BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH Ở
VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NGUYỄN THANH MAI
Hà Nội, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH Ở
VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NGUYỄN THANH MAI
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN HIỀN PHƯƠNG
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH ............ 7
1.1.
Một số vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình ................................ 7
1.1.1. Khái niệm lao động giúp việc gia đình ....................................................... 7
1.1.2. Phân loại lao động giúp việc gia đình ....................................................... 12
1.2.
Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình ... 14
1.3.
Nội dung pháp luật về lao động giúp việc gia đình .................................. 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ
LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH .................................................................. 25
2.1
Các quy định pháp luật về lao động giúp việc gia đình ........................... 25
2.1.1
Việc làm và học nghề đối với lao động giúp việc gia đình ....................... 25
2.1.2
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 59
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ............................................................................................................. 60
3.1.
Những yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật lao động giúp
việc gia đình ............................................................................................. 60
3.2
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình ... 62
3.3.
Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động
giúp việc gia đình ...................................................................................... 68
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 73
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLLD
Bộ luật Lao động
GFCD
động giúp việc gia đình.
Ở Việt Nam, Nghị định 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số
điều của Bộ Luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình được ban hành
ngày 7/4/2014 đã “gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng nghề giúp việc gia đình, khi
đảm bảo các yêu cầu quy định, là một nghề chuyên nghiệp, mang lại những lợi ích
đáng kể về kinh tế và xã hội cho các gia đình thuê người giúp việc, cho bản thân
người giúp việc và cả xã hội Việt Nam”. Điều đó thể hiện sự ghi nhận của Chính
phủ rằng nghề giúp việc gia đình mang ý nghĩa quan trọng để các thị trường lao
động có thể vận hành hiệu quả bằng cách tạo điều kiện để phụ nữ làm việc và duy
trì năng suất lao động ngoài gia đình [351]. Cùng với sự phát triển khá nhanh về
kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao trong những năm gần đây,
lực lượng lao động giúp việc gia đình ở nước ta đang có xu hướng tăng, dự báo đến
1
năm 2020 cả nước có 350.000 lao động giúp việc gia đình [32]. Thực tế người làm
công việc giúp việc gia đình ở nước ta không chỉ có phụ nữ mà còn có trẻ em, đa số
xuất thân từ nông thôn và có trình độ học vấn thấp. Ở nước ta, giúp việc gia đình đã
được công nhận là một nghề, sự phát triển của lực lượng này có ảnh hưởng đến cơ
cấu lao động, đặc biệt là ở thành thị nhưng trên thực tế họ phải chịu nhiều thiệt thòi,
chưa được bảo đảm các quyền của mình, chưa được đảm bảo các điều kiện phát
triển nghề nghiệp và bản thân theo quy định của pháp luật lao động. Nhiều lao động
giúp việc gia đình làm việc theo hợp đồng lao động nhưng không đầy đủ nội dung
quy định, tiền lương bị cắt xén và việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội về bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn rất hạn chế. Trong những năm gần đây, các vụ việc
hình sự, xử phạt hành chính và tranh chấp liên quan đến giúp việc gia đình ngày
càng nhiều, nảy sinh nhiều vấn đề trong xã hội liên quan đến lao động giúp việc gia
đình cho thấy công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này cần được quan tâm thực
hiện tốt hơn. Mặc dù các quy định pháp luật về lao động giúp việc gia đình đã có
- Trần Thị Hồng, “Một số vấn đề xã hội của lao động giúp việc gia đình ở đô
thị hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới thuộc Viện Gia đình và giới số 2
năm 2011.
- Nguyễn Thị Vân Anh, “Lao động giúp việc gia đình và những vấn đề đặt ra”,
Tạp chí Lao động và xã hội số 476, năm 2014.
- Lã Trọng Đại, “Những vấn đề nảy sinh trong quan hệ lao động giúp việc gia
đình và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Lao động và xã hội số 487, năm 2014.
- Đào Mộng Điệp, “Pháp luật về lao động là người giúp việc gia đình và kiến
nghị hoàn thiện”, Tạp chí Luật học số 12 năm 2014.
Các luận án, luận văn, khóa luận:
- Nguyễn Thị Lam (2013), Thực trạng lao động là người giúp việc gia đình ở
Việt Nam và một số kiến nghị”, Luận văn thạc sĩ luật học.
- Nguyễn Hữu Long (2014), “Lao động là người giúp việc gia đình theo Bộ
3
luật Lao động 2012”, Luận văn thạc sĩ luật học .
- Phạm Trung Giang (2015), “Lao động giúp việc gia đình theo pháp luật Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học.
- Sầm Thu Lan (2012), “Địa vị pháp lý của người lao động giúp việc gia
đình theo pháp luật lao động Việt Nam và giải pháp hoàn thiện”, Khóa luận
tốt nghiệp.
thực tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình,
các quy định của pháp luật Việt Nam theo Bộ luật lao động năm 2012 về lao động
giúp việc gia đình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động Việt
Nam hiện hành (Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn) về lao động
giúp việc gia đình. Trong giới hạn cho phép, để phục vụ mục đích nghiên cứu, luận
văn có thể có sự tiếp cận văn bản pháp luật trong lĩnh vực khác, ở phạm vi quốc tế
và mức độ nhất định.
Việc thống kê, theo dõi về lao động giúp việc gia đình ở nước ta còn chưa đầy
đủ, lực lượng lao động giúp việc gia đình lại chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn.
Do đó các nội dung nghiên cứu, đánh giá gắn với thực tiễn thực hiện chủ yếu là các
thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh từ khi Bộ luật lao động được
ban hành năm 2012 cho đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,
sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng,
5
Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan hệ lao động.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, phương pháp tổng hợp. Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng
hoặc kết hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu, làm rõ mục đích và nhiệm
vụ nghiên cứu của luận văn.
thì những nô lệ nữ, nô lệ có sức khỏe không phù hợp làm những công việc nặng
nhọc sẽ được giao làm các công việc nhẹ nhàng hơn ở trong nhà của người chủ nô.
Ngày nay, ở các nước phát triển nền kinh tế thị trường đều tồn tại loại hình lao động
GVGĐ và đã trở thành một nghề được xã hội thừa nhận. Trong mối quan hệ đó,
người GVGĐ và người SDLĐ có địa vị pháp lý bình đẳng, quan hệ được tiến hành
trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng, tôn trọng danh dự và nhân phẩm của nhau. Tuy
nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về lao động GVGĐ.
Tại Công ước số 189 được ILO đã thông qua ngày 16/6/2011 tại Geneva Thụy Sĩ về “Việc làm bền vững cho lao động GVGĐ” đã nêu “lao động GVGĐ là
bất cứ người nào được thuê để làm công việc GVGĐ trong mối quan hệ thuê
mướn”. Theo đó, lao động GVGĐ trước hết phải là người thực hiện công việc gia
đình, cũng theo Công ước này, “công việc GVGĐ nghĩa là công việc được thực hiện
trong hoặc cho một hộ gia đình hoặc các hộ gia đình”, đó có thể là: chăm sóc trẻ
em; chăm sóc người bị ốm đau, bị khuyết tật thể xác hoặc tinh thần hoặc suy yếu do
tuổi già; quét dọn, lau chùi, giặt giũ;… Đây đều là những công việc gắn liền với
cuộc sống sinh hoạt của bất cứ hộ gia đình nào. Do đó đặc trưng quan trọng của lao
động GVGĐ đó là phải thực hiện công việc một cách thường xuyên và mang tính
nghề nghiệp, được nêu tại Điều 1 Công ước số 189 của ILO là “một người thực hiện
7
công việc gia đình một cách thất thường hoặc không thường xuyên và không mang
tính nghề nghiệp không phải là một người lao động gia đình”.
Các quốc gia trên thế giới cũng có các định nghĩa khác nhau, thể hiện cách
tiếp cận chính sách và luật pháp khác nhau đối với lao động GVGĐ, chủ yếu ở
phạm vi công việc của lao động GVGĐ và tính chất hỗ trợ thương mại trong việc sử
dụng lao động GVGĐ. Một số quốc gia như Uruguay, Thụy Sĩ đưa những tiêu
chuẩn lao động GVGĐ tập trung vào nhiệm vụ dẫn đến “lợi ích trực tiếp” của người
sử dụng lao động, bao gồm cả lợi ích thương mại. Một số quốc gia như Argentina,
Malaysia, Brazil, Việt Nam loại trừ sử dụng lao động GVGĐ trong công việc tìm
lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người SDLĐ”, đồng thời
đó là nhưng người làm công việc trong gia đình một cách thường xuyên. Có thể
thấy pháp luật lao động Việt Nam đưa ra quy định về lao động GVGĐ tương đối
phù hợp với quan điểm của ILO về lao động GVGĐ.
* Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình
Thứ nhất, lao động GVGĐ là người làm công việc gia đình một cách thường
xuyên trong hộ gia đình.
Công việc mà lao động GVGĐ làm có phạm vi thực hiện trong hộ gia đình.
Công việc gia đình được hiểu là các công việc chăm sóc gia đình. Pháp luật mỗi quốc
gia có thể quy định khác nhau về công việc mà lao động GVGĐ làm trong hộ gia đình.
Theo Đạo luật về việc làm số 265 năm 1955 của Malaysia thì “Họ có thể là người nấu
cơm, lau dọn nhà cửa, quản gia, chăm sóc trẻ, làm vườn, giặt giũ, bảo vệ, lái xe hoặc là
rửa xe của gia đình đó”[11, tr7]. Trong Quy chế tiền lương của bang California, Mỹ thì
đưa ra những ví dụ về “những nghề trong hộ gia đình” như: nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa,
bảo mẫu, chăm sóc bệnh nhân, v.v... Đạo luật về việc làm số 265 năm 1955 của
Malaysia đưa ra định nghĩa về lao động GVGĐ (theo cách gọi của nước này là
“domestic servant”), theo đó “Họ có thể là người nấu cơm, lau dọn nhà cửa, quản gia,
chăm sóc trẻ, làm vườn, giặt giũ, bảo vệ, lái xe hoặc là rửa xe của gia đình đó” [10,tr.7].
Công việc mà lao động GVGĐ có tính chất thường xuyên, tức là được lặp đi
lặp lại theo một khoảng thời gian nhất định, có thể là hằng giờ, hằng ngày, hằng
tuần hoặc hằng tháng tùy theo thỏa thuận giữa người lao động và chủ hộ gia đình
khi ký kết hợp đồng lao động. Lao động GVGĐ có thể là lao động làm việc toàn
9
thời gian hoặc bán thời gian. Những người GVGĐ làm việc toàn thời gian sẽ sống
cùng với hộ gia đình thuê giúp việc, do đó họ phải làm các công việc gia đình hằng
giờ, hằng ngày. Những lao động GVGĐ bán thời gian thì tùy thuộc vào nhu cầu
thuê giúp việc của từng hộ gia đình mà họ có thể làm việc tính theo số tiếng trong
đặc điểm lao động GVGĐ có thể làm việc toàn thời gian hoặc làm việc bán thời
gian, theo giờ trong một gia đình nên người lao động GVGĐ có thể làm việc trong
một hoặc nhiều hộ gia đình nếu như họ có thể sắp xếp, đảm bảo được công việc
theo thỏa thuận với người SDLĐ. Đây cũng là quyền tự do lao động của lao động
GVGĐ, họ có thể lựa chọn thỏa thuận với nhiều hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu của
người SDLĐ đồng thời có nhiều cơ hội tăng thu nhập. Có những người SDLĐ
không có nhu cầu thuê lao động GVGĐ toàn thời gian vì khối lượng công việc
không nhiều, có thể sắp xếp thu gọn để giảm mức tiền lương phải trả cho NLĐ.
Thậm chí, có những người SDLĐ lại không cảm thấy thoải mái, tự nhiên trong ngôi
nhà của mình khi có sự xuất hiện của lao động GVGĐ một cách thường xuyên vì dù
sao họ vẫn là người lao động làm thuê. Do đó, những người này thường ưu tiên lựa
chọn lao động GVGĐ bán thời gian.
Bốn là, lao động GVGĐ chủ yếu là nữ, có trình độ học vấn thấp, xuất thân từ
nông thôn.
Công việc của lao động GVGĐ là những việc phục vụ sinh hoạt hàng ngày
trong gia đình, vì thế nó thường không phải là các công việc nặng nhọc, thậm chí
còn đòi hỏi sự khéo léo, tỷ mẩn, phù hợp với lao động nữ. Điều này phù hợp với lý
thuyết về phân công lao động xã hội và quan niệm của nhiều người trong xã hội
rằng công việc trong gia đình là công việc của phụ nữ. Thực tế theo thống kê của
ILO, trong khoảng 53 triệu người làm nghề GVGĐ thì phụ nữ chiếm đến 83% [33].
Công việc phục vụ sinh hoạt trong gia đình có tính chất không quá phức tạp do
đó thông thường không đòi hỏi người lao động GVGĐ phải có trình độ chuyên môn
kỹ thuật. Đa số vẫn coi lao động GVGĐ là công việc thấp hèn, thường chỉ có những
người sống ở nông thôn và có trình độ học vấn thấp mới chấp nhận làm. Cũng vì
quan niệm này mà nhiều người sống tại các thành thị dù khó khăn về kinh tế cũng
không chấp nhận làm công việc GVGĐ. Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên
11
tránh được những tâm lý khi phải xa gia đình nhưng cũng là yếu tố khó khăn, tạo
nên sự thiếu rõ ràng, rành mạch trong công việc, việc xác định thời giờ làm việc,
- Lao động GVGĐ làm việc bán thời gian (theo giờ, theo buổi): Căn cứ thỏa
thuận với người SDLĐ, lao động GVGĐ có thể làm việc một vài giờ trong một
ngày, vài buổi trong một tuần hay thậm chí chỉ một buổi trong một tuần. Công việc
này được lặp lại thường xuyên, liên tục trong một khoảng thời gian nhất định. Lao
động GVGĐ bán thời gian thường là những người nhanh nhẹn, làm việc cho nhiều
hộ gia đình do đó họ phải có khả năng sắp xếp công việc, đảm bảo hoàn thành công
việc theo đúng thời gian thỏa thuận với từng hộ gia đình. Lao động GVGĐ bán thời
gian phải tự lo nơi ăn, chốn ngủ cho mình nên thường là những người có nhà ở, gia
đình gần nơi làm việc hoặc ở trọ, là những người ưa tự do, tự chủ trong công việc
và sinh hoạt. Ưu điểm của lao động GVGĐ bán thời gian là ít xảy ra những xung
đột hay mâu thuẫn giữa hộ gia đình SDLĐ và người giúp việc, bởi lẽ thời gian làm
việc, thời gian tiếp xúc với các thành viên trong hộ gia đình ít hơn so với lao động
GVGĐ toàn thời gian. Hạn chế của lao động GVGĐ bán thời gian là đòi hỏi cả hai
bên tham gia quan hệ lao động phải luôn có kế hoạch, công việc cụ thể rõ ràng cho
thời gian làm việc của người lao động, hạn chế sự tùy tiện.
* Theo nhóm công việc gia đình
Tùy thuộc vào phạm vi công việc GVGĐ theo pháp luật mỗi nước mà có thể
phân nhóm công việc gia đình khác nhau. Có quốc gia coi bảo vệ là công việc
GVGĐ nhưng có quốc gia lại coi đây là một loại công việc, nghề nghiệp riêng, có
quốc gia lại coi công việc quản gia đồng nghĩa với công việc nội trợ… Phân loại về
Việc làm theo tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO năm 1988 (ISCO-88) đưa ra một
danh sách công việc cụ thể mà người lao động giúp việc gia đình đảm nhiệm thuộc
các nhóm công việc 5121 (quản gia), 5122 (nấu ăn), 5131 (chăm sóc trẻ em), 5133
(chăm sóc thành viên tại nhà), 5169 (bảo vệ), 9152 (trông coi nhà cửa), 6113 (làm
vườn). Trong mỗi nhóm này sẽ bao gồm một số công việc. Tuy nhiên, trong cách
phân loại này các công việc không dễ tách rời nhau, một số công việc còn gần như
Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng, năm 2020 thị trường lao động
GVGĐ nội địa có thể lên tới 350.000 người [31].
14
Sự phát triển của lực lượng lao động GVGĐ cũng giải phóng cho nhiều người
lao động khác. Khi người SDLĐ thuê mướn lao động GVGĐ, nhờ có người GVGĐ
đảm nhận các công việc gia đình, họ có nhiều sức khỏe và thời gian hơn để tham gia
các hoạt động tạo ra thu nhập, cùng với đó cũng tạo ra lợi ích cho sự phát triển cá
nhân của họ và xã hội. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của lao động GVGĐ,
nhà nước cần có chính sách bảo vệ, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các quan hệ
lao động, tận dụng mọi tiềm năng lao động và hơn nữa là góp phần tăng thu nhập
cho bản thân người lao động GVGĐ và gia đình họ trong điều kiện trợ cấp xã hội,
phúc lợi xã hội còn hạn chế. Việc thực thi pháp luật về lao động GVGĐ một cách
nghiêm túc sẽ góp phần tạo sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Các quy
định pháp luật về lao động GVGĐ tạo cơ sở tạo việc làm cho một bộ phận người lao
động không có cơ hội, khả năng tìm được việc làm ổn định, đặc biệt là lao động ở
nông thôn, trình độ thấp, vốn hiểu biết hạn chế.
Hai là, xuất phát từ vị trí và tính chất công việc GVGĐ, pháp luật cần có
những quy định riêng cho lao động GVGĐ khi tham gia quan hệ lao động.
Lao động GVGĐ ở khu vực việc làm phi chính thức nhưng lại thuộc một trong
những nhóm người lao động yếu thế nhất. Trong quan hệ lao động nói chung, người
lao động đã ở vị trí yếu thế so với người SDLĐ nhưng đối với lao động GVGĐ, vị
thế của họ lại càng yếu thế hơn. Làm việc trong phạm vi hộ gia đình, bị giới hạn về
phạm vi không gian nên điều kiện làm việc, an toàn lao động, hay các tiêu chuẩn lao
động khác đối với lao động GVGĐ được đảm bảo ở mức độ nào phụ thuộc nhiều
vào người SDLĐ và khó có thể nắm bắt được. Pháp luật về lao động GVGĐ là cơ
sở để đảm bảo việc thực hiện các cam kết giữa người SDLĐ và người lao động
GVGĐ. Đồng thời nó ủng cố thêm hành lang pháp lý, đảm bảo một số quyền của
khó khăn, tạo sự ổn định cho lực lượng lao động này.
Ngay cả khi công việc lao động GVGĐ được công nhận là một nghề thì những
kỹ năng nghề của họ cũng bị đánh giá thấp. Không ít người cho rằng khả năng làm việc
nhà là thiên chức tự nhiên của phụ nữ, và những kỹ năng đó không cần phải học, cũng
không mấy giá trị. Điều này có nguồn gốc sâu xa từ nhận thức mang tính truyền thống
và định kiến về vai trò của phụ nữ và việc nhà. Nhằm giúp lao động GVGĐ thực hiện
được quyền làm việc, phát triển nghề nghiệp, pháp luật còn quy định về đào tạo nghề
16
đối với GVGĐ. “Học nghề được hiểu là quá trình trong đó diễn ra các hoạt động học
tập, làm quen, rèn luyện... của người học (theo sự hướng dẫn của người dạy nghề)
nhằm đạt được trình độ nhất định về nghề nghiệp, nắm bắt kỹ năng thực hành một
nghề nhất định, nâng cao trình độ tay nghề...”[8, tr 203]. Vấn đề học nghề cho lao
động GVGĐ bao gồm học nghề để làm công việc GVGĐ và cả học nghề để làm
công việc không phải là công việc GVGĐ. Học nghề để làm công việc GVGĐ được
hiểu là người lao động được đào tạo các kỹ năng để làm công việc GVGĐ, được
diễn ra trước khi người lao động làm việc cho người SDLĐ. Học nghề để làm công
việc không phải công việc GVGĐ có thể diễn ra trong quá trình lao động GVGĐ
làm việc cho người SDLĐ. Đối với những lao động GVGĐ làm toàn thời gian, việc
họ tham gia học một nghề khác phải căn cứ vào thỏa thuận, được sự chấp thuận của
người SDLĐ. Đối với lao động GVGĐ bán thời gian, theo giờ thì họ có thể tham
gia học nghề để làm công việc khác theo nguyện vọng cá nhân và khả năng thu xếp
tài chính, thời gian để theo học.
* Hợp đồng lao động giúp việc gia đình
Hợp đồng lao động giữa người GVGĐ và người SDLĐ là sự thỏa thuận về
việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong
quan hệ lao động. Hợp đồng lao động chính là căn cứ để các bên xác lập mối quan
hệ lao động cũng như giải quyết các quyền và nghĩa vụ khi tranh chấp phát sinh.
phải quy định về việc chấm dứt hợp đồng lao động GVGĐ phù hợp với đặc điểm
của quan hệ lao động GVGĐ, người lao động GVGĐ.
* Quy định về điều kiện sử dụng lao động GVGĐ
Điều kiện sử dụng lao động là tổng hợp các yếu tố đảm bảo cho việc khai thác,
sử dụng lao động. Điều kiện sử dụng lao động có tác động trực tiếp đến sức khoẻ
người lao động, đến năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động. Trên phương diện
lý luận, điều kiện sử dụng lao động được pháp luật lao động quy định trước tiên và
chủ yếu bao gồm các nội dung về tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động GVGĐ
Điều kiện SDLĐ đối với lao động GVGĐ được quy định trên cơ sở các quy
định chung về điều kiện sử dụng lao động áp dụng đối với mọi quan hệ lao động.
Tuy nhiên, pháp luật quốc tế cũng như quốc gia đều quy định những điều kiện riêng
18