Tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh thái bình - Pdf 57

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH QUANG

TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Ở TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THANH QUANG

TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Ở TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. TS. Mai Thế Hởn
2. PGS.TS. Bùi Ngọc Quỵnh


Nội dung và các nhâ
ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao
2.3.
Kinh nghiệm tập trun
nghệ cao ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương trong nước và bài
học cho tỉnh Thái Bình
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT ĐỂ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO Ở TỈNH THÁI BÌNH
GIAI ĐOẠN 2011 - 2017
3.1.
Điều kiện tự nhiên, k
đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình
3.2.
Tình hình tập trung r
nghệ cao ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2017
3.3. Đánh giá chung về tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp
công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2017 và những vấn đề đặt ra
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ TẬP TRUNG RUỘNG
ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO Ở
TỈNH THÁI BÌNH ĐẾN NĂM 2025
4.1.
Quan điểm định hướ
triển nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình
4.2. Những giải pháp chủ yếu tập trung ruộng đất để phát triển nông
nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình đến năm 2025
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

7
8
9
10
11
12
13
14
15
NNCNCNông nghiệp công nghệ cao
NN&PTNTNông nghiệp và Phát triển nông thôn

18
19
20
21
22
23
24

NSLĐ
QHSX
QSDĐ
SXNN
TBCN
TH

ThaiBinh Seed Công ty Cổ phần Tổng công ty Giống cây trồng Thái Bình

25

Bảng 3.4
Biểu đồ 2.1.
Biểu đồ 2.2
Biểu đồ 2.3
Hình 2.1
Hình 3.1


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là xu hướng chủ đạo,
chìa khóa thành công của các nước có nền nông nghiệp phát triển và cũng như
tính tất yếu cho nông nghiệp thế giới. Ở Việt Nam, sản xuất NNCNC là đòi hỏi
khách quan của nền nông nghiệp trước tác động của hội nhập quốc tế, biến đổi
khí hậu và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đồng thời là một trong những giải
pháp quan trọng trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, tái cơ cấu
lại ngành nông nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
nông nghiệp, nông thôn. Trước yêu cầu đó, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta
đã quan tâm chỉ đạo: “…có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất
(TTRĐ), thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp; từng bước
hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao” [25],
trước hết đẩy mạnh phát triển NNCNC ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng có
nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Quán triệt đường lối của Đảng, Ngày 29/01/2010, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 176/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) đến năm 2020 với mục tiêu: xây
dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, có năng suất,
chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng 3,5%/năm...
Đây được xem là bước khởi đầu quan trọng cho việc phát triển NNCNC trên phạm

tích dưới 0,2ha và 98% nông hộ có quy mô nhỏ hơn 0,5ha và bình quân chung là
1,79 thửa/hộ); các hình thức TTRĐ để phát triển NNCNC còn ít, chưa đa dạng, quy
mô nhỏ, tốc độ phát triển chậm, và thiếu bền vững vì vậy chưa tạo được khối lượng
sản phẩm hàng hóa lớn. Năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông
sản thấp; đời sống thu nhập của nông dân vẫn rất khó khăn.
Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên nhằm phát huy tối đa những tiềm
năng về điều kiện tự nhiên, con người, đồng thời thích nghi tốt hơn với thách thức
từ các yếu tố biến động bên ngoài, tăng thu nhập cho người nông dân, hướng tới
phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững cần đẩy mạnh hoạt động TTRĐ để
phát triển NNCNC, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa (SXHH) tập trung quy


3
mô lớn; từng bước xây dựng khu NNCNC. Đây cũng chính là sự cụ thể hóa chủ
trương tập trung ruộng đất đã nêu trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ
tỉnh Thái Bình. Đồng thời là thực hiện giải pháp đột phá, trọng tâm trong SXNN
tại Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030. Vì vậy, tìm hiểu nghiên cứu nguyên nhân các rào cản đối với quá
trình TTRĐ để phát triển NNCNC trên địa bàn tỉnh từ đó có giải pháp phù hợp là
vấn đề cấp thiết. Tác giả lựa chọn đề tài: “Tập trung ruộng đất để phát triển
nông nghiệp công nghệ cao ở tỉnh Thái Bình” làm nội dung nghiên cứu cho
luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1.

Mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án: là những quan hệ kinh tế - xã hội của
tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu sự cần thiết, hình thức TTRĐ (nghiên cứu

-

điểm hình thức TTRĐ để phát triển NNCNC giữa nông dân với doanh nghiệp mô hình thuê quyền sử dụng đất (QSDĐ) của Tập đoàn TH True Milk); nhân tố
ảnh hưởng; yêu cầu của TTRĐ để phát triển NNCNC.
-

Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên phạm vi TTRĐ để phát triển

NNCNC ở tỉnh Thái Bình, do tỉnh quản lý (tập trung ruộng đất để phát triển
NNCNC trong lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt).


Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình TTRĐ để phát triển NNCNC

Thái Bình từ năm 2011 - 2017, các giải pháp đưa ra đến năm 2025.
4.

Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu

4.1.

Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách và pháp luật

những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra cần giải quyết trong quá
trình TTRĐ để phát triển NNCNC ở Thái Bình hiện nay.
Chương 4: Luận án sử dụng phương pháp logic với lịch sử, kết hợp lý
luận với thực tiễn đề xuất các quan điểm và giải pháp góp phần thúc đẩy quá
trình TTRĐ để phát triển NNCNC ở Thái Bình đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,
HĐH nông nghiệp nông thôn và hội nhập quốc tế hiện nay.
5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Vấn đề TTRĐ để phát triển NNCNC hiện nay được Đảng, Nhà nước xác
định có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp,
xây dựng và phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, hội nhậpquốc tế.
Vì vậy, kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần làm phong phú thêm lý
luận và thực tiễn của TTRĐ để phát triển NNCNC ở Việt Nam nói chung và tỉnh
Thái Bình nói riêng. Những luận điểm được nêu trong Luận án có thể cung cấp
thêm cơ sở cho các nhà khoa học, các nhà quản lý tại các địa phương tham khảo


6
trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nướcvề TTRĐ để
phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và phát triển NNCNC nói riêng.
Luận án góp phần làm sáng tỏ thực trạng TTRĐ để phát triển NNCNC

-

của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, đồng thời tạo lập cơ sở khoa học để
các cấp lãnh đạo, quản lý tỉnh Thái Bình vận dụng trong việc xây dựng chính
sách thúc đẩy quá trình TTRĐ để phát triển NNCNC, xây dựng nền nông nghiệp
hiện đại, bền vững.

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƢỚC

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết tập
trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Bài viết “An Overview of Land Consolidation in Europe”[114] “Tổng
quan về tập trung đất đai ở châu Âu” của Arvo Vitikainen, D.Sc. Theo tác giả,
vào cuối thế kỷ XX một loạt nước Đức, Hà Lan, Pháp, Bỉ, Luxembourg, Áo và
Thụy Sĩ cũng như Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển đã đẩy mạnh hoạt động TTRĐ
để phát triển sản xuất NNCNC. Hoạt động này diễn ra ở hầu hết các nước trên
xuất phát từ một trong những yêu cầu là nông dân muốn tăng thu nhập thông qua
việc mở rộng quy mô sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại,
đồng thời thích với tình hình thị trường mới. Ngoài ra, TTRĐ còn được coi là
một công cụ để cắt giảm SXNN một cách có kiểm soát và tăng năng suất bằng
cách hạ thấp chi phí. Cùng với mục tiêu này, TTRĐ đặc biệt là ở các nước Trung
Âu nhằm hình thành sự phát triển nông thôn đa chiều với các khía cạnh xã hội,
sinh thái và văn hóa…
Trong báo cáo:“Structural Change in the Farming Sectors in Central
and Eastern Europe - Lessons for EU Accession”[101]“Thay đổi cấu trúc trong
các lĩnh vực nông nghiệp ở Trung và Đông Âu: bài học gia nhập EU”, tác giả
Csaba Csaki, Zvi Lerman đã chỉ ra sự cần thiết của quá trình TTRĐ để phát triển
SXNN quy mô lớn CNC của mười quốc gia trong tiến trình gia nhập Liên minh
châu Âu (Bulgaria, Séc, Estonia, Hungary, Lithuania, Ba Lan, Tumani, Slovakia,
và Slovenia). Để có nền nông nghiệp phát triển theo kịp các nước trong EU,các
nước này đã tập trung vào cải cách trong nông nghiệp, sửa đổi Luật đất đai và
các thể chế pháp lý để phát triển thị trường QSDĐ nông nghiệp nhằm tạo thuận
lợi cho quá trình TTRĐ, mở rộng quy mô sản xuất để tăng khả




9
Deininger và Derek Byerlee. Thông qua việc nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa
trang trại nhỏ và lớn đại diện ở các quốc gia: Đông Âu và Trung Á (bao gồm các
nước Slovakia, Kazakhstan, Nga, Albania, Latvia, Slovenia, Ukraina); Đông
Nam Á (Malaysia và Indonesia); Châu Phi cận Sahara (Sudan, Nigeria, Nam
Phi), Mỹ Latin bao gồm (Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay) các tác giả
cho rằng, trong từng giai đoạn, hiệu quả của các trang trại là khác nhau. Tuy
nhiên trong những năm gần đây những thay đổi về KHCN và thị trường đã cho
thấy các trang trại quy mô lớn đem lại hiệu quả kinh tế hơn các trang trại nhỏ, vì
vậy các chính phủ cần nhanh chóng cải cách chính sách đất đai nhằm tạo thuận
lợi cho quá trình TTRĐ hình thành các trang trại nông nghiệp quy mô lớn .
“Main problems of agriculture and ruralareas in Poland in the period
oftransformation and integration withEuropean Union”[104] “Các vấn đề chính
của nông nghiệp và nông thôn các khu vực ở Ba Lan trong giai đoạn chuyển đổi
và hội nhập với Liên minh châu Âu của” củaJozef Stanistaw Zegar và Zbigniew
Florianczyk, đã chỉ ra những thay đổi của SXNN Ba Lan trong quá trình chuyển
đổi nền kinh tế. Trong quá trình này Chính phủ Ba Lan đã thực hiện các chính
sách vĩ mô như: tư nhân hóa ruộng đất, cung cấp ruộng đất từ các hợp tác xã
nông nghiệp (HTXNN) do nhà nước quản lý cho thị trường đất đai thông qua
việc thanh lý. Nhờ đó đã đẩy nhanh quá trình TTRĐ, hình thành các trang trại
SXNN quy mô lớn ƯDCNC, nông nghiệp Ba Lan được định hướng phát triển
theo mô hình nông nghiệp Châu Âu. Kết quả của quá trình này đã góp phần đưa
nông nghiệp Ba Lan phát triển, và xếp vào nhóm các thành viên lớn của EU,
cùng với Đức, Anh, Pháp, Italy và Tây Ban Nha, hiện Ba Lan là nền kinh tế đứng
thứ 20 thế giới.
“Large scale farming is driven by a relentless quest for efficient
production and concentration along the food supply chain” [107] “Nuôi trồng
quy mô lớn được thúc đẩy bởi một nhiệm vụ không ngừng để sản xuất và tập

“Agriculture Land Policies of Taiwan”[102] “Chính sách Nông nghiệp
của Đài Loan” của Hwang-Jaw Lee, đã nêu lên đặc điểm của SXNN Đài Loan
phổ biến là trang trại gia đình quy mô nhỏ. Năm 1953, hòn đảo này có đến 673
ngàn trang trại với quy mô là 1,29ha/một trang trại, năm 1991 số trang trại đã lên
đến 823.266 với quy mô chỉ còn 1,08ha. Để khắc phục hạn chế của SXNN quy
mô nhỏ và thúc đẩy sản xuất tập trung quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu của việc xây
dựng nền nông nghiệp hiện đại, hội nhập, chính phủ thông qua 3 giai đoạn cải


11
cách chính sách nông nghiệp, từng bước tiến hành TTRĐ để phát triển SXNN
quy mô lớn công nghệ cao.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu những khó khăn vƣớng mắc,
yêu cầu đặt ra và giải pháp của tập trung ruộng đất để phát triển nông
nghiệp công nghệ cao
Bài viết “Land Mobility in a Central and Eastern European Land
Consolidation Context”[113] “Tập trung ruộng đất ở Trung và Đông âu” của
Morten Hartvigsen đã phân tích và chỉ ra điểm chung ở hầu hết các nước trong
khu vực Trung và Đông Âu sau năm 1989 là đều thực hiện cải cách ruộng đất
theo hướng chia nhỏ cho các hộ gia đình. Những năm gần đây trước ưu thế của
SXNN quy mô lớn, CNC các quốc gia trong khu vực này lại có xu hướng cải
cách nhằm thúc đẩy quá trình TTRĐ hình thành các trang trại lớn. Hiện tại hầu
hết các nước trong khu vực đang thực hiện quá trình TTRĐ phát triển SXNN
theo hướng quy mô lớn CNC với sự giúp đỡ của các quốc gia đã thực hiện thành
công chương trình này như Cộng hòa Séc, Slovakia, (Đông) Đức, Ba Lan,
Slovenia và Litva và đặc biệt là được giúp đỡ của FAO qua các dự án với sự hỗ
trợ kỹ thuật từ các chuyên gia đến từ Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch.
Nghiên cứu “Study on the Functioning of Land Markets in the EU
Member States under the Influence of Measures appliedunder the Common
Agricultural Policy” [117] “Vận hành thị trường đất ở các nước EU dưới tác

nông dân về thủ tục đất đai trong quá trình TTRĐ còn hạn chế.

“The Frame of Agricultural Policy and Recent Major Agricultural Policy
in Korea” [103] “Khung chính sách nông nghiệp và chính sách nông nghiệp lớn
gần đây tại Hàn Quốc ” của Jeongbin Im, Iljeong Jeong, đã chỉ ra đặc trưng của
nông nghiệp Hàn Quốc là canh tác dựa trên nền tảng gia đình quy mô nhỏ. Chính
phủ cho rằng rằng cần phải thúc đẩy quá trình TTRĐ nhằm tạo ra quy mô canh
tác lớn để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên yếu
tố tâm lý, tập quán canh tác quy mô nhỏ là rào cản cho quá trình TTRĐ. Với
quyết tâm cao, Chính phủ đã thực hiện một loạt các cải cách nhằm thúc đẩy quá
trình TTRĐ trong hai thập kỷ qua vì vậy hiện tại nông nghiệp Hàn Quốc đã đáp
ứng được yêu cầu của sản xuất quy mô lớn, hội nhập quốc tế.


13
“Land Concentration and Land Market in Japan: An International
Perspective” [109] “Tập trung đất và thị trường đất đai ở Nhật Bản: Một quan
điểm quốc tế”, của Shinsaku Nakajima, đã chỉ ra một đặc điểm chính của SXNN
Nhật Bản là nông dân sở hữu những cánh đồng nhỏ rải rác về mặt địa lý. Chính
phủ Nhật Bản đã có nhiều chính sách nhằm khuyến khích nông dân TTRĐ.
Nghiên cứu đã chỉ ra điều kiện hiện tại, và các rào cản trong TTRĐ nông nghiệp,
thảo luận về lý do tại sao và làm thế nào để có thể thúc đẩy quá trình TTRĐ và
đưa ra một số chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động TTRĐ trong đó nhấn mạnh
đến chương trình ngân hàng đất nông nghiệp.
“Diversifying Large-scale Operations in Agriculture” [112] “Đa dạng hoá
các hoạt động quy mô lớn trong nông nghiệp” của tác giả Zhen Zhong đã phân
tích và chỉ ra một số khó khăn trong quá trình TTRĐ ở Trung Quốc. Để khắc
phục, tác giả dẫn chứng từ Tài liệu số 1 của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản
Trung Quốc năm 2012 yêu cầu “hướng dẫn chuyển quyền quản lý đất ký hợp
đồng, phát triển các hình thức hoạt động quy mô lớn phù hợp, đổi mới trong các

đều có chung nhận định về xu hướng, tính tất yếu khách quan của tích tụ, TTRĐ
trong SXNN, đồng thời tập trung làm rõ: i) Cơ sở lý luận và thực tiễn (các khái
niệm về tích tụ, TTRĐ); ii) Các hướng tích tụ, tập trung ruộng đất; iii) Khung thể
chế cho vấn đề này và mô hình, phương thức phù hợp cho Việt Nam.
“Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Đôi điều
trăn trở” [92] của tác giả Trần Đức Viên đã chỉ ra xu hướng và tính tất yếu
khách quan của tích tụ, TTRĐ để phát triển NNCNC hiện nay. Hoạt động này
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh qua việc tận
dụng được lợi thế kinh tế qui mô, tạo ra giá trị gia tăng cao trên đơn vị diện tích,
trên đơn vị đầu tư. Đồng thời quá trình này phải coi doanh nghiệp là đầu tàu để
xây dựng chất lượng sản phẩm nông sản và kết nối nông sản Việt nam với thị
trường toàn cầu.
“Một số vấn đề đặt ra về tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nông
nghiệp sản xuất lớn, công nghệ cao” [67] của Nguyễn Văn Thạo đã khẳng định
xu hướng và tính tất yếu khách quan của tích tụ, TTRĐ để phát triển NNCNC ở
nước ta hiện nay. Tác giả cũng chỉ ra rằng hiện nay các hình thức tích tụ, TTRĐ


15
đều mới bước đầu được hình thành và đi vào hoạt động, còn những bất cập và
hạn chế, do đó cần có định hướng ngay từ đầu để bảo đảm hài hòa các lợi ích của
các chủ thể, trong đó coi trọng lợi ích của nông dân gắn với vấn đề bảo vệ môi
trường và giữ gìn ổn định xã hội ở nông thôn.
“Tích tụ, tập trung đất đai, phục vụ phát triển nông nghiệp sản xuất lớn,
công nghệ cao” [2] là chủ đề của tọa đàm khoa học do Tỉnh uỷ Đồng Tháp phối
hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức. Các tham luận đều khẳng định xu
hướng, tính tất yếu khách quan của tích tụ, TTRĐ để phát triển sản xuất
NNCNC. Đồng thời khuyến nghị, quá trình tích tụ, TTRĐ phải gắn với giải pháp
tạo việc làm cho lao động dôi dư. Tích tụ, TTRĐ là điều kiện để phát triển
SXNN quy mô lớn, công nghệ cao nhưng mục tiêu cuối cùng của nó là phải nâng

Chung và Đinh Ngọc Hà là bài viết chuyên sâu về tích tụ, TTRĐ ở nước ta hiện
nay. Nghiên cứu gồm ba phần với số liệu minh họa phong phú. Phần 1 đề cập
đến những vấn đề lý luận xoay quanh mục tiêu làm thế nào để tích tụ, TTRĐ
thúc đẩy tích cực đến phát triển kinh tế. Phần 2 mô tả thực trạng tích tụ, TTRĐ ở
Việt Nam hiện nay, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Phần 3 đưa ra một
số định hướng, kiến nghị giải pháp cho việc tích tụ ruộng đất ở Việt Nam để
phục vụ tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.
“Nghiên cứu lý luận, thực tiễn vấn đề tích tụ đất nông nghiệp nhằm góp
phần phát triển nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống nông dân” [65]
của Đặng Quốc Thắng đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề tích tụ đất
nông nghiệp thời gian qua, từ đó nhận định đây là một vấn đề KTXH tất yếu
khách quan. Tuy nhiên gắn với thực tiễn Việt Nam, tác giả nhấn mạnh đến yêu
cầu: quá trình tích tụ đất nông nghiệp phải gắn liền với chuyển đổi cơ cấu kinh
tế; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tạo lập các vùng chuyên canh;
chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho một bộ phận nông dân thiếu đất hoặc
không còn đất canh tác, nhằm đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội;
giảm thiểu các tiêu cực xã hội do thất nghiệp gây nên.
“Một số vấn đề về tích tụ, tập trung đất đai trong phát triển nông nghiệp
và nông thôn hiện nay” [6] của Nguyễn Đình Bồng, Nguyễn Thu Hồng đã phân
tích xu hướng và cơ sở pháp lý hiện hành về tích tụ và TTRĐ ở nước ta hiện nay


17
từ đó khẳng định sự cần thiết khách quan TTRĐ, đồng thời đề cập đến thực
trạng, những yếu tố tác động đến quá trình tích tụ, TTRĐ như chính sách, pháp
luật đất đai, chính sách phát triển thị trường QSDĐ…
“Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [60] của Đặng Kim Sơn đã tổng hợp, phân
tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa ở
nhiều nước trên thế giới, nhất là tính tất yếu khách quan, vai trò của TTRĐ để

Nguyễn Bá, Thúy An đã chỉ ra tiềm năng của Đồng bằng sông Cửu Long là rất
lớn, được mệnh danh là vựa lúa, vựa trái cây, thủy sản lớn nhất cả nước. Tuy
nhiên thời gian gần đây tốc độ tăng trưởng SXNN của vùng đang giảm dần và
bộc lộ những yếu kém. Từ thực tế trên, tác giả cho rằng, Đồng bằng sông Cửu
Long phải nhanh chóng chuyển đổi mô hình sản xuất nhỏ lẻ, sang mô hình sản
xuất quy mô lớn, và tích tụ, TTRĐ được coi là tiền đề để chuyển đổi mô hình đó.
1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và giải pháp tập
trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Báo cáo “Tập trung ruộng đất ở Việt Nam: Thực trạng và gợi ý chính
sách”[36] của Nguyễn Trung Kiên đã chỉ ra thực trạng sử dụng ruộng đất, phân
tích, đánh giá một số hình thức TTRĐ đang diễn ra. Trên cơ sở đó báo cáo đưa ra
quan điểm, giải pháp ưu tiên để thực hiện tích tụ, TTRĐ nông nghiệp trong thời
gian tới đó là: hoàn thiện quy hoạch SXNN, thành lập các vùng chuyên canh
nông nghiệp, các vùng sản xuất NNCNC; thực hiện rút lao động ra khỏi nông
nghiệp thông qua phát triển kinh tế dịch vụ nông thôn; thực hiện quy hoạch giãn
phát triển đô thị ra toàn quốc; phát triển công nghiệp địa phương; hỗ trợ cho lao
động rời khỏi nông nghiệp, phát triển thị trường sức lao động chính thức...
“Những điểm phải tuân thủ khi tiến hành tập trung ruộng đất” [83] đó là
yêu cầu cần thực hiện khi tiến hành TTRĐ của tác giả Đỗ Thế Tùng. Theo đó,
TTRĐ để SXHH lớn CNC là yêu cầu bức thiết trong quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn hiện nay. Việc TTRĐ sẽ diễn ra dưới nhiều hình thức linh
hoạt, nhưng dù theo hình thức nào cũng phải tuân thủ nghiêm những điều sau: (i)
Phải bảo đảm mục đích TTRĐ là để phát triển nông nghiệp thương phẩm quy mô
lớn, ƯDCNC; không được “lách luật” để chuyển đổi mục đích sử dụng đất, như
chuyển thành khu đô thị hay khu, cụm công nghiệp; (ii) Thấy được tính đặc thù
của việc hình thành những vùng SXNN chuyên môn hóa để phát huy hiệu quả sử
dụng ruộng đất sau khi tập trung; (iii) Việc TTRĐ phải bảo đảm tự nguyện, cùng
có lợi giữa người giao QSDĐ, đơn vị tiếp nhận và sử dụng ruộng đất sau khi tập






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status