khoa mà còn mở rộng được kiến thức mở rộng.
Khi dạy tiết Luyện từ và câu tôi thường lấy thêm các bài tập nâng cao ngoài sách
giáo khoa cho học sinh làm với hình thưc khuyến khích học sinh chứ không áp đặt
nên các em rất thoải mái tiếp nhận những bài tập làm thêm và làm có hiệu quả. Tôi
luôn gần gũi giúp đỡ các em làm tốt các bài tập từ đó học sinh đã hứng thú học
phân môn này. Việc giao tiếp với thầy cô, bạn bè của các em có phần tự tin rất
nhiều. Các em áp dụng vào viết văn cũng tốt hơn.
10
2.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm
Sau một thời gian áp dụng những kinh nghiệm của bản thân vào các tiết dạy
Luyện từ và câu. Tôi đã nhận thấy hiệu quả các tiết dạy có chuyển biến tốt. Các em
đã có hứng thú học phân môn Luyện từ và câu hơn, giờ học diễn ra tự nhiên, nhẹ
65,5
Chưa hoàn
thành
TL
SL
4
13,3
6
20,7
2. Chất lượng giữa học kì II như sau:
Lớp
3A(Lớp thực nghiệm)
3B (Lớp đối chứng)
Sĩ số
30
29
Hoàn thành tốt
SL
16
6
Hoàn thành
TL
53,4
Luyện từ và câu, hạn chế được những khó khăn của học sinh khi học phân môn
này và kích thích hứng thú học tập, nâng cao chất lượng học, người giáo viên cần
thực hiện tốt những giải pháp sau:
Giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy theo chuẩn kiến thức kĩ
năng, kết hợp cùng tài liệu tham khảo để hướng dẫn học sinh làm bài tập một cách
tốt nhất.
Thường xuyên tạo ra những tình huống có vấn đề trong tiết học từ đó gây sự
bất ngờ, thú vị khi học phân môn này.
Trong các tiết dạy, giáo viên cần phân loại các dạng bài tập để lựa chọn
phương pháp phù hợp với từng bài để kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Tạo tâm thế thoải mái trong học tập cho học sinh.
Thường xuyên tổ chức phương pháp trò chơi học tập.
Là một giáo viên nhiều năm giảng dạy ở khối 3, tôi cũng đã có một số biện
pháp để tích góp chuyên môn cho bản thân trong quá trình giảng dạy phân môn
Luyện từ và câu. Song tôi tự thấy mình cần phải cố gắng học hỏi nhiều hơn nữa. Vì
thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn nên đề tài của tôi không tránh khỏi thiếu
sót. Rất mong hội đồng khoa học nhà trường, Phòng Giáo dục và các bạn đồng
nghiệp đọc và góp ý cho đề tài được hoàn thiện hơn, tôi xin chân thành cảm ơn.
- Kiến nghị
+ Đối với nhà trường: Thường xuyên bổ sung tài liệu tham khảo. Khi tổ chức
hoạt động ngoài giờ lên lớp, nên xen những câu hỏi có liên quan đến phân môn
Luyện từ và câu để học sinh có thêm vốn kiến thức về cách dùng từ và đặt câu.
+ Đối Phòng Giáo dục và Đào tạo: Hàng năm tổ chức hội thảo nâng cao hiệu
quả viết sáng kiến kinh nghiệm đến toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
...................................................
...................................................
...................................................
....................................................
3
Sách nâng cao Tiếng Việt 3
NXB Giáo dục
4
Luyện từ và câu Tiếng Việt 3
Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
5
Dạy học từ ngữ ở tiểu học
NXB Giáo dục
6
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến NXB Giáo dục
thức, kĩ năng các môn học ở tiểu
học – Lớp 3
13
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
Năm học
đánh giá
xếp loại
Phòng GD&ĐT
C
2013-2014
Phòng GD&ĐT
B
2014-2015
Phòng GD&ĐT
C
2015-2016
14