Pháp luật về lao động là người khuyết tật ở việt nam hiện nay - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THANH TÂM

PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THANH TÂM

PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số

: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT,
LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO
ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT.......................................................................................... 7
1.1. Người khuyết tật........................................................................................................................... 7
1.2. Lao động là người khuyết tật................................................................................................ 11
1.3. Điều chỉnh của pháp luật về lao động là người khuyết tật......................................... 16
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY......................................................................................................................................................... 33
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về lao động là người khuyết tật ở Việt Nam
hiện nay.................................................................................................................................................. 33
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động là người khuyết tật ở Việt Nam
hiện nay.................................................................................................................................................. 44
2.3. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
lao động là người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay................................................................ 54
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.........61
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về lao động là người khuyết tật.........................61
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về lao động là người khuyết tật.............................64
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADA

: The American

Disabilities Ac
ADAAA

Bảng 2.1: Tham gia lực lượng lao động/Participation in labor force.............................47
Bảng 2.2: Tỷ lệ tìm được việc làm của người lao động dựa trên trình độ học vấn...49

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Lý do người khuyết tật không làm việc hoặc không có nhu cầu tìm việc... 48


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là một trong những hoạt động chủ yếu của con người. Ngay từ thuở
sơ khai con người đã ý thức được rằng phải lao động để tạo ra thức ăn duy trì cuộc
sống. Theo thời gian và không gian, xã hội phát triển thì lao động không chỉ đơn
thuần là để tạo ra thức ăn cho bản thân mà sức lao động còn trở thành một loại hàng
hóa đặc biệt được mua bán giữa người lao động và người sử dụng lao động. Có lẽ vì
vậy mà các quy định về lao động của mỗi quốc gia nói riêng và các văn kiện pháp lý
quốc tế hiện đại nói chung luôn dành rất nhiều sự quan tâm cho lĩnh vực lao động.
Mặc dù, tính chất lao động có thể khác nhau giữa công việc này với công việc kia,
sức lao động có thể khác nhau giữa người này với người kia song bất kì ai cũng đều
được quyền tự do lao động nếu họ có đủ khả năng, bao gồm cả người khuyết tật.
Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc/và
tinh thần dẫn đến suy giảm khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.
Chính vì vậy, ở tất cả các quốc gia trên thế giới, người khuyết tật luôn được coi là
thành viên thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương và bị xâm phạm những quyền lợi
chính đáng. Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người khuyết tật, tạo
điều kiện cho họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng là
những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc.
Theo Tổ chức y tế thế giới, hiện nay trên thế giới có hơn 1 tỷ người có khiếm
khuyết về thể chất, cảm giác, trí tuệ hoặc tâm thần dưới các hình thức khác nhau.
Con số này tương đương với khoảng 15% dân số thế giới. Quốc gia nào cũng có
người khuyết tật, và hơn 2/3 trong số đó sống tại các nước đang phát triển [56, tr.8].

Pháp luật về lao động là người khuyết tật là một vấn đề không phải mới nhưng
nó luôn mang tính thời sự và cần được quan tâm, nghiên cứu. Nhất là khi các văn
kiện quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật và lao động là người khuyết tật
được Liên Hợp Quốcvà Tổ chức lao động thế giới thông qua đã thúc đẩy nhiều công
trình khoa học chọn đây là đề tài nghiên cứu. Trong đó, có một số đề tài liên quan
đến nội dung nghiên cứu luận văn của tác giả, cụ thể là:
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam” của

Phạm Thị Thanh Việt, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2009.

2


- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết

việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” của Đinh Thị Nga Phượng, Đại học
quốc gia Hà Nội, năm 2011.
- Luật văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về vấn đề giải quyết việc làm cho

người lao động khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của Trần Thị Tú Anh, Đại học quốc
gia Hà Nội, năm 2014.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Việc làm cho người khuyết tật theo pháp luật

Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Bích Ngọc, Học viện khoa học xã hội, năm 2016.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật lao động về người khuyết tật” của

Nguyễn Thị Hiền, Đại học Luật – Đại học Huế, năm 2016.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật đào tạo nghề cho lao động khuyết tật,

qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế” của Ngô Thùy Khiêm, Đại học Luật – Đại

- Đánh giá thực trạng pháp luật về lao động là người khuyết tật và thực tiễn

thực hiện ở Việt Nam hiện nay.
- Định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật

và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định đó tại Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật về lao động là người khuyết tật và thực tiễn thực hiện các quy định đó tại Việt
Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy phạm pháp luật về việc
làm, học nghề, an toàn lao động, vệ sinh lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi
thông qua các quy định cụ thể của Luật người khuyết tật năm 2010, Bộ luật lao
động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn liên quan đến lao động là người khuyết
tật.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích và hệ thống hóa: phương này này được sử dụng để

tiến hành liệt kê và hệ thống hóa các quy định trong các văn kiện quốc tế, quy định
pháp luật liên quan đến lao động là người khuyết tật để từ đó phân tích, nghiên cứu
sự phù hợp của từng quy định đó. Phương pháp này được sử dụng nhiều ở chương 1
và chương 2.

4


- Phương pháp phân tích luật viết: phương pháp này chủ yếu sử dụng ở



chính sách và pháp luật về lao động là người khuyết tật. Luận văn cũng có giá trị
tham khảo và là nguồn tài liệu hữu ích sử dụng trong các hoạt động nghiên cứu,
giảng dạy pháp luật về lao động là người khuyết tật.

5


7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, bảng biểu thì
Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người khuyết tật, lao động là người

khuyết tật và pháp luật về lao động là người khuyết tật;
- Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về lao động là người khuyết tật và

thực tiễn thực hiện ở Việt Nam hiện nay;
- Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về lao động là

người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

6


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, LAO ĐỘNG
LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Người khuyết tật
1.1.1. Khái niệm

giảm sút một cách rõ rệt, do một sự khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần được
công nhận rõ ràng”.
Ở Việt Nam, khái niệm NKT chỉ mới được sử dụng vào khoảng năm 2006,

còn về trước đó chúng ta sử dụng khái niệm “người tàn tật”, thậm chí gọi gộp
“người tàn tật khuyết tật” để nói về những người bị khiếm khuyết về bộ phận cơ thể
hoặc suy giảm chức năng. Cụ thể, trong Pháp lệnh số 06/1998/PL-UBTVQH10 của
Ủy ban Quốc hội về Người tàn tật, tại Điều 1 có ghi nhận và giải thích: “ Người tàn
tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là
người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới
những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động,
sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Tuy nhiên có thể nhìn thấy rằng, luật pháp
quốc tế không cho rằng cách gọi tàn tật là đúng, vì giữa người tàn tật và NKT là hai
khái niệm khác nhau. Theo quan điểm của Ủy ban về các quyền của người khuyết
tật, NKT trở thành “tàn tật” là vì do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội
và có một cuộc sống giống như thành viên khác của xã hội. Do đó, việc đánh đồng
hai khái niệm “tàn” và “khuyết” là một sẽ làm hạn chế sự tham gia và hòa nhập vào
cộng đồng của người khuyết tật.
Ngày 17.6.2010, Quốc hội chính thức thông qua LNKT thay thế cho Pháp lệnh
về người tàn tật năm 1998, từ đây khái niệm NKT chính thức được thừa nhận và sử
dụng rộng rãi: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt,
học tập gặp khó khăn”. Khái niệm này được sự dụng rộng rãi trong hầu hết các văn
bản điều chỉnh về người khuyết tật sau này, ví dụ như Bộ luật lao động năm 2012,
Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT quy định
về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật. Như vậy, NKT là người khiếm
khuyết về bộ phận cơ thể dẫn đến bị hạn chế trong quá trình tham gia vào các hoạt

8


Hai là, khuyết tật nghe, nói. Khuyết tật nghe, nói là tình trạng suy giảm hoặc

9


mất hoàn toàn chức năng nghe, nói hoặc cả hai, không thể phát âm thành tiếng, câu
rõ ràng và nghe hiểu dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói
với những người xung quanh.
Ba là, khuyết tật nhìn. Khuyết tật nhìn là tình trạng cá nhân bị giảm hoặc mất
khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh
sáng và môi trường bình thường. Tuy nhiên, so với khái niệm này thì người cận thị
nặng cũng có thể xem là NKT vì họ cũng bị giảm về khả năng nhìn, cảm nhận ánh
sáng, màu sắc, sự vật. Theo WHO định nghĩa thì khuyết tật nhìn là tình trạng suy
giảm khả năng nhìn ở một mức độ nhất định gây ra những vấn đề không thể khắc
phục bằng phương tiện hỗ trợ thông thường như kính, mà sau khi điều chỉnh thị lực
tốt nhất kém hơn 20/40 hoặc 20/60 theo thang điểm thị lực [56, tr.20].
Bốn là, khuyết tật thần kinh, tâm thần. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình
trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện
với những lời nói, hành động bất thường.
Năm là, khuyết tật trí tuệ; khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả
năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân
tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc như người thường.
Thứ hai, khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần của NKT phải là
nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm lâu dài về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh
hoạt hằng ngày
Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật (DDA) do Quốc
hội Anh ban hành - nay chỉ có hiệu lực ở Bắc Ireland, khi xét về mặt thời gian tác
động của những khiếm khuyết dẫn đến suy giảm về khả năng thực hiện các hoạt
động, sinh hoạt của NKT thì sự suy giảm đó phải kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài, nếu
ít hơn 12 tháng bình thường thì không được coi là NKT, trừ khi là bị tái phát đi tái

nhu cầu của cá nhân đó và gia đình họ. Thông qua đó, mỗi quốc gia sẽ có những
chính sách hỗ trợ phù hợp để kéo ngắn khoảng cách tham gia vào cộng đồng của
người khuyết tật, giảm thiểu dần đi sự khó khăn bởi các khiếm khuyết tạo ra.
1.2. Lao động là người khuyết tật
1.2.1. Khái niệm lao động là người khuyết tật
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi
các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Theo từ điển Tiếng Việt
năm 2018 do giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên thì: “Lao động là hoạt động có mục

11


đích của con người nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội”
[33, tr.485]. Hay nói cách khác, lao động chính là quá trình kết hợp của sức lao
động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Ngày
nay, con người sử dụng sức lao động của mình không chỉ gói gọn trong việc tạo ra
sản phẩm phục vụ nhu cầu cấp thiết của mình mà còn sử dụng nó để tìm kiếm thu
nhập nuôi sống bản thân và gia đình.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật việc làm 2013 thì: “Người lao động là công dân
Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc”. Và
khoản 1 Điều 3 của BLLĐ năm 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở
lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu
sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Khi có nhu cầu tìm kiếm việc
làm, các cá nhân phải ứng tuyển và đáp ứng các yêu cầu đặt ra của người tuyển
dụng thì mới được tuyển vào doanh nghiệp. Tại đó, quyền và nghĩa vụ phát sinh
giữa người lao động và người sử dụng lao động được thể hiện thông qua một hợp
đồng. Và người sử dụng lao động sẽ phải chi trả một khoản tiền lương xứng đáng
với sức lao động mà người lao động đã bỏ ra. Như vậy, có thể nói lao động không
đơn thuần chỉ dừng lại ở việc tạo ra giá trị phục vụ nhu cầu cần thiết của bản thân,
mà nó còn là nguồn đem lại thu nhập lớn cho cá nhân biết khai thác và sử dụng.

còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng
và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm
khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho
việc chăm sóc người bị thiệt hại”. Theo khoản 2 Điều 3 LNKT năm 2010 thì NKT
được chia thành ba nhóm dựa theo mức độ khuyệt tật gồm có: NKT đặc biệt nặng,
NKT nặng và NKT nhẹ. Từ những phân tích trên, ngoại trừ những NKT mà được cơ
quan có thẩm quyền xác định mức độ khuyết tật làm suy giảm khả năng lao động từ
81% trở lên thì NKT vẫn có đủ khả năng lao động và tiếp ứng công việc theo yêu
cầu đặt ra của người sử dụng lao động.
Thứ ba, phải do chính NKT thực hiện trên thực tế. Quan hệ lao động là quan
hệ tồn tại yếu tố phụ thuộc pháp lý giữa người lao động và người sử dụng lao động
phát sinh thông qua hợp đồng lao động. Trên cơ sở hiệu quả công việc mà người lao
động thực hiện, người sử dụng lao động sẽ trả một khoản tiền công tương ứng.
Chính vì vậy, quan hệ lao động mang tính đích danh, phải do chính người lao động
thực hiện. NKT khi kí hợp đồng và trở thành người lao động, thì phải tự mình thực

13


hiện những công việc được giao theo đúng thỏa thuận.
Ngoài ra, với tính đặc thù là sự khiếm khuyết về thể chất hoặc/và tinh thần
khiến NKT gặp nhiều khó khăn để có thể thực hiện các công việc trong điều kiện và
môi trường làm việc như người bình thường. Theo ILO thì cơ hội có một việc làm
phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó của NKT bị bị hạn chế rất nhiều bởi hậu quả
của các khiếm khuyết. Vì vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có những chính
sách và cơ chế riêng đối với lao động là người khuyết tật. Một phần là để hỗ trợ họ
trong quá trình lao động tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, phần khác làm tốt các
chính sách này sẽ giúp quốc gia đó khai thác và sử dụng nguồn lao động trong xã
hội một cách hợp lý và hiệu quả. Do đó, không doanh nghiệp nào được quyền từ
chối nếu NKT tham gia ứng tuyển và đáp ứng được tất cả các điều kiện tuyển dụng

với điều kiện thông thường thì với họ là rất khó khăn. Do vậy, các quốc gia đều
được Liên Hợp Quốcvà ILO khuyến cáo áp dụng các cải tiến lao động phù hợp để
người lao động được làm việc tốt nhất. Ví dụ như một người bị khuyết tật vận động
sẽ được hỗ trợ các phương tiện chuyên dụng để di chuyển và làm việc trong nông
trại, thông dịch viên phiên dịch cho người khiếm thính.
Hai là, lao động là NKT không thể đảm nhận những công việc nặng nhọc,
nguy hiểm hoặc tiếp xúc với những chất độc hại có tác động không tốt đến các
khiếm khuyết của bản thân.
Người khuyết tật, nhất là NKT có khả năng suy giảm ở mức độ đặc biệt nặng
thì cùng thực hiện một công việc có tính chất như nhau, nhưng NKT có mức độ hao
phí sức lao động và có nhu cầu chăm sóc y tế cao hơn người bình thường [42, tr.69].
Do đó, khả năng phục hồi sức khỏe, tái tạo sức lao động của lao động là NKT đòi
hỏi khoảng thời gian dài hơn so với lao động là người bình thường. Chưa kể, việc sử
dụng lao động là NKT làm việc trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt, độc hại,
công việc có tính chất nặng nhọc và nguy hiểm càng dễ dẫn đến nguy cơ tai nạn lao
động và mất khả năng lao động. Chính vì thế, bảo vệ sức lao động của NKT, không
để họ đảm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với những chất độc
hại có tác động xấu đến các khiếm khuyết của bản thân là một trong những nội dung
quan trọng mà hầu hết các công ước quốc tế và pháp luật quốc gia hướng đến.
Điều 27, Công ước về quyền của người khuyết tật có quy định: “Cấm phân

15


biệt trên cơ sở sự khuyết tật trong mọi vấn đề liên quan đến việc làm, bao gồm điều
kiện tuyển dụng, sự thuê mướn và tuyển dụng, tiếp tục được tuyển dụng, thăng tiến
nghề nghiệp và điều kiện làm việc an toàn và bảo đảm sức khỏe”. Nhà nước phối
hợp với xã hội tạo ra điều kiện lao động an toàn, thân thiện và không cưỡng bức,
bóc lột NKT làm việc trong môi trường khắc nghiệt. Như quy định tại LNKT của
Việt Nam: “Người khuyết tật không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy

quyền tự do lao động, kể cả người khuyết tật. Tuy nhiên, hiện nay cơ hội tìm kiếm
việc làm trong điều kiện và môi trường làm việc thông thường là rào cản đối với
NKT vì họ không thể sử dụng sức lao động hạn chế của mình để tạo ra thành phẩm
như người lao động bình thường được. Theo ADA năm 1990 của Hoa Kì có ghi
nhận: “Sự khiếm khuyết về thể chất hoặc/và tinh thần không là lí do làm giảm quyền
tham gia của một cá nhân vào bất kì khía cạnh nào của xã hội, nhưng nhiều người
đã bị từ chối chỉ vì khuyết tật hoặc có hồ sơ ghi nhận sự khuyết tật” [52, tr.48].
Chính vì lẽ đó, việc Nhà nước ban hành các quy định pháp luật bảo vệ người lao
động là NKT là hết sức cần thiết. Vì bình đẳng về quyền được làm việc không có
nghĩa là tất cả mọi người cùng làm việc dưới một chế độ và điều kiện như nhau, mà
là tạo ra điều kiện phù hợp nhất để bất kì ai dù khỏe mạnh hay khiếm khuyết vẫn
đều có thể dùng sức lao động của mình tạo ra một thành quả lao động ngang nhau.
Và sự đối xử đặc biệt với lao động khuyết tật so với lao động thông thường không
bị coi là phân biệt đối xử giữa những người lao động với nhau. Theo khuyến nghị
111 của ILO về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958 thì mọi

biện pháp đặc biệt nào nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của những người mà việc bảo
vệ hoặc sự trợ giúp đặc biệt đối với họ nói chung được thừa nhận là cần thiết vì
những lý do như là giới tính, độ tuổi, tàn tật, gánh nặng gia đình, trình độ xã hội
hoặc văn hoá đều không xem là sự phân biệt đối xử.
Thứ hai, tạo ra các điều kiện phù hợp để NKT có cơ hội tiếp cận việc làm của
mình một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử.
Trước đây, hầu hết các quốc gia đều xem vấn đề hỗ trợ NKT là một hoạt động
phúc lợi xã hội hoặc hành động nhân đạo từ phía cộng đồng dành cho người khuyết
tật. Tuy nhiên, nhờ vào sự nổ lực đấu tranh của các tổ chức, hiệp hội và đặc biệt là
bản thân NKT mà các quan điểm không đúng đắn trên dần được thay đổi. Ví dụ,
một bệnh nhân khiếm thính tại Úc đã gặp khó khăn trong việc hiểu các nội dung

17



18


xâm phạm hoặc phân biệt đối xử sẽ bị áp dụng các chế tài xử lý.
Thứ ba, giúp NKT có thể tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, không trở thành
gánh nặng của gia đình và xã hội.
Trong suốt một thời gian dài, hầu hết chúng ta đều cho rằng nguyên nhân dẫn
đến tình trạng không có việc làm và thu nhập thấp của NKT là đến từ sự sút kém về
tinh thần và thể chất của họ. Hầu hết những người không khuyết tật đều có thái độ
tiêu cực khi tiếp xúc với người khuyết tật. Xem NKT như là một gánh nặng về mặt
phúc lợi xã hội. Nhưng phải thừa nhận rằng nguyên nhân chính của những bất lợi
mà NKT đang phải đối mặt, cũng như việc họ thường xuyên bị tách biệt khỏi xã hội
không phải do tình trạng khuyết tật của từng cá nhân, mà chính là hậu quả của
những phản ứng tiêu cực xã hội đối với người khuyết tật. Do đó, NKT chưa có
nhiều cơ hội và môi trường để họ thể hiện khả năng của bản thân và tự tin phát huy
trong học tập cũng như lao động. Chính luật pháp và các chính sách đã góp phần tạo
ra các thay đổi tích cực. Theo công ước số 159 của ILO Về phục hồi chức năng lao
động và việc làm (Người khuyết tật) năm 1983 tại Điều 2 quy định: “Mọi Nước
thành viên phải coi mục đích của tái thích ứng nghề nghiệp là làm cho người có
khuyết tật có thể tìm được và duy trì một việc làm thích hợp, có thể tiến bộ được về
mặt nghề nghiệp, và do đó dễ dàng trong việc hòa nhập hoặc tái hòa nhập vào xã
hội”. Được lao động, được có cơ hội tìm kiếm một việc làm tạo ra thu nhập là tiền
đề cho NKT thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của mình. Vì chỉ khi NKT có thể
nuôi sống bản thân bằng sức lao động, không phụ thuộc vào gia đình và xã hội thì
khi đó họ mới đủ tự tin để tham gia vào các hoạt động văn hóa – xã hội tại khu dân
cư mình sinh sống, tại cơ quan nơi mình làm việc.
Thứ tư, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ người lao động là người
khuyết tật, là cơ sở để cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước trong lĩnh vực lao động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status