Áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự của luật quốc tế vào giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM ĐỨC HIỆP

ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC CHIẾM HỮU THỰC SỰ
CỦA LUẬT QUỐC TẾ VÀO
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM ĐỨC HIỆP

ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC CHIẾM HỮU THỰC SỰ
CỦA LUẬT QUỐC TẾ VÀO
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. GVCC NGUYỄN BÁ DIẾN

Hà Nội – 2017


1.1.2. Phân loại tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ................................................................. 15
1.1.3. Thiết chế giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ................................................ 16
1.1.4. Nguồn luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ........................... 30
1.1.5. Tổng quan về tình hình tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các quốc
gia khác .............................................................................................................................. 28
1.2. Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ....... 29
1.2.1. Khái niệm nguyên tắc chiếm hữu thực sự ............................................................... 29
1.2.2. Quá trình hình thành nguyên tắc chiếm hữu thực sự ............................................... 30
1.2.3. Ý nghĩa của nguyên tắc chiếm hữu thực sự ............................................................. 33
1.2.4. Nội dung nguyên tắc chiếm hữu thực sự ................................................................. 34
CHƢƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC CHIẾM HỮU THỰC SỰ CỦA
LUẬT QUỐC TẾ VÀO GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ .... 43
2.1. Các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế đối với các vụ tranh chấp chủ
quyền lãnh thổ .................................................................................................................... 43
2.1.1. Phán quyết của tòa đối với vụ tranh chấp chủ quyền đảo Palmas giữa Mỹ và Hà
Lan năm 1928 .................................................................................................................... 43


2.1.2. Phán quyết của tòa đối với vụ tranh chấp chủ quyền Đông Greenland giữa Na Uy
và Đan Mạch giai đoạn 1931-1933 .................................................................................... 45
2.1.3. Phán quyết của tòa đối với vụ tranh chấp chủ quyền đảo Clipperton giữa Pháp và
Mexico năm 1931 .............................................................................................................. 46
2.1.4. Phán quyết của tòa đối với vụ tranh chấp chủ quyền nhóm đảo Miniques và
Ecrehos giữa Anh và Pháp giai đoạn 1951-1953 ............................................................... 48
2.1.5. Phán quyết của tòa đối với vụ tranh chấp biên giới trên bộ và trên biển giữa
Cameroon và Nigeria năm 2002 ........................................................................................ 49
2.1.6. Phán quyết của tòa đối với vụ tranh chấp chủ quyền đảo Pulau Ligitan và Pulau
Sipadan giữa Malaysia và Indonesia năm 2002................................................................. 50
2.1.7. Phán quyết của tòa đối với vụ tranh chấp chủ quyền đảo Branca/Pulau Batu Puteh,
Middle Rocks và South Ledge giữa Malaysia và Singapore năm 2008 ............................ 51

3.4.2. Luận cứ của Campuchia từ góc độ nguyên tắc chiếm hữu thực sự ......................... 83
3.4.3. Chủ quyền của Việt Nam từ góc độ nguyên tắc chiếm hữu thực sự ....................... 84
3.5. Kiến nghị giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam từ góc độ vận
dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự .................................................................................. 86
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 90


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
APEC

: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dƣơng (AsiaPacific Economic Cooperation)

ASEAN

: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asian Nations)

ICJ

: Toà án Công lý Quốc tế (International Court of Justice)

ITLOS

: Tòa án Quốc tế về Luật Biển (International Tribunal for the
Law of the Sea)

LHQ

: Liên Hợp quốc

chấp về lãnh thổ hiện nay là điều không còn xa lạ trên thế giới. Thực tế đã có rất
nhiều tranh chấp diễn ra trong thời gian dài và mặc dù đã có phán quyết của các cơ
quan tài phán quốc tế nhƣng việc thực hiện phán quyết đó còn chƣa đƣợc triệt để.
Do đó, những ảnh hƣởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các quốc gia nói chung
1


là điều không thể tránh khỏi. Trên thế giới hiện nay, việc thông qua các cơ quan tài
phán mang tính chất quốc tế giải quyết tranh chấp cũng nhƣ việc áp dụng các
nguyên tắc quốc tế, về cơ bản, đã hình thành nền tảng pháp lý cho hoạt động giải
quyết những tranh chấp về lãnh thổ trên thế giới. Và nguyên tắc thƣờng đƣợc áp
dụng trong giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ là nguyên tắc chiếm hữu thực
sự.
Nhìn một cách tổng quan từ khi ra đời đến nay, việc áp dụng nguyên tắc
chiếm hữu thực sự trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ quốc tế đã từng bƣớc góp
phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCQT giữa các quốc gia, đồng thời bảo vệ
đƣợc quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia nói chung. Nhƣng trên thực tế,
những tranh chấp xung quanh vấn đề này ngày càng gia tăng và việc giải quyết
tranh chấp này còn nhiều điều bất cập. Có nhiều lý do khác nhau mà những bất cập
xung quanh vấn đề này chƣa đƣợc giải quyết một cách thỏa đáng. Cũng vì lẽ đó,
việc tìm ra những nguyên nhân của các bất cập trong việc thực hiện áp dụng
nguyên tắc chiếm hữu thực sự cũng nhƣ đƣa ra những giải pháp thích hợp nhằm
nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về lãnh thổ
giữa các quốc gia là điều hoàn toàn cần thiết.
Việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức khu vực cũng nhƣ toàn cầu, nhƣ
LHQ, ASEAN, APEC và gần đây nhất là vào năm 2007, Việt Nam đã trở thành là
thành viên thứ 150 của WTO, đã mang đến những thuận lợi và thách thức trong
quá trình hội nhập. Nƣớc ta đã tham gia vào các vụ kiện về tranh chấp lãnh thổ với
một số quốc gia láng giềng nhằm bảo vệ quyền lợi của quốc gia. Thực tế đòi hỏi
chúng ta phải nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả nguyên tắc chiếm hữu thực sự

luận khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của tác giả TS Trần Thăng Long & Hà Thị Hạnh đăng trên tạp chí Khoa
học Pháp lý, Trƣờng ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh, số 5(2013) 78.
Các cuốn giáo trình, các công trình nghiên cứu và các bài viết nêu trên đã
phần nào làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc áp dụng nguyên tắc
chiếm hữu thực sự trong luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh
thổ trên thế giới hiện nay. Một số công trình nghiên cứu đã phân tích rõ những kết
3


quả đạt đƣợc và hạn chế trong quá trình áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự
thông qua một số vụ việc về tranh chấp lãnh thổ trên thế giới thời quan vừa quan.
Với mục đích làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu về vấn đề này, đề tài
Áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thật sự của luật quốc tế vào giải quyết tranh
chấp chủ quyền lãnh thổ đƣợc lựa chọn nhằm thể hiện tâm huyết và đóng góp đối
với vấn đề này.
3. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ là một lĩnh vực
rộng, phức tạp và thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Trong
khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chỉ một số khía cạnh sau đƣợc tập trung làm rõ: Nội
dung nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
giữa các quốc gia. Vấn đề áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong giải quyết
tranh chấp lãnh thổ tại tòa án quốc tế thông qua một số vụ việc cụ thể. Đồng thời,
thực tiễn áp dụng nguyên tắc trên trong giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
giữa Việt Nam và các nƣớc láng giềng trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, luận văn
đƣa ra nhận xét chung và khẳng định tính tất yếu của việc áp dụng nguyên tắc này
trên thế giới và trong khu vực.
Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi đƣợc đề ra nhƣ trên, luận văn cung
cấp cho ngƣời đọc một cách tổng thể nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thực sự
trong giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong luật quốc tế nói chung, thực

một cách riêng lẻ, đồng thời có sự so sánh tính chất quan trọng của nguyên tắc trên
trong quá trình áp dụng nói chung.
Một số phƣơng pháp nghiên cứu khác đƣợc áp dụng:
- Phƣơng pháp phân tích và phƣơng pháp diễn giải: những phƣơng pháp này
đƣợc sử dụng phổ biến trong việc làm rõ nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thực
sự. Ví dụ nhƣ đối với việc xác định chủ quyền trong trong các vụ kiện nói chung,
hai phƣơng pháp này đã đƣợc vận dụng để chỉ rõ việc nguyên tắc chiếm hữu thực
sự đƣợc áp dụng nhƣ thế nào, đồng thời phân tích rõ lý do vì sao lại đƣợc áp dụng

5


nhƣ vậy. Phƣơng pháp này sử dụng xuyên suốt từ chƣơng 1 đến chƣơng 3 của luận
văn.
Phƣơng pháp đánh giá và phƣơng pháp so sánh: những phƣơng pháp này
đƣợc vận dụng để đƣa ra ý kiến nhận xét về sự hợp lý khi áp dụng nguyên tắc
chiếm hữu thực sự. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong chƣơng 2 và chƣơng 3
của luận văn.
Phƣơng pháp quy nạp và phƣơng pháp diễn dịch: đƣợc vận dụng để triển khai
có hiệu quả các vấn đề liên quan đến áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sƣ, đặc
biệt là các kiến nghị hoàn thiện. Cụ thể, trên cở sở đƣa ra những kiến nghị mang
tính khái quát, phƣơng pháp diễn dịch đƣợc sử dụng để làm rõ nội dung của kiến
nghị đó.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với những nội dung đƣợc trình bày trong đề tài hy vọng sẽ đem lại những
đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện những quy định của pháp luật về áp dụng
nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong giải quyết tranh chấp về lãnh thổ giữa các
quốc gia, đồng thời góp phần xây dựng cơ chế hợp lý và hiệu quả hơn trong việc
bảo vệ quyền lợi của các quốc gia.
Luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và đánh

trình bày nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong luật quốc tế và ý nghĩa của nguyên
tắc đến việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ.
1.1. Khái quát về giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
1.1.1. Chủ quyền lãnh thổ
* Lãnh thổ quốc gia
Hiện nay, trong pháp luật quốc tế nói chung, việc đƣa ra khái niệm về lãnh thổ
quốc gia còn có sự khác biệt và từng quốc gia có định nghĩa khác nhau về lãnh thổ
quốc gia. Tuy nhiên, muốn hiểu thế nào là lãnh thổ quốc gia thì trƣớc tiên phải
hiểu đƣợc thế nào là quốc gia. Về cơ bản, khái niệm quốc gia đƣợc hiểu là một
thực thế pháp lý gồm ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, dân cƣ và quyền lực công
cộng. Trong pháp luật quốc tế, quốc gia là chủ thể căn bản, là yếu tố quan trọng
trong việc hình thành các mối quan hệ mang tính chất pháp lý.
Trong pháp luật quốc tế có rất nhiều định nghĩa về lãnh thể quốc gia và điều
này xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên,
đa phần đều cho rằng: lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất,
vùng nƣớc, vùng trời trên vùng đất và vùng nƣớc cũng nhƣ lòng đất dƣới chúng
thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của mỗi quốc gia nhất định. Trên cơ sở
đó, Từ điển Luật học [1] định nghĩa: lãnh thổ quốc gia là một phần của Trái đất,

8


thuộc chủ quyền hoàn toàn của một quốc gia, bao gồm vùng đất, vùng trời bên trên
và lòng đất bên dƣới. Lãnh thổ quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm.
Điều này đã đƣợc nƣớc ta tiếp thu và ghi nhận trong bản Hiến pháp 2013, cụ
thể: Điều 1 của Hiến pháp 2013 ghi nhận: nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là một nƣớc độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm
đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Việc quy định về vấn đề lãnh thổ quốc
gia trong văn bản tối thƣợng của mỗi một quốc gia đã khẳng định vai trò quan
trọng và tính chất đặc biệt của vấn đề trên. Việc khẳng định vai trò quan trọng của

gia là toàn bộ phần nằm dƣới vùng đất, vùng nƣớc ở phía trong đƣờng biên giới
quốc gia. Theo nguyên tắc chung đƣợc mặc nhiên thừa nhận thì vùng lòng đất
đƣợc kéo xuống tận tâm trái đất. Việc quy định nhƣ trên đảm bảo các quyền lợi
cần thiết của quốc gia đáp ứng với tình hình thay đổi trong thời kỳ hội nhập và
phát triển hiện nay.
Bốn là vùng trời: Là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất và vùng nƣớc
của quốc gia. Vùng trời đƣợc xem là khoảng không bên trong đƣờng biên giới
quốc gia. Giới hạn bên ngoài vùng trời của một quốc gia đƣợc xác định bởi mặt
phẳng thẳng đứng, vuông góc từ đƣờng biên giới quốc gia trên đất liền, từ ranh
giới phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải của đất liền và các hải đảo hƣớng lên
khoảng không vũ trụ. Đa số các nƣớc trên thế giới xác định độ cao vùng trời là 100
đến 110 km từ mực nƣớc biển trở lên. Vùng trời là một trong ba bộ phận hợp
thành lãnh thổ quốc gia: vùng đất, vùng biển và vùng trời. Khái niệm và các chế
định pháp lý của vùng trời đƣợc hình thành từ cuối thế kỷ thứ 19 cùng với sự xuất
hiện của các thiết bị bay nhƣ máy bay, khinh khí cầu... Các quốc gia đều có chủ
quyền hoàn toàn, tuyệt đối và toàn vẹn đối với vùng trời của mình. Xâm phạm
vùng trời đƣợc công pháp quốc tế thừa nhận là xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của
quốc gia.
Năm là vùng lãnh thổ đặc biệt: Ngoài các vùng lãnh thổ nói trên, các tàu
thuyền, các phƣơng tiện bay mang cờ hoặc mang dấu hiệu riêng biệt và hợp pháp
của quốc gia, các công trình nhân tạo, các thiết bị, hệ thống cáp ngầm, ống dẫn
ngầm,…hoạt động nằm ngoài phạm vi lãnh thổ của các quốc gia nhƣ vùng biển
10


quốc tế, vùng nam cực, khoảng không vũ trụ… cũng đƣợc thừa nhận nhƣ một phần
lãnh thổ quốc gia.
* Chủ quyền lãnh thổ
Trong việc xây dựng và phát triển đất nƣớc thì việc xác định chủ quyền lãnh
thổ quốc gia là điều vô cùng quan trọng. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia hiện nay tùy

Một là, quốc gia có toàn quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn
hóa và xã hội phù hợp với nguyện vọng của cộng đồng dân cƣ sống trên lãnh thổ
đó mà không có sự can thiệp hay áp đặt dƣới bất kỳ hình thức nào từ bên ngoài
Hai là, quốc gia có toàn quyền trong việc bảo vệ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ và đƣờng biên giới quốc gia và chống lại mọi hành vi xâm phạm từ bên ngoài.
Ba là, quốc gia có quyền tài phán đối với mọi cá nhân, tổ chức trong phạm vi
lãnh thổ quốc gia (trừ trƣờng hợp pháp luật quốc gia và các Điều ƣớc Quốc tế mà
quốc gia đó ký kết hoặc tham gia có quy định khác). Từ đó, quốc gia khẳng định
quyền độc lập trong quan hệ quốc tế nhằm đáp ứng với yêu cầu trong tình hình
mới hiện nay.
* Phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ trong luật quốc tế
Phƣơng thức xác lập đầu tiên là xác lập chủ quyền lãnh thổ truyền thống.
Theo báo cáo nghiên cứu về Các hình thức thụ đắc lãnh thổ [5], việc xác lập chủ
quyền lãnh thổ truyền thống xuất phát từ việc chiếm cứ lãnh thổ trên cơ sở định cƣ
của cộng đồng dân sự từ lãnh thổ tự nhiên. Việc chiếm cứ đó hình thành tổ chức
nhà nƣớc và khẳng định sự tuyên bố chủ quyền của nhà nƣớc đó đối với vùng lãnh
thổ nói trên. Sự chiếm cứ lãnh thổ đƣợc xem là phƣơng pháp xác lập chủ quyền
lãnh thổ truyền thống từ xƣa đến nay. Ví dụ, việc xây dựng và định cƣ của nhà
nƣớc Văn Lang chính là điển hình của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ truyền
thống thông qua việc chiếm cứ. Theo ghi nhận của sách Đại Việt sử ký toàn thƣ,
lãnh thổ của nhà nƣớc Văn Lang đƣợc ghi nhận nhƣ sau: Đông giáp biển Nam Hải,
tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nƣớc Hồ Tôn, tức nƣớc Chiêm
Thành, nay là Quảng Nam ngày nay. Việc phân chia đất nƣớc thành 15 bộ xác định
việc hình thành nhà nƣớc và phát triển kinh tế xã hội thời bấy giờ.
12


Phƣơng thức thứ hai là xác lập trên cơ sở chuyển nhƣợng tự nguyện. Theo tác
giả Triệu Thành Nam [18], phƣơng thức này đƣợc hiểu là sự chuyển giao lãnh thổ
từ nƣớc này sang nƣớc khác theo phƣơng thức hòa bình và thông qua điều ƣớc nào

Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ theo nguyên tắc “kế cận địa lý” đƣợc một số quốc
gia có vị trí địa lý cận kề dựa vào để bảo vệ cho yêu sách chủ quyền lãnh thổ của
họ. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ về biển đảo, lập luận
này không đƣợc thừa nhận nhƣ là một nguyên tắc pháp lý. Bởi vì, có rất nhiều
vùng lãnh thổ nằm sát ngay bờ biển của nƣớc này nhƣng vẫn thuộc chủ quyền của
nƣớc khác và không hề có sự tranh chấp nào xảy ra. Trong thực tiễn thì việc sử
dụng yêu sách của Malaysia và Philippines trong tranh chấp đối với một số đảo
Trƣờng Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, về nguyên tắc cũng nhƣ theo Công ƣớc về
Luật Biển 1982, phƣơng thức này là không hợp lý và không có cơ sở. Ngoài ra,
trong tranh chấp giữa Mỹ và Hà Lan đối với đảo Palmas, kết luận của Tòa trọng tài
quốc tế đã chỉ rõ: “Nguyên tắc kế cận địa lý cũng không thể đƣợc chấp nhận nhƣ
một phƣơng pháp pháp lý để giải quyết các vấn đề về lãnh thổ; bởi vì nó hoàn toàn
không chính xác và nếu áp dụng nó thì sẽ dẫn đến những kết quả độc đoán” [23].
Trên thế giới có nhiều quốc gia không nhất thiết phải có lãnh thổ liền kề nhau nhƣ
bang Alaska tách rời các bang khác của Hoa Kỳ. Tác giả Nguyễn Bá Diến [10]
khẳng định, trong vụ tranh chấp thềm lục địa Biển Bắc giữa Đức với Đan Mạch và
Đức với Hà Lan (1969), tính kế cận địa lý không có giá trị mà sự kéo dài tự nhiên
của lãnh thổ ra biển mới mang lại danh nghĩa chủ quyền cho quốc gia có thềm lục
địa đó.
Cuối cùng là phƣơng thức xác lập chủ quyền lãnh thổ theo sự chiếm hữu.
Chiếm hữu là một phƣơng thức thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế, là hành
động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ
vốn chƣa thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia nào khác hoặc một vùng lãnh
thổ vốn đã có chủ sau đó bị bỏ rơi và trở lại trạng thái vô chủ ban đầu [5]. Sự
chiếm hữu trong phƣơng thức thụ đặc lãnh thổ này không phải chiếm đóng trong
chiến tranh hay chiếm đóng quân sự trong thời bình. Chiếm hữu ở đây đƣợc xem
là: “Sự nắm quyền sở hữu thực sự bởi một chính phủ đối với một lãnh thổ vô chủ
với ý đồ qua đó thụ đắc chủ quyền”. Muốn thụ đắc chủ quyền bằng phƣơng thức
14




Loại tranh chấp thứ ba, cũng là tranh chấp diễn ra phức tạp trong giai đoạn
hiện nay là tranh chấp chủ quyền biển đảo. Tranh chấp chủ quyền biển đảo là tranh
chấp chủ quyền lãnh thổ đã xuất hiện ở nhiều khu vực trên toàn thế giới. Theo tác
giả Nguyễn Bá Diến [10, nguyên nhân của tranh chấp chủ quyền biển đảo là do
quan điểm chủ quyền của các quốc gia khác nhau, đồng thời do tham vọng địa
chiến lƣợc, địa quân sự, địa chính trị và địa kinh tế của một số quốc gia. Có những
vụ việc do các bên tham gia tranh chấp đệ trình lên đã đƣợc các cơ quan tài phán
quốc tế thụ lý và phân xử một cách công bằng. Giải quyết tranh chấp chủ quyền
lãnh thổ trong đó có tranh chấp chủ quyền biển đảo bằng biện pháp pháp luật là
phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Hiến chƣơng LHQ và những nguyên tắc
cơ bản của luật pháp quốc tế. Đôi khi những phán quyết của các thẩm phán đã trở
thành những án lệ kinh điển trong lịch sử giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
bằng biện pháp pháp luật mà các thế hệ sau không thể không viện dẫn để phân xử
tranh chấp.
Một số tranh chấp nổi tiếng về chủ quyền biển đảo nhƣ vụ tranh chấp đảo
Palmas giữa Mỹ và Hà Lan [18], vụ án tranh chấp Đông Greenland giữa Na Uy và
Đan Mạch giai đoạn 1931 – 1933, phán quyết của Tòa đối với vụ án tranh chấp
chủ quyền đảo Clipperton giữa Pháp và Mexico năm 1931, phán quyết của Tòa đối
với vụ án tranh chấp chủ quyền nhóm đảo Minquies và Ecrehos giữa Anh và Pháp
giai đoạn 1951 – 1953.
1.1.3. Thiết chế giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
* Tòa án Công lý quốc tế ICJ
Toà án Công lý Quốc tế (International Court of Justice – ICJ) là một phân ban
trực thuộc LHQ, đƣợc thành lập vào năm 1945 với tiền thân là Toà án Thƣờng trực
Công lý Quốc tế (Permanent Court of International Justice) từ năm 1922.
ICJ giải quyết các tranh chấp pháp lý giữa các quốc gia có hồ sơ tranh chấp đệ
trình lên ICJ, đƣa ra ý kiến pháp lý (advisory proceedings) cho Đại Hội đồng LHQ
(the United Nations General Assembly), Hội đồng Bảo an (the Security Council)


17


ITLOS có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải
thích và áp dụng Công ƣớc của LHQ về Luật biển: (i) giữa các quốc gia tuyên bố
bằng văn bản về việc lựa chọn Tòa. Đây là thẩm quyền đƣợc xác định trƣớc khi
xảy ra tranh chấp. Khi tranh chấp xảy ra, một Bên liên quan và đã có tuyên bố
bằng văn bản lựa chọn Tòa có quyền đơn phƣơng kiện Bên tranh chấp với mình ra
Tòa với điều kiện bên tranh chấp này cũng đã có tuyên bố bằng văn bản chấp nhận
trƣớc thẩm quyền của Tòa; (ii) giữa các quốc gia tranh chấp có cùng thỏa thuận lựa
chọn ITLOS bằng một thỏa thuận song phƣơng hoặc đa phƣơng.
Bên cạnh đó, trƣờng hợp nếu có sự thoả thuận của tất cả các bên trong một
hiệp ƣớc hay một Công ƣớc đã có hiệu lực có quan hệ đến một vấn đề do Công
ƣớc Luật biển đề cập, thì bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp
dụng hiệp ƣớc hoặc Công ƣớc đó cũng có thể đƣợc đƣa ra ITLOS theo đúng thoả
thuận. ITLOS có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải
thích và áp dụng. Ngoài thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, ITLOS cũng có
thẩm quyền đƣa ra các kết luận tƣ vấn.
* Tòa trọng tài phụ lục VII UNCLOS
Tòa trọng tài là một trong các thủ tục tranh chấp về lãnh thổ nói chung theo
UNCLOS 1982. Theo UNCLOS 1982, trong thƣờng hợp các quốc gia thành viên
là bên tranh chấp lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp khác nhau và không lựa
chọn hình thức giải quyết tranh chấp về lãnh thổ bắt buộc thì quốc gia thành viên
UNCLOS 1982 đƣơng nhiên đƣợc coi là đã chấp nhận hình thức giải quyết bằng
tòa trọng tài (Khoản 3, 5 Điều 287 UNCLOS 1982). Vì vậy thẩm quyền của tòa
trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS 1982 cũng tƣơng tự nhƣ tòa ITLOS, đó là giải
thích và áp dụng pháp luật về công ƣớc Luật Biển 1982. Hiện nay thì theo quy
định tại Phụ lục VII UNCLOS 1982 thì Tòa trọng tài gồm 5 thành viên trong đó
các bên tranh chấp sẽ cử ra một thành viên trong số danh sách trọng tài viên đăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status