SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
:
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO
THỰC TIỄN CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA CÁC
BÀI TẬP THỰC TIỄN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 11
Người thực hiện: Nguyễn Thị Nhân
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Hóa Học
THANH HOÁ, NĂM 2019
MỤC LỤC
Nội Dung
Mục lục
Trang
1
1.Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
2.Nội dung
Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước để vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu. Sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự thách thức của quá trình hội
nhập kinh tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đáp ứng theo nhu cầu của xã hội.
Đó là những con người lao động nắm chắc lí thuyết nhưng phải có năng lực vận
dụng, có trình độ đào tạo phù hợp với ngành nghề và có thể áp dụng những
thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, những người lao động
sáng tạo, có khả năng làm việc tốt thích ứng với nhu cầu lao động hiện đại,…
Việt Nam là một trong những nước có trình độ đào tạo theo lí thuyết cao nhưng
mức độ vận dụng vào thực tiễn ( TT) còn hạn chế, việc lồng ghép giáo dục nâng
cao năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, sản xuất theo từng mức
độ và cấp học cũng như ý thức bảo vệ môi trường sống ngay trên ghế nhà trường
là rất quan trọng .
Hội nghị lần thứ 8 BCH trung ương Đảng khóa XI đã nhất trí thông
qua NQ số 29 NQ/TW với nội dung: “ Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Phát triển phẩm
chất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” .[1]
3
Muốn phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực có trình độ, bồi dưỡng nhân tài. Giai đoạn trước đây giáo dục
chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học thì sang giai đoạn hiện nay là phát
triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học phải gắn với thực hành; lí
luận gắn với thực tiễn; có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường, giáo
dục gia đình và giáo dục xã hội.[4]. Đó cũng chính là nội dung dạy học tiếp cận
phát triển năng lực, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển
năng lực theo chỉ đạo của Bộ Giáo Dục và Sở Giáo Dục và Đào Tạo Thanh Hóa
trong những năm học này.
tiễn cho học sinh THPT.
4
1.4. Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận: Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo công văn của Bộ ,
Ngành, sở GD và ĐT.
+ PP điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Sử dụng phương pháp chuyên
gia, quan sát sư phạm.
+ Thực nghiệm sư phạm: Sử dụng toán học thống kê để xử lý kết quả thực
nghiệm sư phạm.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Năng lực học sinh
2.1.1.1.Khái niệm năng lực
Theo PGS. TS. Nguyễn Công Khanh: Năng lực của học sinhlà khả năng học
sinh có thể làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ,... phù hợp với
lứa tuổi và vận dụng chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ
học tập, giải quyết hiệu quả những tình huống mà các em gặp trong cuộc sống.
[7, tr.7)
2.1.1.2. Đổi mới chương trình giáo dục theo định hướng tiếp cận, phát triển
năng lực
Theo cách tiếp cận phát triển năng lực ( NL) , hoạt động của người dạy
và người học trong quá trình dạy học được quan tâm hàng đầu. Người dạy phải
hướng dẫn người học tự tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi mở giải quyết vấn
đề, tạo cho người học có điều kiện thực hành, tiếp xúc với thực tiễn, chứ không
phải đợi người dạy hướng dẫn, học cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
một cách sáng tạo; thông qua những kiến thức, những giá trị mà người học quý
trọng và thông qua việc kiên trì theo đuổi những giá trị đó, người học phát triển
vào thực tiễn trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày như làm bài thực hành, làm thí
nghiệm, giải thích các hiện tượng tự nhiên, các vấn đề sức khỏe, sản xuất , đời
sống... liên quan trực tiếp đến cấu tạo, tính chất, ứng dụng, điều chế,…của các
chất đang nghiên cứu.
2.1.3.2. Khái niệm bài tập hóa học gắn với thực tiễn
- BTHH gắn với thực tiễn (BTTT)là những bài tập đòi hỏi HS phải vận dụng
kiến thức, kĩ năng hóa học (những điều kiện và yêu cầu) cùng với các kiến thức
của các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một
số vấn đề đặt ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ thực tiễn. [6, tr.1718], [9, tr.27]
2.1.3.3. Vai trò, chức năng của bài tập gắn với thực tiễn với việc phát triển năng
lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trung học phổ thông
Nói chung theo tôi, việc đưa các kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn trong
quá trình dạy học đem lại nhiều lợi ích:
- Học sinh tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức được lâu
hơn, hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tiễn, từ đó tăng hứng
thú học tập và tìm hiểu kiến thức.
- Kích thích học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tiễn đời sống, đặt
các giả thuyết và nghiên cứu.
- Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn là cơ sở để học sinh vận dụng giải
quyết các tình huống, bài tập hóa học thực tiễn.
- Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn hình thành cho học sinh khả năng
quan sát, thu thập, phân tích và xử lý thông tin, hình thành phương pháp nghiên
cứu khoa học; hình thành và phát triển khả năng nghiên cứu thực tiễn; có tâm
thế luôn luôn chủ động trong việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
- Kiến thức hóa học gắn liền với thực tiễn giúp cho học sinh có được những hiểu
biết về thế giới tự nhiên, chu kỳ hoạt động và tác động tích cực cũng như tiêu
cực đối với cuộc sống con người và ảnh hưởng của con người đến thế giới tự
nhiên.
- Thông qua việc hiểu biết về thế giới tự nhiên bằng vốn kiến thức hóa học gắn
liền với thực tiễn giúp các em ý thức được hoạt động của bản thân, có trách
Trung học phổ thôngtrước hết, giáo viên cần trang bị cho học sinh của mình nền
tảng kiến thức cơ bản một cách vững chắc khoa học về các khái niệm, các định
luật, các tính chất, các quy luật... đặc biệt là các kiến thức gắn liền với thực tiễn.
Bước 1: GV đưa ra các tình huống để học sinh vận dụng kiến thức theo các cấp
độ từ dễ đến khó (tạo tình huống có vấn đề ).
Tăng cường các tình huống gắn liền với bối cảnh cụ thể (thực tiễn đời
sống, thí nghiệm thực hành), tăng cường câu hỏi mở, câu hỏi yêu cầu học sinh
sử dụng kiến thức nhiều bài, nhiều lĩnh vực, câu hỏi tích hợp để tìm ra cách giải
quyết ngắn gọn, sáng tạo.
Bước 2 : GV tăng cường sử dụng tối đa các hình ảnh trực quan, mô hình, tranh
ảnh, video clip dùng để tái hiện một số tình huống thực tiễn đời sống để kích
thích HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống của thực tế đặt ra.
Bước 3: GV phối hợp lời kể chuyện, thuyết trình kết hợp với việc sử dụng các
video clip để học sinh có thể phát hiện, kích thích hoạt động tư duy tìm tòi sáng
tạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứng thú học tập
bộ môn
Bước 4: Yêu cầu học sinh tìm tòi để giải quyết tình huống dựa vào kiến thức đã
học : Muốn giải quyết được tình huống đặt ra học sinh phải làm các việc sau
- Xác định đúng các kiến thức về tình huống cần giải quyết.
7
- Phân tích được tình huống, phát hiện được vấn đề đặt ra, yêu cầu của tình
huống.
- Lập kế hoạch cụ thể để giải quyết tình huống đặt ra.
- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình huống.
- Đưa ra được giải pháp giải quyết tình huống. các tình huống mới có thể xảy ra,
trao đổi với bạn bè, thầy cô và tiến hành giải quyết tình huống đó.
- Đánh giá và rút kinh nghiệm.
Bước 5:Sau khi có thời gian để cho học sinh làm việc, thảo luận, giáo viên cần
huống. Chất Zn3P2 vào cơ thể chuột có làm chuột mất nước không? Khi nước
vào nó có phản ứng sinh ra chất độc nào?Diệt chuột chết như vậy có ô nhiễm
môi trường không?...
- Lập kế hoạch cụ thể để giải quyết tình huống đặt ra.
- Xác định được và biết tìm hiểu, sưu tầm các thông tin liên quan đến tình huống
để giải quyết các câu hỏi trên.
- Đưa ra được giải pháp giải quyết tình huống. các tình huống mới có thể xảy ra,
trao đổi với bạn bè, thầy cô và tiến hành giải quyết tình huống đó.
Thành phần thuốc chuột là kẽm photphua Zn3P2. Khi chuột ăn vào, Zn3P2 hút hết
nước trong cơ thể chuột để thủy phân theo pt
Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3↑
Chính PH3 (photphin) là chất độc đã giết chết chuột.
Chuột càng uống nhiều nước → PH3 thoát ra nhiều càng độc → chuột càng
nhanh chết. Nhưng đây là loại thuốc rất độc nên dễ ảnh hưởng đến sức khỏe con
người, và nếu chuột chết ở các bờ ao , vũng nước rất dễ gây ô nhiễm môi trường
và lây lan bệnh
- Đánh giá và rút kinh nghiệm: Không nên lạm dụng cách diệt chuột này
Bước 5: Sau khi có thời gian để cho học sinh làm việc, thảo luận, giáo viên cần
cho học sinh trình bày, nhận xét và bổ sung cho nhau, sau đó giáo viên chốt lại
kiến thức chính xác, giáo dục cho học sinh không nên lạm dụng cách diệt chuột
này mà nên dùng cách bẫy chuột cơ học, đào bắt chuột trực tiếp hoặc nuôi mèo
Như vậy thông qua quá rình mà học sinh giải quyết các tình huống này
sẽ phát triển cho HS được các năng lực tư duy sáng tạo và đặc biệt là năng lực
VDKT vào thực tiễn đời sống, lao động , sản xuất…Trong phạm vi hẹp của skkn
này tôi chỉ tập trung xây dựng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 11 gắn với
thực tiễn sử dụng trong quá trình dạy học bài mới nhằm phát triển năng lực vận
dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh
có thể áp dụng một vài câu hay tất cả tùy theo thời gian, đối tượng học sinh hay
từng mục đích bài dạy để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
cho học sinh THPT đạt hiệu quả nhất.
- Có biện pháp xử lí kịp thời khi phát hiện môi trường có sự thay đổi về pH
Áp dụng: Sau khi trả lời được những câu hỏi theo dẫn dắt nêu vấn đề của giáo
viên khi mở bài hoặc BTVN học sinh sẽ có khả năng vận dụng vào đời sống
thực tiễn để có ý thức bảo vệ môi trường sống cũng như có kinh nghiệm nếu sau
này các em làm việc ở những lĩnh vực này .
Câu 2 : Lớp men răng là gì ? được tạo ra trong môi trường pH thế nào? Vì sao
chất florua lại bảo vệ được răng ?
Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2mm. Lớp men có thành phần
hóa học là hợp chất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng thuận
PO43−
nghịch:5Ca2+ + 3
+ OHCa5(PO4)3OH (1)
Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh
sâu răng. Sau các bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại
trên răng tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic và axit lactic. Các axít này
sinh ra càng nhiều nếu thức ăn có hàm lượng đường cao.
Hàm lượng axit này trong miệng tăng lên thì pH giảm, làm cho phản ứng sau
xảy ra:H+ + OH- ⇄ H2O
10
Khi nồng độ OH- giảm, theo nguyên lí Lơ-Sa-tơ-li-ê, cân bằng (1) chuyển dịch
theo chiều nghịch và men răng bị mòn, tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.
Để phòng sâu răng chúng ta nên hạn chế ăn thức ăn chua, đường và đánh răng
sau khi ăn.Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF 2 , vì ion FPO43−
tạo điều kiện cho phản ứng sau xảy ra:5Ca2+ + 3
+ F- → Ca5(PO4)3F
Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH
*BÀI NITƠ
Câu 1: Ca dao Việt Nam có câu:“Lúa chim lấp ló ngoài bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên” Câu ca dao mang ý nghĩa hóa học gì ?
Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào kèm
theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp (tia lửa
điện) thì:
N2 + O2 ⇄ 2NO
Sau đó:
11
2NO + O2 → 2NO2
Khí NO2 hòa tan trong nước:
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
H + + NO3−
HNO3 →
(Đạm)
Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất được
cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
Áp dụng: GV đưa vấn đề khi dạy tính chất của nitơ hoặc tích hợp với môn Văn
để học sinh nắm được một kinh nghiệm trong sản xuất có thể VD vào đời sống.
*BÀI AMONIAC VÀ MUỐI AMONI
Câu 1: Vì sao “bánh bao” và các loại bánh xốp ăn thường có mùi khai ?
Khi làm bánh bao người ta thường cho ít bột nở NH 4HCO3 vào bột mì. Khi
nướng bánh, NH4HCO3 phân hủy thành các chất khí và hơi thoát ra nên làm cho
→
bánh xốp và nở.
hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho không khí xung
quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu.
12
Áp dụng: Hiện tượng này thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa nắng nóng.
Giáo viên có thể nêu vấn đề trong bài giảng “Amoniac” nhằm giải thích hiện
tượng tự nhiên này đặc biệt cũng giúp học sinh được vận dụng vào thực tiễn hạn
chế xả thải bẩn ra môi trường.
*BÀI AXIT NITRIC VÀ MUỐI NITRAT
Câu 1: Khi làm thí nghiệm hóa học, nếu quần áo bạn dính phải axit nitric HNO 3
đặc thường sẽ bị thủng lỗ. Vì sao axit nitric HNO3 đặc lại phá thủng quần áo ?
Xenlulozơ là thành phần cấu tạo nên sợi bông dệt quần áo, nó không tan trong
nước và đa số các dung môi khác nhưng lại rất dễ tan trong axit HNO 3 đặc nên
khi tiếp xúc với HNO3 thì bị HNO3 hòa tan, khi quần áo khô, nồng độ axit HNO 3
càng ngày càng đặc thì càng làm tan xenlulozơ nên làm thủng quần áo. Ngoài ra,
axit HNO3 loãng có thể có tác dụng hóa học với xenlulozơ.
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu vấn đề trên khi nói về tính chất hóa học của axit
nitric trong bài để nhắc nhở học sinh thật cẩn thận khi tiếp xúc với axit HNO 3
đặc, đặc biệt nhắc nhở học sinh vận dụng trong bài thực hành tính chất HNO 3
sắp tới.
Câu 2 : Mưa axít gây hại cho cây trồng và công công trình kiến trúc, môi
trường, ...Vậy “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Không khí chứa khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong như (
ô tô, xe máy) hoặc nguyên liệu hóa thạch có chứa các khí SO 2, NO, NO2,…Các
khí này bị oxihóa bởi oxi O2 và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim
loại (có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H 2SO4 và axit
nitric HNO3.
t 0, xt
chín rồi để trong thời gian quá dài do tác dụng của vi khuẩn, muối của axit nitric
sẽ biến thành muối của axit nitrơ (HNO2) là chất dễ gây ra ung thư. Vì thế không
nên ăn rau cải trắng đã nấu chín để qua đêm. Sau khi đã nấu chín nên cho thêm
vào rau một ít giấm ăn để tăng tác dụng dự phòng.
Áp dụng : Câu này giáo viên đưa ra giúp học sinh vận dụng trong đời sống
không để rau cải này đã nấu chín qua đêm kể cả bỏ vào tủ lạnh.
*BÀI PHOT PHO
Câu 1: Hiện tượng “Ma trơi” là gì? Ma trơi thường xuất hiện ở đâu ?
14
Khi cơ thể động vật chết đi, lượng phôtpho trong xương nó sẽ phân hủy một
phần thành photphin PH3 và lẫn một ít điphotphin P 2H4. Photphin không tự bốc
cháy ở nhiệt độ thường, khi đun nóng đến 150 oC thì nó mới cháy được. Còn
điphotphin P2H4 thì tự bốc cháy trong không khí và tỏa nhiệt
Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình này làm cho photphin bốc cháy:
t0
→
2PH3 + 4O2
P2O5 + 3H2O
Quá trình trên xảy ra chậm vào cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia
sáng của mặt trời nên ta không quan sát rõ, vào ban đêm trời tối có thể quan sát
các tia sáng rõ hơn.
Hiện tượng ma trơi không phải là hiện tượng huyền bí như lời củacác
thầy mo mà chỉ là một quá trình hóa học xảy ra trong tự nhiên. Thường gặp ma
trơi ở các nghĩa địa vào ban đêm vì khi đó có sự phân hủy của xác động vật sinh
ra điphotphin và phôtphin.
về kỹ thuật
- Sử dụng các loại phân bón hoặc các chất có tác dụng làm tăng hiệu suất sử
dụng của phân bón
- Tăng cường bón phân hữu cơ có tác dụng làm tăng hàm lượng mùn trong đất,
do đó tăng khả năng giữ phân.
- Đối với cây lúa áp dụng chương trình ba giảm, ba tăng; một phải năm giảm,
ruộng lúa sinh thái,...
Học sinh biết áp dụng cho gia đình sử dụng phân bón hợp lý theo nguyên
tắc “năm đúng”: đúng loại phân, đúng lúc, đúng đối tượng, đúng thời vụ, đúng
cách bón sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và giảm ô
nhiễm môi trường.
Câu 3: Việt Nam chúng ta là một nước nông nghiệp, có đến 70% cư dân sống
bằng nghề nông. Trong quá trình sản xuất nếu đất bị chua nông dân thường sử
dụng vôi để làm giảm độ chua của đất nông nghiệp. Tại sao khi đất chua người
ta thường bón vôi, dựa vào kiến thức hóa học, em hãy giải thích tại sao?
Đất chua là đất có chứa nhiều ion H + dạng tự do và dạng tiềm tàng (có thể sinh
ra do các ion kim loại Al 3+, Fe3+, Fe2+,... thủy phân tạo thành). Khi bón vôi sẽ
trung hòa H+ tạo môi trường trung tính và làm kết tủa các ion kim loại đó, vì vậy
làm giảm độ chua của đất.
Áp dụng khi dạy bài “Phân bón hóa học” để học sinh áp dụng trong thực tiễn
biết cách bón các loại phân bón phù hợp với từng loại đất .
*BÀI HỢP CHÂT CỦA CACBON
Câu 1: “Hiệu ứng nhà kính” là gì ? tác hại của nó như thế nào đến môi trường
sống ? những nguồn nào gây hiệu ứng nhà kính ?
16
Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại
( tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ
50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt
đioxit.
* Chúng ta phải làm gì để giảm hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” tác động xấu
tới môi trường
- Tái sử dụng và tái chế các chất thải: góp phần giảm thiểu chất thải bằng cách
chọn các sản phẩm tái sử dụng thay vì dùng một lần.
Bằng cách tái chế một nửa số rác thải sinh hoạt của có thể giảm khoảng 1,2 tấn
khí CO2 mỗi năm
- Tiết kiệm điện và khuyến khích người khác tiết kiệm năng lượng
- Hạn chế sử dụng lò sưởi và điều hòa nhiệt độ,sử dụng ít nước nóng
- Mua những sản phầm tiết kiệm năng lượng hiệu quả
17
- Trồng cây xanh: nếu có điều kiện thì hãy bắt đầu trồng nhiều cây xanh, trong
quá trình quang hợp, cây cối và các loài thực vật khác hấp thụ CO 2 và tạo ra O2.
Một cây sẽ hấp thụ khoảng một tấn carbon dioxide trong suốt cuộc đời của nó.
Câu 2: “Nước đá khô” là gì và có công dụng như thế nào ?
Nước đá khô (hay còn gọi là tuyết cacbonic) được điều chế từ khí CO 2 hoặc CO2
hóa lỏng.Đây là các tác nhân lạnh ở thể rắn cung cấp hơi lạnh bằng cách biến
đổi trạng thái: đá khô thăng hoa thành hơi, không qua trạng thái lỏng.CO 2 lỏng,
đặc biệt là nước đá khô (không độc hại), được sử dụng để bảo quản những sản
phẩm khô kị nước và dùng làm đông lạnh thực phẩm rất tiện lợi nhưbảo quản
hoa quả, vì nó vẫn giữ nguyên được vị ngọt và mầu sắc của hoa quả mà không
làm ảnh hưởng khối lượng của của sản phẩm được bảo quản.
Áp dụng: Bảo quản thực phẩm bằng nước đá khô là cách rất tốt hiện nay. Giáo
viên có thể hỏi học sinh về ứng dụng của CO 2 khi dạy phần tính chất vật lí của
CO2
Câu 3: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Nước ngọt cũng chưa đường nhưng khác nước pha đường là có thêm ga do có
→
t0
Cacbon sinh ra lại tiếp tục cháy: C + O2
CO2 đám cháy càng lan rộng
Áp dụng: Để dập tắt các đám cháy thông thường người ta thường dùng khí CO 2
nhưng không phải lúc nào CO2 cũng dập tắt được, một số đám cháy có các kim
loại mạnh như đám cháy có nhôm, magie thì CO2 không được dùng CO2 vì sẽ
làm cho lửa cháy to hơn gây thiệt hại. Đây là phần nội dung mà giáo viên cần
cung cấp cho học sinh biết khi đề cập đến khả năng không duy trì sự cháy của
khí CO2 ở phần “Cacbon đioxit” biết được để vận dụng trong cuộc sống khi có
hỏa hoạn xảy ra và cách xử lí cho từng loại đám cháy.
Câu 5: Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày do thừa axít là người
có lượng dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn gây khó chịu. NaHCO3
dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm bớt lương HCl có trong dạ dày
NaHCO3 + HCl → NaCl + CO2 + H 2O
nhờ phản ứng:
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng kiến thức này vào bài “Hợp chất
của cacbon” phần ứng dụng muối cacbonat để học sinh vận dụng vào đời sống.
Tuy nhiên khi bị đau dạ dày không được tự ý dùng thuốc muối này mà phải
khám và điều trị theo bác sĩ.
Câu 6: Vì sao ăn sắn (củ mì) hay măng có thể bị ngộ độc ?
Ăn sắn hay măng bị ngộ độc khi chúng chứa nhiều axit xianhiđric (HCN). Ở
dạng tinh khiết axit xianhidric là chất khí mùi hạnh nhân, có vị đắng và rất độc.
Nhiệt độ nóng chảy là - 13,3 0C, tan trong nước, rượu, ete và là axit rất yếu.
Trong thiên nhiên gặp ở dạng liên kết trong một số thực vật (hạt mận, đào, củ
sắn, măng tươi). Khi luộc sắn cần mở vung để axit xianhiđric bay hơi. Tuy nhiên
muốn không bị ngộ độc thì người ta phơi ,sấy khô sắn để axit xianhiđric sẽ bay
xanh.
Qua đó học sinh biết được chất trong các gói hút ẩm, nguyên tắc sử dụng…
Câu 2: Bình thủy tinh chứa SiO2, tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung
dịch HF ?
Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc biệt là ăn mòn
thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO 2 nên khi cho
dung dịch HF và thì HF sẽ hòa tan thủy tinh do phản ứng:
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Áp dụng: Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải biết được sau
khi học bài Flo hoặc bài silic và hợp chất. Học sinh biết giải thích và vận dụng
trong thực tiễn không dùng bình thủy tinh để đựng dung dịch HF trong phòng thí
nghiệm. Giáo viên có thể hỏi học sinh sau khi dạy xong bài dạy “Hợp chất silic”
để học sinh vận dụng khi đi làm thí nghiệm.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1.Đối với hoạt động giáo dục
20
- Sau một năm nghiên cứu và vận dụng trong thực tiễn giảng dạy, tôi và đồng
nghiệp thấy sáng kiến kinh nghiệm ““Phát triển năng lực vận dụng kiến thức
vào thực tiễn cho học sinh thpt thông qua các bài tập hoá học vô cơ lớp 11 ”. rất
có ý nghĩa trong hoạt động giáo dục,tỉ lệ học sinh đạt điểm khá - giỏi ở các lớp
thực nghiệm luôn lớn hơn các lớp đổi chứng, khi được học giúp cho học sinh có
niềm tin vào khoa học, khơi dậy hứng thú học tập đối với bộ môn và quan trọng
giúp học sinh phát triển được năng lực VDKT vào thực tiễn. Kết quả đánh giá cho
các lớp đối chứng và thực nghiệm chúng tôi xây dựng một bài kiểm tra các bài
tập thực tiễn vào một tiết buổi chiều với kết quả như sau
Số học sinh đạt điểm Xi
8
9
9
6
10
8
44
42
42
43
43
129
129
0
0
0
0
0
0
0
4
0
2
0
4
9
2
31
12
6
9
7
12
5
30
18
2
3
3
5
0
14
5
0
3
0
3
0
14
0
lượng
30
ĐC
129
61
33
25,58
23,26
Khá
Số
lượng
31
47,29
12
%
24,03
Giỏi
Số
2.4.3. Đối với nhà trường
Khi kết quả học tập của học sinh có tiến bộ rõ rệt, nhà trường tin tưởng vào đội
ngũ giáo viên giảng dạy, và luôn luôn khuyến khích phong trào thi đua nghiên
cứu khoa học trong nhà trường
3. KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT
3.1. Những việc đã hoàn thành của đề tài
Đề tài đã thực hiện được những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu: nêu yêu cầu phát riển năng lực
cho học sinh trong đó có năng lực VDKT vào TT và tầm quan rọng của bài tập
thực tiễn với dạy học phát triển năng lực.
- Tuyển chọn được hệ thống bài tập thực tiễn đưa vào dạy học bài mới có hình
ảnh minh họa trong phạm vi kiến thức Hóa học vô cơ lớp 11 THPT và chỉ ra
cách áp dụng , đưa vào từng bài dạy cụ thể để đạt được yêu cầu phát triển năng
lực VDKT vào thực tiễn.
3.2. Hướng phát triển của đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu, tôi lựa chọn ra hệ thống bài tập thực tiễn đưa vào
dạy học bài mới có hình ảnh minh họa trong phạm vi kiến thức Hóa học vô cơ
lớp 11 THPT, tôi sẽ tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu mở rộng để xây dựng dạng bài
tập này trong phần hữu cơ lớp 11, dùng cho dạng bài ôn tập, dạng bài kiểm tra
và dạng bài dùng cho dạy học tích hợp của từng khối trong chương trình cấp
THPT, làm tài liệu bổ ích cho giáo viên và học sinh.
3.3. Một số đề xuất
- Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn các buổi trao đổi phương pháp giảng dạy
cho toàn thể cán bộ giáo viên đặc biệt chú trọng nhiều hơn nữa phương pháp dạy
học phát triển năng lực .
- Sáng kiến kinh nghiệm có chất lượng nên được công bố rộng rãi.
- Học sinh cần tăng cường học tập theo hướng chủ động tự sáng tạo, tìm tòi, linh
hoạt dưới sự hướng dẫn của giáo viên
- Qua việc nghiên cứu một vấn đề nhỏ này tôi hy vọng cùng các đồng nghiệp có
thể góp phần nhỏđổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn để từng bước phát
6. Lê Thị Kim Thoa(2009), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học
gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT. Luận văn Thạc sĩ Giáo
dục học, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Công Khanh (2013), Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo cách
tiếp cận năng lực. Nxb Đại Học Sư Phạm Hà Nội.
8. Nguyễn Hữu Đĩnh, Đặng Thị Oanh, Đặng Xuân Thơ (2008), Dạy và học hóa
học 11 theo chương trình đổi mới. Nxb Giáo dục.
9. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2016), Phát triển năng lực vận dụng kiến thức thông
qua dạy học phần ancol –phenol-hóa học 11 –THPT. Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo
dục, Đại học Sư phạm Hà Nội.
10. trình giáo dục định hướng
phát triển năng lực
23
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Tên đầy đủ
Bài tập hóa học
Bài tập thực tiễn
Đối chứng
Giáo dục
Giáo viên
Học sinh
Năng lực
Phương pháp dạy học
Thực nghiệm
Thực tiễn
Trung học phổ thông
Vận dụng kiến thức
Kết quả
đánh giá
xếp loại
Năm học
đánh giá
xếp loại
1. Phương pháp giải nhanh bài SỞ GD-ĐT
tập Nhôm và hợp chất của
Nhôm
C
2012
2. Hóa học và môi trường trong SỞ GD-ĐT
dạy học môn hóa học lớp 11
C
2016
25