Tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh thái bình - Pdf 57

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH QUANG

TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Ở TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH QUANG

TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Ở TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. TS. Mai Thế Hởn
2. PGS.TS. Bùi Ngọc Quỵnh


Nội dung và các nhâ
ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao
2.3.
Kinh nghiệm tập trun
nghệ cao ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương trong nước và bài
học cho tỉnh Thái Bình
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO Ở TỈNH THÁI BÌNH
GIAI ĐOẠN 2011 - 2017
3.1.
Điều kiện tự nhiên, k
đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình
3.2.
Tình hình tập trung r
nghệ cao ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2017
3.3. Đánh giá chung về tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp
công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2017 và những vấn đề đặt ra
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ TẬP TRUNG RUỘNG
ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO Ở
TỈNH THÁI BÌNH ĐẾN NĂM 2025
4.1.
Quan điểm định hướ
triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình
4.2. Những giải pháp chủ yếu tập trung ruộng đất để phát triển nông
nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình đến năm 2025
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

12
KTHH
13
KHCN
14
KHKT
15
NNHH
NNCNCNông nghiệp công nghệ cao
NN&PTNTNông nghiệp và Phát triển nông thôn
18
19
20
21
22
23

NSLĐ
QHSX
QSDĐ
SXNN
TBCN
TH

24
ThaiBinh Seed Công ty Cổ phần Tổng công ty Giống cây trồng
Thái Bình

25
26

Biểu đồ 2.1.
Biểu đồ 2.2
Biểu đồ 2.3
Hình 2.1
Hình 3.1


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là xu hướng chủ đạo,
chìa khóa thành công của các nước có nền nông nghiệp phát triển và cũng như
tính tất yếu cho nông nghiệp thế giới. Ở Việt Nam, sản xuất NNCNC là đòi hỏi
khách quan của nền nông nghiệp trước tác động của hội nhập quốc tế, biến đổi
khí hậu và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đồng thời là một trong những giải
pháp quan trọng trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, tái cơ cấu
lại ngành nông nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
nông nghiệp, nông thôn. Trước yêu cầu đó, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta
đã quan tâm chỉ đạo: “…có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất
(TTRĐ), thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp; từng bước
hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao” [25],
trước hết đẩy mạnh phát triển NNCNC ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng có
nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Quán triệt đường lối của Đảng, Ngày 29/01/2010, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 176/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) đến năm 2020 với mục tiêu: xây
dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, có năng suất,
chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng 3,5%/năm...
Đây được xem là bước khởi đầu quan trọng cho việc phát triển NNCNC trên phạm
vi cả nước. Trên cơ sở đó,ngày 04/5/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định Số:

1,79 thửa/hộ); các hình thức TTRĐ để phát triển NNCNC còn ít, chưa đa dạng, quy
mô nhỏ, tốc độ phát triển chậm, và thiếu bền vững vì vậy chưa tạo được khối lượng
sản phẩm hàng hóa lớn. Năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông
sản thấp; đời sống thu nhập của nông dân vẫn rất khó khăn.
Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên nhằm phát huy tối đa những tiềm
năng về điều kiện tự nhiên, con người, đồng thời thích nghi tốt hơn với thách thức
từ các yếu tố biến động bên ngoài, tăng thu nhập cho người nông dân, hướng tới
phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững cần đẩy mạnh hoạt động TTRĐ để
phát triển NNCNC, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa (SXHH) tập trung quy


3
mô lớn; từng bước xây dựng khu NNCNC. Đây cũng chính là sự cụ thể hóa chủ
trương tập trung ruộng đất đã nêu trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ
tỉnh Thái Bình. Đồng thời là thực hiện giải pháp đột phá, trọng tâm trong SXNN
tại Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030. Vì vậy, tìm hiểu nghiên cứu nguyên nhân các rào cản đối với quá
trình TTRĐ để phát triển NNCNC trên địa bàn tỉnh từ đó có giải pháp phù hợp là
vấn đề cấp thiết. Tác giả lựa chọn đề tài: “Tập trung ruộng đất để phát triển
nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình” làm nội dung nghiên cứu cho
luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1.Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận khoa học của TTRĐ để phát triển NNCNC trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đánh giá đúng thực trạng, kết
quả đạt được, tìm hiểu nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong quá trình

điểm hình thức TTRĐ để phát triển NNCNC giữa nông dân với doanh nghiệp mô hình thuê quyền sử dụng đất (QSDĐ) của Tập đoàn TH True Milk); nhân tố
ảnh hưởng; yêu cầu của TTRĐ để phát triển NNCNC.
-

Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên phạm vi TTRĐ để phát triển

NNCNC ở tỉnh Thái Bình, do tỉnh quản lý (tập trung ruộng đất để phát triển
NNCNC trong lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt).
Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình TTRĐ để phát triển
NNCNC


Thái Bình từ năm 2011 - 2017, các giải pháp đưa ra đến năm 2025.
4.

Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu

4.1.Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách và pháp luật
của Nhà nước về tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp nói chung và
NNCNC nói riêng.
4.2. Cở sở thực tiễn
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm TTRĐ để phát triển NNCNC của một số
nước, vùng lãnh thổ ở Châu Á và một số địa phương trong nước, đồng thời dựa
vào kết quả báo cáo của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình;
Các số liệu từ Cục thống kê tỉnh, Tổng cục thống kê; các công trình nghiên cứu
khoa học, hội nghị, hội thảo, và thực tiễn TTRĐ để phát triển NNCNC của các
doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX), hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
4.3. Phương pháp nghiên cứu

Vấn đề TTRĐ để phát triển NNCNC hiện nay được Đảng, Nhà nước xác
định có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp,
xây dựng và phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, hội nhậpquốc tế.
Vì vậy, kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần làm phong phú thêm lý
luận và thực tiễn của TTRĐ để phát triển NNCNC ở Việt Nam nói chung và tỉnh
Thái Bình nói riêng. Những luận điểm được nêu trong Luận án có thể cung cấp
thêm cơ sở cho các nhà khoa học, các nhà quản lý tại các địa phương tham khảo


6
trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nướcvề TTRĐ để
phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và phát triển NNCNC nói riêng.
-

Luận án góp phần làm sáng tỏ thực trạng TTRĐ để phát triển NNCNC

của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, đồng thời tạo lập cơ sở khoa học để
các cấp lãnh đạo, quản lý tỉnh Thái Bình vận dụng trong việc xây dựng chính
sách thúc đẩy quá trình TTRĐ để phát triển NNCNC, xây dựng nền nông nghiệp
hiện đại, bền vững.
Bổ xung tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy
về vấn
đề sử dụng ruộng đất để phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững trong các
trường đại học, và các cơ quan nghiên cứu, quản lý về đất đai nông nghiệp.
6.
-

Những đóng góp mới của luận án

Nêu và làm rõ nội hàm khái niệm tập trung ruộng đất để phát triển nông

để phát triển sản xuất NNCNC. Hoạt động này diễn ra ở hầu hết các nước trên
xuất phát từ một trong những yêu cầu là nông dân muốn tăng thu nhập thông qua
việc mở rộng quy mô sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại,
đồng thời thích với tình hình thị trường mới. Ngoài ra, TTRĐ còn được coi là
một công cụ để cắt giảm SXNN một cách có kiểm soát và tăng năng suất bằng
cách hạ thấp chi phí. Cùng với mục tiêu này, TTRĐ đặc biệt là ở các nước Trung
Âu nhằm hình thành sự phát triển nông thôn đa chiều với các khía cạnh xã hội,
sinh thái và văn hóa…
Trong báo cáo:“Structural Change in the Farming Sectors in Central
and Eastern Europe - Lessons for EU Accession”101“Thay đổi cấu trúc trong
các lĩnh vực nông nghiệp ở Trung và Đông Âu: bài học gia nhập EU”, tác giả
Csaba Csaki, Zvi Lerman đã chỉ ra sự cần thiết của quá trình TTRĐ để phát triển
SXNN quy mô lớn CNC của mười quốc gia trong tiến trình gia nhập Liên minh
châu Âu (Bulgaria, Séc, Estonia, Hungary, Lithuania, Ba Lan, Tumani, Slovakia,
và Slovenia). Để có nền nông nghiệp phát triển theo kịp các nước trong EU,các
nước này đã tập trung vào cải cách trong nông nghiệp, sửa đổi Luật đất đai và
các thể chế pháp lý để phát triển thị trường QSDĐ nông nghiệp nhằm tạo thuận
lợi cho quá trình TTRĐ, mở rộng quy mô sản xuất để tăng khả


8
năng cạnh tranh. Điều này đã góp phần đưa nông nghiệp các nước trên phát
triển, hòa nhập được với các nước trong EU.
Bài viết “Sustainable development of the rural economy” 108 “Phát
triển bền vững kinh tế nông thôn” của Sándor Magda, Róbert Magda và Sándor
Marselekcho rằng thành công của nông nghiệp Hungary hiện nay phụ thuộc chủ
yếu vào sử dụng tiềm năng của kinh tế nông nghiệp nông thôn. Giống như các
nước hậu xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu, ruộng đất nông nghiệp từ các
trang trại tập thể và HTX được chia cho cho các hộ gia đình cá nhân. Điều này
rất quan trọng đối với an ninh lương thực hộ gia đình, nhưng theo thời gian, diện

vậy các chính phủ cần nhanh chóng cải cách chính sách đất đai nhằm tạo thuận
lợi cho quá trình TTRĐ hình thành các trang trại nông nghiệp quy mô lớn .
“Main problems of agriculture and ruralareas in Poland in the period
oftransformation and integration withEuropean Union”104 “Các vấn đề chính
của nông nghiệp và nông thôn các khu vực ở Ba Lan trong giai đoạn chuyển đổi
và hội nhập với Liên minh châu Âu của” củaJozef Stanistaw Zegar và Zbigniew
Florianczyk, đã chỉ ra những thay đổi của SXNN Ba Lan trong quá trình chuyển
đổi nền kinh tế. Trong quá trình này Chính phủ Ba Lan đã thực hiện các chính
sách vĩ mô như: tư nhân hóa ruộng đất, cung cấp ruộng đất từ các hợp tác xã
nông nghiệp (HTXNN) do nhà nước quản lý cho thị trường đất đai thông qua
việc thanh lý. Nhờ đó đã đẩy nhanh quá trình TTRĐ, hình thành các trang trại
SXNN quy mô lớn ƯDCNC, nông nghiệp Ba Lan được định hướng phát triển
theo mô hình nông nghiệp Châu Âu. Kết quả của quá trình này đã góp phần đưa
nông nghiệp Ba Lan phát triển, và xếp vào nhóm các thành viên lớn của EU,
cùng với Đức, Anh, Pháp, Italy và Tây Ban Nha, hiện Ba Lan là nền kinh tế đứng
thứ 20 thế giới.
“Large scale farming is driven by a relentless quest for efficient
production and concentration along the food supply chain” 107 “Nuôi trồng
quy mô lớn được thúc đẩy bởi một nhiệm vụ không ngừng để sản xuất và tập
trung hiệu quả dọc theo chuỗi cung ứng thực phẩm” của Richard J. Sexton, đã
chỉ ra nguyên nhân xu hướng TTRĐ, mở rộng quy mô trang trại ngày nay tăng


10
lênlà do, thị trường ngày càng tăng, yêu cầu của sự liên kết tất cả các giai đoạn
(sản xuất, chế biến và bán lẻ), của chuỗi cung ứng “từ nông trại đến bàn ăn”, vì
vậy, các nhà chế biến lớn yêu cầu các trang trại mở rộng quy mô để đáp ứng nhu
cầu cao hơn cho các sản phẩm tiêu chuẩn hóa.
Trong cuốn sách“The agricultural development of Japan”111“Sự phát triển
nông nghiệp của Nhật Bản” của tác giả Yujiro Hayami, đã tập trung phân tích, đánh

1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu những khó khăn vƣớng mắc,
yêu cầu đặt ra và giải pháp của tập trung ruộng đất để phát triển nông
nghiệp công nghệ cao
Bài viết “Land Mobility in a Central and Eastern European Land
Consolidation Context”113 “Tập trung ruộng đất ở Trung và Đông âu” của
Morten Hartvigsen đã phân tích và chỉ ra điểm chung ở hầu hết các nước trong
khu vực Trung và Đông Âu sau năm 1989 là đều thực hiện cải cách ruộng đất
theo hướng chia nhỏ cho các hộ gia đình. Những năm gần đây trước ưu thế của
SXNN quy mô lớn, CNC các quốc gia trong khu vực này lại có xu hướng cải
cách nhằm thúc đẩy quá trình TTRĐ hình thành các trang trại lớn. Hiện tại hầu
hết các nước trong khu vực đang thực hiện quá trình TTRĐ phát triển SXNN
theo hướng quy mô lớn CNC với sự giúp đỡ của các quốc gia đã thực hiện thành
công chương trình này như Cộng hòa Séc, Slovakia, (Đông) Đức, Ba Lan,
Slovenia và Litva và đặc biệt là được giúp đỡ của FAO qua các dự án với sự hỗ
trợ kỹ thuật từ các chuyên gia đến từ Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch.
Nghiên cứu “Study on the Functioning of Land Markets in the EU
Member States under the Influence of Measures appliedunder the Common
Agricultural Policy” 117 “Vận hành thị trường đất ở các nước EU dưới tác
động của Chính sách Nông nghiệp chung” là nghiên cứu của Johan Swinnen và
cộng sự về sự phát triển thị trường đất nông nghiệp tại 11 nước và 18 khu vực tại
Châu Âu (EU study countries- EUSC) đã chỉ ra rằng: khó khăn trong quá trình
TTRĐ ở các nước và khu vực này là khác nhau và hết sức đa dạng. Tuy nhiên
một giải pháp chung được áp dụng và đem đến thành công nhất đó là phát triển
thị trường cho thuê. Hiện tại các trang trại ở Bỉ, Pháp, Bắc Ireland và Đức là nơi
đứng đầu về phát triển thị trường cho thuê (nhiều hơn 65% đất được sử dụng).
Hội thảo quốc tế “International Symposium: Land Fragmentation and
Land Consolidation in CEEC: A gate towards sustainable rural development in


12



13
“Land Concentration and Land Market in Japan: An International
Perspective” [109] “Tập trung đất và thị trường đất đai ở Nhật Bản: Một quan
điểm quốc tế”, của Shinsaku Nakajima, đã chỉ ra một đặc điểm chính của SXNN
Nhật Bản là nông dân sở hữu những cánh đồng nhỏ rải rác về mặt địa lý. Chính
phủ Nhật Bản đã có nhiều chính sách nhằm khuyến khích nông dân TTRĐ.
Nghiên cứu đã chỉ ra điều kiện hiện tại, và các rào cản trong TTRĐ nông nghiệp,
thảo luận về lý do tại sao và làm thế nào để có thể thúc đẩy quá trình TTRĐ và
đưa ra một số chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động TTRĐ trong đó nhấn mạnh
đến chương trình ngân hàng đất nông nghiệp.
“Diversifying Large-scale Operations in Agriculture” [112] “Đa dạng hoá
các hoạt động quy mô lớn trong nông nghiệp” của tác giả Zhen Zhong đã phân
tích và chỉ ra một số khó khăn trong quá trình TTRĐ ở Trung Quốc. Để khắc
phục, tác giả dẫn chứng từ Tài liệu số 1 của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản
Trung Quốc năm 2012 yêu cầu “hướng dẫn chuyển quyền quản lý đất ký hợp
đồng, phát triển các hình thức hoạt động quy mô lớn phù hợp, đổi mới trong các
mô hình SXNN và tiếp thị theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tự nguyện đồng ý
và bồi thường”. Vì vậy đến nay hoạt động TTRĐ đã phát triển nhanh và đa dạng,
và phát triển nhất vẫn là doanh nghiệp SXNN ký hợp đồng thuê ruộng của nông
dân.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƢỚC

1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về xu hƣớng, tính tất yếu
khách quan và vai trò của Nhà nƣớc trong việc tập trung ruộng đất để phát
triển nông nghiệp công nghệ cao
“Tập trung ruộng đất trong nông nghiệp bước đầu tiên cho sản xuất hàng
hóa theo hướng hiện đại” [57] của Võ Khắc Sơn đã chỉ ra xu hướng và tính tất
yếu khách quan của TTRĐ để phát triển SXNN theo hướng hiện đại ở nước ta

“Một số vấn đề đặt ra về tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông
nghiệp sản xuất lớn, công nghệ cao” [67] của Nguyễn Văn Thạo đã khẳng định
xu hướng và tính tất yếu khách quan của tích tụ, TTRĐ để phát triển NNCNC ở
nước ta hiện nay. Tác giả cũng chỉ ra rằng hiện nay các hình thức tích tụ, TTRĐ


15
đều mới bước đầu được hình thành và đi vào hoạt động, còn những bất cập và
hạn chế, do đó cần có định hướng ngay từ đầu để bảo đảm hài hòa các lợi ích của
các chủ thể, trong đó coi trọng lợi ích của nông dân gắn với vấn đề bảo vệ môi
trường và giữ gìn ổn định xã hội ở nông thôn.
“Tích tụ, tập trung đất đai, phục vụ phát triển nông nghiệp sản xuất lớn,
công nghệ cao” [2] là chủ đề của tọa đàm khoa học do Tỉnh uỷ Đồng Tháp phối
hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức. Các tham luận đều khẳng định xu
hướng, tính tất yếu khách quan của tích tụ, TTRĐ để phát triển sản xuất
NNCNC. Đồng thời khuyến nghị, quá trình tích tụ, TTRĐ phải gắn với giải pháp
tạo việc làm cho lao động dôi dư. Tích tụ, TTRĐ là điều kiện để phát triển
SXNN quy mô lớn, công nghệ cao nhưng mục tiêu cuối cùng của nó là phải nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản, đời sống của
người nông dân từng bước được nâng lên.
“Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp: Kinh nghiệm thế
giới và hàm sách ý chính cho Việt Nam” [28] của Nguyễn Mạnh Hùng đã chỉ ra
xu hướng, tính tất yếu khách quan cũng như các mô hình và kinh nghiệm tích tụ,
TTRĐ trên thế giới. Từ kinh nghiệm của thế giới tác giả nhận định, nhiều bài học
thành công, thất bại đã được rút ra; nhiều mô hình đã được vận dụng song đến
nay vẫn chưa có mô hình thành công chung có thể áp dụng được ở tất cả các nơi.
Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải tham khảo kỹ kinh nghiệm thế giới để có chính
sách phù hợp trong điều kiện hiện nay.
“Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong
điều kiện mới” [68] của Nguyễn Quang Thuấn đã khẳng định xu hướng và tính

cầu: quá trình tích tụ đất nông nghiệp phải gắn liền với chuyển đổi cơ cấu kinh
tế; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tạo lập các vùng chuyên canh;
chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho một bộ phận nông dân thiếu đất hoặc
không còn đất canh tác, nhằm đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội;
giảm thiểu các tiêu cực xã hội do thất nghiệp gây nên.
“Một số vấn đề về tích tụ, tập trung đất đai trong phát triển nông nghiệp
và nông thôn hiện nay” [6] của Nguyễn Đình Bồng, Nguyễn Thu Hồng đã phân
tích xu hướng và cơ sở pháp lý hiện hành về tích tụ và TTRĐ ở nước ta hiện nay


17
từ đó khẳng định sự cần thiết khách quan TTRĐ, đồng thời đề cập đến thực
trạng, những yếu tố tác động đến quá trình tích tụ, TTRĐ như chính sách, pháp
luật đất đai, chính sách phát triển thị trường QSDĐ…
“Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [60] của Đặng Kim Sơn đã tổng hợp, phân
tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa ở
nhiều nước trên thế giới, nhất là tính tất yếu khách quan, vai trò của TTRĐ để
phát triển nông nghiệp quy mô lớn CNC. Thông qua dẫn chứng chính sách thúc
đẩy phát triển SXNN tập trung quy mô lớn như ở Pháp, Anh, Hà Lan cũng như
chính sách cản trở TTRĐ để phát triển NNCNC như Đài Loan, Nhật Bản, Trung
Quốc (trong những giai đoạn lịch sử nhất định), tác giả nhấn mạnh xu hướng tất
yếu cũng như bài học cho Việt Nam hiện nay.
“Từ kinh nghiệm thế giới suy ngẫm về chính sách đất đai ở nước ta”
[70] của Nguyễn Công Tạn đã so sánh nông nghiệp của Hà Lan (điển hình cho
Châu Âu) và Nhật Bản (điển hình cho Châu Á) để chứng minh sự thành công của
hai chính sách ruộng đất khác nhau. Hà Lan thành công với sản xuất NNCNC
thông qua chính sách thúc đẩy TTRĐ. Thất bại của Nhật Bản khi ngăn cấm tích
tụ, TTRĐ, cho dù SXNN ở Nhật được ƯDCNC. Tác giả dự báo trong tương lai
sản xuất NNCNC sẽ phát triển, vì vậy Chính phủ cần cho phép tích tụ, TTRĐ

phát triển đô thị ra toàn quốc; phát triển công nghiệp địa phương; hỗ trợ cho lao
động rời khỏi nông nghiệp, phát triển thị trường sức lao động chính thức...
“Những điểm phải tuân thủ khi tiến hành tập trung ruộng đất” [83] đó là
yêu cầu cần thực hiện khi tiến hành TTRĐ của tác giả Đỗ Thế Tùng. Theo đó,
TTRĐ để SXHH lớn CNC là yêu cầu bức thiết trong quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn hiện nay. Việc TTRĐ sẽ diễn ra dưới nhiều hình thức linh
hoạt, nhưng dù theo hình thức nào cũng phải tuân thủ nghiêm những điều sau: (i)
Phải bảo đảm mục đích TTRĐ là để phát triển nông nghiệp thương phẩm quy mô
lớn, ƯDCNC; không được “lách luật” để chuyển đổi mục đích sử dụng đất, như
chuyển thành khu đô thị hay khu, cụm công nghiệp; (ii) Thấy được tính đặc thù
của việc hình thành những vùng SXNN chuyên môn hóa để phát huy hiệu quả sử
dụng ruộng đất sau khi tập trung; (iii) Việc TTRĐ phải bảo đảm tự nguyện, cùng
có lợi giữa người giao QSDĐ, đơn vị tiếp nhận và sử dụng ruộng đất sau khi tập


19
trung; (iv) Xác định quy mô sản xuất và quy mô TTRĐ từ nhu cầu có khả năng
thanh toán trên thị trường; (v) Những cơ quan nhà nước có liên quan phải dự báo
trước những hệ quả có thể xảy ra sau khi TTRĐ để có giải pháp thích hợp, không
bị động, tránh gây ra những hậu quả xấu về xã hội, về môi trường...
Báo cáo“Tích tụ, tập trung ruộng đất trong phát triển nông nghiệp hàng
hóa ở nước ta - thực trạng và giải pháp” [27] của Hội đồng Lý luận Trung ương,
đã khái quát thực trạng SXNN ở nước ta thời gian qua, đồng thời phân tích
những bất cập, vướng mắc nẩy sinh trong quá trình thực hiện tích tụ, TTRĐ. Qua
đó đưa ra 7 giải pháp cơ bản và khuyến nghị: Đảng và Chính phủ cần đưa ra các
quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, định hướng và khung chính sách chung về vấn
đề này để phát triển nền NNHH hiện đại. Trên cơ sở đó xây dựng các đề án cụ
thể đối với điều kiện đất đai, điều kiện KTXH, trình độ sản xuất, lĩnh vực sản
xuất…của từng địa phương, khu vực, trong đó xác định rõ quá trình TTRĐ phải
bảo đảm lợi ích chính của người nông dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status